Đề tài: Mối liên hệ giữa dân số và môi trường - Pdf 10

Bài Luận
Đề tài:
Mối lien hệ giữa dân số và môi trường
Trang 1
MC LC
LI M U 2
I. KHI QUT V DN S 3
1.1. Dõn s v s gia tng dõn s 3
1.1.1. Gia tng t nhiờn 3
1.1.2. Gia tng c hc 4
1.1.3. Gia tng dõn s 5
1.2. Gia tng dõn s trờn th gii v Vit Nam 5
1.2.1. Gia tng dõn s th gii 5
1.2.2. Gia tng dõn s ca Vit Nam 5
II. TC NG CA DN S LấN TI NGUYấN V MễI TRNG 6
2.1. Mi tng quan gia dõn s, ti nguyờn v mụi trng 6
2.1.1. Cụng thc chung 6
2.1.2. Túm tt cỏc nh hng 8
2.1.2.1 Dõn s lờn ti nguyờn 8
2.1.2.2 Dõn s lờn ụ nhim 8
2.1.2.3 Ti nguyờn lờn dõn s 8
2.1.2.4 Ti nguyờn lờn ụ nhim 8
2.1.2.5 ễ nhim lờn dõn s 8
2.1.2.6 ễ nhim lờn ti nguyờn 8
2.2. Cỏc tỏc ng c th 9
2.2.1. Cn kit ti nguyờn 9
2.2.1.1. Cn kit ti nguyờn t 11
2.2.1.2. Cn kit ti nguyờn nc 12
2.2.1.3. Suy gim ti nguyờn rng, a dng sinh hc 14
2.2.2. ễ nhim mụi trng 16
2.2.2.1. ễ nhim khụng khớ 18

1.1.1. Gia tăng tự nhiên
Sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hoặc giảm đi) là do hai nhân tố chủ yếu quyết định:
sinh đẻ và tử vong.
a) Tỉ suất sinh thô
Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở
cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰). Đây là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh
giá mức sinh.
Trong đó: S: tỉ suất sinh thô
s: số trẻ em sinh ra trong năm
D
tb
: dân số trung bình
Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và không gian,
trong đó quan trọng nhất là các yếu tố tự nhiên – sinh học, phong tục tập quán và tâm lí xã hội,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách phát triển dân số của từng nước.
b) Tỉ suất tử thô
Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời
điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰).
Trong đó: T: tỉ suất tử thô
t: tổng số người chết trong năm
D
tb
: dân số trung bình
Tỉ suất tử thô trên toàn thế giới nói chung, ở các khu vực và trong từng nước nói riêng có xu
hướng giảm đi rõ rệt so với thời gian trước đây nhờ các tiến bộ về mặt y tế và khoa học – kỹ
thuật, nhờ sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nhờ các điều kiện sống, mức sống và thu
nhập ngày càng được cải thiện. Các nguyên nhân dẫn tới tỉ suất tử thô cao chủ yếu là kinh tế -
xã hội (chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật…) và thiên tai (động đất, núi lửa, hạn hán, bão lụt…).
Trang 4
tb

biện pháp ưu đãi cho gia đình đông con…
1.1.2. Gia tăng cơ học
Con người không chỉ sinh sống trên một lãnh thổ cố định. Do những nguyên nhân và mục đích
khác nhau, họ phải thay đổi nơi cư trú, di chuyển từ một đơn vị hành chính này sang một đơn
vị hành chính khác, thay đổi chỗ ở thường xuyên trong một khoảng thời gian xác định. Gia
tăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư (những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (những
người đến nơi cư trú mới). Sự chênh lệch giữa số người xuất cư và số người nhập cư được gọi
là hiện tượng gia tăng cơ học.
Trên phạm vi toàn thế giới, gia tăng cơ học không ảnh hưởng đến số dân, nhưng đối với từng
khu vực, từng quốc gia và từng địa phương thì nhiều khi nó lại có ý nghĩa quan trọng, làm thay
đổi số lượng dân cư, cơ cấu tuổi, giới và các hiện tượng kinh tế - xã hội.
Trang 5
g
T S T
= −
1.1.3. Gia tăng dân số
Đây là thước đo phản ánh trung thực, đầy đủ tình hình biến động dân số của một quốc gia, một
vùng. Nó được thể hiện bằng tổng số giữa tỉ suất gia tăng tự nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học
(tính bằng %). Mặc dù gia tăng dân số bao gồm hai bộ phận cấu thành, song động lực phát
triển dân số vẫn là gia tăng tự nhiên.
1.2. Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Gia tăng dân số thế giới
Hiện nay, dân số thế giới gia tăng hàng năm thêm khoảng 90 triệu người, với tỉ lệ gia tăng là
1,7%. Tỉ lệ gia tăng này khác biệt lớn tùy theo trình độ phát triển của các nước. Các nước công
nghiệp phát triển, tức là các nước giàu thì tỉ lệ này là 0,5%/năm; còn đa số các nước nghèo là
2,1%/năm.
Năm 1950, số lượng người sống ở thành phố chỉ bằng 1/3 của năm 1990 (2,5 tỉ người). Khi ở
các nước phát triển, dân số đô thị chỉ tăng gấp 2 lần thì các nước đang phát triển tăng lên 5 lần
trong cùng thời gian. Bước vào thế kỉ XXI, dân số thế giới đã vượt quá 6 tỉ người. Theo ước
tính 2006 của Cục Dân số LHQ, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,5 tỷ người trong 43 năm tới, từ

1941
1951
1955
1965
1975
1985
1995
2005
15,5
17,7
20,9
23,1
25,1
35,0
47,6
59,9
72,0
83,1
-
2,2
3,2
2,2
9,9
12,6
12,3
12,1
11,1
-
1,33
1,66

γ ≤ 1,0.
γ = 1,0 khi con người biết khai thác tài nguyên một cách có khoa học và biết
cách tái tạo tài nguyên.
γ < 1,0 khi con người không biết cách tái tạo tài nguyên và khai thác tài nguyên
không khoa học, không hợp lý.
Công thức (2): Tác động môi trường của sự gia tăng dân số có thể mô tả bằng công thức đơn
giản hơn như sau:
I= C.P.E
Trong đó:
C: Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người.
P: Sự gia tăng tuyệt đối dân số thế giới.
E: Sự gia tăng tác động đến môi trường của một đơn vị tài nguyên được loài
người khai thác.
I: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số và các yếu tố liên quan đến dân
số.
Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới biểu hiện ở các khía
cạnh:
Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trái Đất do khai thác quá mức các nguồn
tài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công
nghiệp, v.v
Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong
các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.
Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá và các nước đang
phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở
các nước công nghiệp hoá. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các
nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức.
Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường
khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng. Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây
xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư. Ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng
lên. Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị ngày càng khó khăn.

2.1.2.6 Ô nhiễm lên tài nguyên
Ô nhiễm một môi trường có thể gây thiệt hại lên môi trường khác. Các luật mới nhằm làm
giảm ô nhiễm có thể thay đổi sự cung cầu, khai thác và sử dụng tài nguyên.
Nhìn chung, sự đông dân khiến người ta sử dụng nhiều tài nguyên hơn và làm suy thoái môi
trường nhiều hơn. Chừng nào chúng ta chưa thay đổi cách sống, chưa ngừng hủy hoại môi sinh
và các sinh vật khác thì sự sống sót và sự phát triển cuả chúng ta còn bị nhiều nguy cơ.
Trang 9
Các thành phố và thị trấn càng phát triển thì càng phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tài
nguyên cũng như tác động môi trường - mà người ta thường gọi là “dấu chân sinh thái”. Dấu
chân sinh thái của London, Vương quốc Anh rộng gấp 120 lần diện tích thành phố này. Một
thành phố cỡ trung bình của Bắc Mỹ với số dân 650.000 người cần diện tích đất là 30.000 km
2
để phục vụ các nhu cầu của thành phố. Trái lại, một thành phố có diện tích tương tự nhưng
kém khả giả hơn ở Ấn Độ chỉ cần 2.800 km
2
. Từ 1950, tổng mức tiêu thụ nhiên liệu đã tăng
500%. Mức tiêu thụ nước tăng gấp đôi tính từ 1960 và công suất đánh bắt hải sản tăng gấp 4
lần.
Một thành phố với 10 triệu dân, như Manila, Cairo hoặc Rio de Janeiro- mỗi ngày phải nhập ít
nhất là 6.000 tấn thực phẩm. Hơn một nửa lượng nước ngọt khai thác cho con người được sử
dụng để cung cấp cho các khu đô thị: công nghiệp, nước uống và sinh hoạt, hoặc tưới nước cho
cây trồng. Có tới 65% lượng nước sử dụng để tưới bị thất thoát. Nhiệt độ không khí ở đô thị có
thể nóng hơn các vùng nông thôn xung quanh tới 5
o
C một khi thảm che phủ đất tự nhiên bị
thay thế bằng đường sá và các toà nhà.
2.2. Các tác động cụ thể
2.2.1. Cạn kiệt tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong
tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống. Tài nguyên

- Ít nhất một phần tư trữ lượng thuỷ sản đã bị khai thác quá mức. Tại một số nơi, sản lượng
đánh bắt hiện thấp hơn 100 lần so với trước khi đánh bắt công nghiệp. Số lượng động vật sống
trên cạn, nguồn nước và các loài sinh vật biển đã được con người sử dụng hết 40% từ năm
1970-2000.
- Kể từ 1980, khoảng 35% các khu rừng ngập mặn đã biến mất, 20% các rạn san hô thế giới bị
huỷ hoại và 20% khác bị suy thoái trầm trọng.
- Sự tiêu thụ nguồn nhiên liệu liệu như than, khí và dầu lửa cũng tăng khoảng 700% từ năm
1961-2000.
Một số tài nguyên điển hình bị cạn kiệt có thể kể ra như sau:
2.2.1.1. Cạn kiệt tài nguyên đất
Đất là nguồn tài nguyên vô giá đang bị xâm hại nặng nề. Diện tích đất đai bình quân trên một
đầu người ngày càng thu hẹp dần mà nguyên nhân cơ bản nhất chính là vấn đề tăng dân số một
Trang 11
cách nhanh chóng trên toàn thế giới, trong đó các quốc gia đang phát triển và kém phát triển là
có tỉ lệ tăng dân số mạnh mẽ nhất.
Diện tích đất phân bố rất không đồng đều trên toàn thế giới: hiện nay, diện tích các thành phố
trên thế giới chiếm 0,3% diện tích Trái Đất và 40% dân số thế giới. Diện tích trên Trái Đất với
hơn 70% là đại dương còn lại là đất liền nhưng con người chỉ cư trú được với một diện tích
chiếm 32% diện tích đất liền, mặt khác dân số lại phân bố không đồng đều ở các quốc gia. Các
nước kém phát triển hoặc đang phát triển thì có mật độ dân số cao hơn nhiều so với các quốc
gia phát triển.
Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có khoảng 10 ha đất trở
thành sa mạc. Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm nhanh từ 0,5 ha/người xuống còn 0,2
ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ còn khoảng 0,14 ha/đầu người. Ở Việt Nam, số
liệu thống kê cho thấy sự suy giảm đất canh tác, sự suy thoái chất lượng đất và sa mạc hoá
cũng đang diễn ra với tốc độ nhanh. Xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, mặn hoá, phèn hoá, v.v.
đang xảy ra phổ biến ở nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33 triệu ha đất tự nhiên
được coi là “có vấn đề suy thoái”.
Bảng 2.1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới(ha/người)
Năm

47,6
53,7
59,7
65,7
74
4,7
5,6
7,0
6,8
7,1
7,0
0,19
0,12
0,13
0,11
0,105
0,095
2.2.1.2. Cạn kiệt tài nguyên nước
Nước vừa là một nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là nguồn tài nguyên đặc
biệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những nhu cầu đang ngày càng tăng của con
người. Trong tổng lượng nước của toàn thế giới, có tới 97% là nước mặn và trong số 3% nước
ngọt có thể sử dụng, có tới 70% tồn tại dưới dạng băng ở hai vùng cực và tuyết trên những
đỉnh núi cao. Nước ngọt có thể sử dụng chỉ chiếm 1% tổng lượng nước toàn cầu. Về mặt địa lí,
sự phân bố của nước là không đồng đều. 15% lượng nước ngọt toàn cầu được giữ tại khu vực
Amazon. Ngay trong khu vực Địa trung hải, các nước giàu về tài nguyên nước (Pháp, Ý, Thổ
Nhĩ Kì, Nam Tư cũ) chiếm tới 2/3 lượng nước toàn khu vực. Tình trạng này dẫn đến sự phân
hóa những nước giàu và nghèo tính theo tỉ lệ tài nguyên nước trên đầu người: giao động từ
chưa đến 100m
3
/năm đến 10.000m

20 con sông lớn nhất thế giới hiện đang bị các con đập ngăn chặn.
Hậu quả là 1/5 chủng loài cá hoặc đã tiệt chủng hoặc đang bên bờ tuyệt chủng. Sông Jordan
(bang Utah, Mỹ) và sông Rio Grande được xem là 2 con sông cạn nhất so với chiều dài của nó.
Tại Anh, 1/4 tổng số 160 con sông của nước này đang cạn dần do quá nhiều nhà cửa và do các
ngành nông nghiệp, công nghiệp phát triển tạo ra nhiều chướng ngại vật.
Tại Việt Nam, lượng nước sẵn có trên đầu người ngày càng giảm đi. Cùng với sự phát triển
kinh tế - xã hội, sự gia tăng dân số với tỷ lệ tăng dân số hàng năm 1,7% ở nước ta, nhu cầu sử
dụng nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế tăng lên không ngừng trong khi đó tài nguyên
nước trong tự nhiên là có hạn chính vì thế lượng nước sẵn có theo đầu người có xu hướng
giảm dần theo thời gian.
Năm 1943 lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam là 16.641 m
3
/người, nếu dân số
nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2467 m
3
/người, năm xấp xỉ với những quốc gia
Trang 14
hiếm nước. Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam chỉ khoảng
3.840m
3
/người/năm, thấp hơn 160m
3
so với quy định của thế giới (trên 4.000m
3
/người/năm).
2.2.1.3. Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học
Không gian sống của con người luôn luôn cần mở rộng. Do đó con người luôn giành giật với
sinh vật mà điển hình nhất chính là tình trạng phá rừng diễn ra khắp nơi trên thế giới.
Nhiều diện tích đất rừng bị phá hoại nghiêm trọng. Con người phá rừng với các mục đích mở
rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực, trong đó những người

Cùng với rừng, đa dạng sinh học cũng đóng vai trò quan trọng đối với con người và thiên
nhiên. Từ nhiều thập kỷ nay, hoạt động của con người đã tác động mạnh tới thế giới sinh vật,
được xem là tương đương hoặc thậm chí lớn hơn nhiều so với các đợt tuyệt chủng lớn nhất
trong thời tiền sử. Hơn 11.000 loài động vật và thực vật hiện đang đứng trước nguy cơ bị tiệt
chủng, 12% loài chim, 25% loài động vật có vú, 32% loài lưỡng cư v.v đang có nguy cơ
tuyệt chủng, khoảng 1/3 dải san hô sẽ biến mất trong vòng 30 năm tới. Tốc độ giảm đa dạng
Trang 16
sinh học do hoạt động của con người trong 50 năm qua nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào trong
lịch sử và số loài động thực vật tuyệt chủng trong 100 năm qua đã tăng cao gấp 1.000 lần.
Trữ lượng cá trên thế giới đã giảm tới 90% so với thời kỳ bắt đầu khai sinh ngành công nghiệp
đánh cá. Các loài cá nước ngọt đang bị đe doạ tuyệt giống với khoảng 20% của chúng ở 20
nước đã được IVCN-Sách Đỏ của Liên Minh Bảo tồn Thế giới đánh giá một cách toàn diện.
Vào khoảng 35% các loài rùa cũng bị đe doạ như vậy.
Việt Nam là nước có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ 10 thế giới nhưng tốc độ suy giảm
được xếp vào loại nhanh nhất. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị xâm phạm, suy giảm diện tích.
Trong không đầy 50 năm, diện tích rừng ngập mặn suy giảm gần 3/4. Sự giảm sút nhiều loài
động vật trên đồng ruộng đã làm mất cân bằng sinh thái, dẫn đến bùng phát dịch bệnh. Hiện
Việt Nam còn trên 800 loài động vật và thực vật hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng, dễ bị tổn
thương hay đang bị đe dọa.
2.2.2. Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi chất lượng môi trường theo chiều hướng tiêu cực đối với
mục đích sử dụng môi trường. Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi
trường, vi phạm tiêu chuẩn MT. Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho MT trở thành độc
hại.
Môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm bởi các loại chất thải do hoạt động cuả con người.
Dân số càng tăng thì mức độ ô nhiễm càng cao và chính con người là chủ thể tạo ra ô nhiễm do
các hoạt động của mình. Rác thải, nước thải và các khí thải từ các khu dân cư, nhà máy công
sở, trường học, bệnh viện hàng ngày làm cho môi trường ngày càng xấu đi. Trong các loại chất
thải, có nhiều chất rất độc, khó hay không bị phân hủy sinh học.
Một ví dụ, ở Thái Lan có 80 ngàn nhà máy, trong đó có 20 ngàn nhà máy nằm ở Bangkok và

-Ôtô chạy dầu
diezen
-Máy bay
-Tàu hỏa và các loại
khác
Cộng
53,5
0.2
2.4
2,0
58,1
0,5
0.3
0.0
0,4
1,2
0,2
0.1
0.0
0,5
0,8
13,8
0.4
0.3
0,6
15,1
6,0
0.5
0.0
0,8

0,2
8.8
3. Quá trình sản
xuất công nghiệp
8.8 6.8 6.6 4. 2 0.2
4. Xử lý chất thải
rắn
7.1 1.0 0.1 1.5 0.5
5. Hoạt động khác
-Cháy rừng
-Đốt các sản phẩm
-Đốt rác thải
-Hàn đốt xây dựng
Cộng
6,5
7.5
1.1
0.2
5.3
6,1
2.2
0.4
0.1
8.8
0.0
0.0
0.5
0.0
0.5
2.0

Dân số và lượng rác tỷ lệ thuận với nhau, tuy với hệ số rất cao. Theo một nghiên cứu thì tỷ lệ
tăng dân số (tự nhiên) khoảng 2%/năm, trong khi tỷ lệ tăng rác lại đến 30-40%/năm, như vậy
có thể xác định dân số cứ tăng 1% thì lượng rác tăng tương ứng 15-20% (cách tính trên chưa
xét đến yếu tố tăng dân số cơ học). Các thành phố có thể phải chi đến hơn 30% ngân sách để
tiêu huỷ chất thải, chủ yếu chi phí cho việc vận chuyển. Các khoản chi này thường đội lên rất
nhiều do diện tích đất thích hợp bị thu hẹp khi mà các khu đô thị mở rộng và giá đất tăng lên.
Chi phí quản lý chất thải rắn ở các nước đang phát triển có thể lên tới 50% ngân sách hàng
năm. Ngoài ra, còn thiếu cơ sở hạ tầng để xử lý an toàn chất thải. Khoảng 30% đến 60% lượng
chất thải rắn đô thị không được thu gom và chỉ có dưới 50% dân số đô thị được cung cấp dịch
vụ thu gom.
2.2.2.1. Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất trong khí quyển sinh ra từ hoạt động của con
người hoặc các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn và thời gian đủ lâu, chúng sẽ ảnh
hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khỏe hoặc lợi ích của con người hoặc môi trường.
Các hoạt động của con người gây ô nhiễm không khí chính là ô nhiễm do đốt nhiên liệu và do
các phát triển cá ngành công nghiệp.
- Quá trình đốt nhiên liệu xảy ra ở khắp mọi nơi. Trong sản phẩm cháy do nhiên liệu sản sinh
ra khi cháy có chứa nhiều loại khí độc hại cho sức khỏe con người, nhất là khi quá trình cháy
không hoàn toàn. Các loại khí độc hại đó là: SO
2
, CO
2
, NO
x
, hydrocacbon và tro bụi. Người ta
phân biệt các nguồn gây ô nhiễm do đốt nhiên liệu thành các nhóm: Các phương tiện giao
thông; Do đun nấu; Các nhà máy nhiệt điện; Do đốt các loại phế thải .
- Ô nhiễm do các ngành công nghiệp: công nghiệp gang thép, luyện kim màu, công nghiệp sản
xuất ximăng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp lọc dầu.
Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt.

nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầng ozone.
CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ozon. Sau khi chịu tác động của khí CFC và một số loại
chất độc hại khác thì tầng ozon sẽ bị mỏng dần rồi thủng, không còn làm tròn trách nhiệm của
một tấm lá chắn bảo vệ mặt đất khỏi bức xạ UV-B, làm cho lượng bức xạ UV-B tăng lên, gây
hậu quả xấu cho sức khoẻ của con người và các sinh vật sống trên mặt đất.
2.2.2.2. Ô nhiễm nước
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng
đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính
chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm đã ở mức nguy hiểm và gây ra
một số bệnh ở người.
Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước hầu hết là do hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con
người tạo nên như: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp thường
cuốn theo chất rắn, chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, phân bón gây ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm
nước ngầm, nước biển…
Dấu hiệu đặc trưng của nguồn nước bị ô nhiễm:
- Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn.
- Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ…)
Trang 20
- Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các
chất độc hại…)
- Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxy hoá các chất bẩn
hữu cơ vừa mới thải vào.
- Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng. Có xuất hiện các vi trùng
gây bệnh.
Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thuỷ sinh vật và việc sử dụng nguồn nước
vào mục đích cấp nước hoặc mỹ quan của thành phố. Khối lượng lớn nước thải này đang và sẽ
làm nhiều nguồn nước trên phạm vi cả nước ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là các sông, hồ
trong các đô thị lớn.
Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến

Ở nhiều đoạn sông, kênh rạch đã bị bẩn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất và đời sống, đến các hệ sinh thái nước ngọt. Ví dụ khu vực Hà Nội nước các sông Tô
Lịch, sông Kim Ngưu rất bẩn, màu sẫm, mùi thối, tanh, hàm lượng ôxy hòa tan rất thấp
nhiều khi bằng 0, lượng BOD5 cao trên 50mg/l, NH
4
+
trên 10mg/l, NO
2
- cũng tăng vọt, H
2
S
gần 30mg/l. ở khu vựcthành phố Hồ Chí Minh nước kênh Tham Luông màu đen xẫm, thối,
chất hữu cơ cao COD có khi tới 596 mg/l, BOD5 184,5mg/l. Hàm lượng oxy hòa tan thường
bằng 0. Nước sông Sài Gòn có hàm lượng CO
2
giảm, NH4+ tăng sau khi nhận nước của kênh
Tham Luông và rạch Thị Nghè, kênh Bến Nghé. ở khu Lâm Thao - Việt Trì trong mùa cạn
nhánh sông chảy qua khu vực thành phố và các nhà máy bị nhiễm bẩn nặng, độ pH quá thấp
(4,0) độ axit tự do lớn, hàm lượng sắt, chất hữu cơ, NH
4
+
, NO
2
-
tăng cao.
2.2.2.3. Ô nhiễm đất
Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồn nước, ô
nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt trong
việc sử dụng nông dược và phân hoá học. Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng xấu tới sản
xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau quả ảnh hưởng

thu của rễ thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá,
biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông. Cùng
với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này
ngày càng nghiêm trọng. Vì số lượng lớn nông dược tích luỹ trong đất, đặc biệt là các thuốc có
chứa các nguyên tố như chì, asen, thuỷ ngân có độc tính lớn, thời gian lưu lại trong đất dài,
có loại nông dược thời gian lưu trong đất tới 10 đến 30 năm, những loại nông dược này có thể
được cây trồng hấp thu, tích trong quả và lá và đi vào cơ thể người và động vật qua thực phẩm,
ảnh hưởng đến sức khoẻ. Thuốc trừ sâu đồng thời với việc diệt các côn trùng gây hại, cũng gây
độc đối với các vi sinh vật và côn trùng có ích, các loại chim, cá và ngược lại một số loại sâu
bệnh thì lại sinh ra tính kháng thuốc. Theo điều tra của tổ chức nông lương thế giới: năm 1965,
có 182 loài côn trùng gây hại có khả năng kháng thuốc, năm 1968, tăng lên 228 loài và đến
1979 lên tới 364 loài. Trong số 25 loài sâu hại nông nghiệp chủ yếu ở các nông trường
California Mỹ thì có 17 loài đã có khả năng kháng đối với một hoặc vài loại thuốc, mỗi năm,
số sâu hại kháng thuốc này làm thiệt hại mấy chục triệu đôla cho nông nghiệp vùng này.
 Ô nhiễm đất do vi sinh vật
Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải
bệnh viện, nước thải sinh hoạt trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử
trùng của các bệnh viện truyền nhiễm. Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy
nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật.
Ngoài những nguồn ô nhiễm trên, các hoạt động tưới không thích đáng, chặt cây rừng, khai
hoang cũng tạo thành các hiện tượng rửa trôi, bạc màu, nhiễm phèn trong đất. Theo thống
kê, hàng năm diện tích đất này trên thế giới tăng từ 5.000.000 đến 11.000.000 ha.
Có thể thấy rằng, chống ô nhiễm đất đang là vấn đề bức thiết đặt ra cho nhiều quốc gia. Một số
biện pháp cơ bản hiện nay là: khống chế các chất thải rắn, lỏng, khí. Mở rộng và phát triển
công nghệ tuần hoàn kín hoặc xử lý chất thải để giảm hoặc loại bỏ các chất gây ô nhiễm; khi
Trang 24
lợi dụng nước thải để tưới ruộng, cần nắm được thành phần chất ô nhiễm, hàm lượng và trang
thái, khống chế số lượng nước tưới hoặc thực hiện xử lý chần thiết; thứ 2 là nên khống chế
việc sử dụng nông dược hoá học, hạn chế sử dụng các thuốc có độc tính cao, khả năng tồn tại
lớn, phát triển các loại thuốc nông nghiệp mới có hiệu quả cao, độc tính thấp, lượng tồn trữ ít.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status