Phát triển công cụ nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam - Pdf 10

Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam sau gần hai mươi năm đổi mới đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng và to lớn, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.Kết quả đó có sự đóng
góp rất lớn từ việc vận hành đúng đắn và chính xác chính sách tiền tệ của ngân hàng
nhà nước . Thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ như: chiết khấu,dự trữ bắt
buộc, nghiệp vụ thị trường mở,hạn mức tín dụng,tỷ giá….. ngân hàng nhà nước 1 mặt
cung cấp đầy đủ phương tiện thanh toán cho nền kinh tế , mặt khác giữ ổn định giá trị
của đồng nội tệ.
Một trong những công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ, Nghiệp vụ thị
trường mở sau khoảng thời gian đi vào hoạt động từ ngày 12 tháng 7 năm 2000, công
cụ này đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình với những ưu thế vốn có của nó,
góp phần ổn định giá trị đồng nội tệ, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Tuy
nhiên hoạt động thị trường mở trong thời gian qua vẫn bộc lộ một số hạn chế : số
lượng hàng hoá giao dịch và số thành viên tham gia trên thị trường mở còn khiêm tốn
, phương thức giao dịch còn nhiều thủ tục, kém linh hoạt….
Do vai trò quan trọng và còn nhiều điểm hạn chế trong việc vận hành công cụ thị
trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời gian qua nên việc nghiên
cứu nhằm phát triển nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam là
một đòi hỏi cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn . Vì vậy đề
tài :”phát triển công cụ nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việt
Nam “ được lựa chọn nghiên cứu cho đề án này.
2 Mục tiêu,đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Mục tiêu nghiên cứu:
+Hệ thống hoá cơ sở lý luận về công cụ nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng
trung ương(NHTW).
+Phân tích đánh giá thực tiễn về việc sử dụng công cụ thỉ trường mở của ngân
hàng nhà nước Việt Nam(NHNN).
1
1

bản , chủ yếu nhất của NHTW. Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt
trong mọi hoạt động của NHTW.
1.1.2 Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ
Với mỗi quốc gia khác nhau và trong từng thời điểm khác nhau thì mục tiêu cụ
thể của chính sách tiền tệ cũng khác nhau nhưng nhìn chung NHTW của các quốc gia
đều vận hành chính sách tiền tệ để hướng tới các mục tiêu tăng trưỏng kinh tế, ổn
định giá trị đồng tiền, tạo việc làm cho người lao động.
1.1.2.1Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ.
Các nhà kinh tế đã cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản xuất
hàng hoá, đặc biệt là nền sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao ( nền kinh tế thị
3
3
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
trường). Lúc này với chức năng chính của mình, NHTW luôn coi việc kiểm soát lạm
phát ở mức hợp lý, ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền
tệ.
Có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, tuy nhiên nhìn chung có thể hiểu:
Lạm phát là sự gia tăng liên tục của giá cả trong 1 thời gian dài.Lạm phát tác động
đến nền kinh tế theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực.
Khi lạm phát gia tăng tới mức không thể kiểm soát ,sẽ tác động xấu đến mọi mặt
của nền kinh tế-xã hội,sản lượng giảm, hàng loạt các doanh nghiệp rơi vào tình trạng
phá sản,hàng hoá bị găm giữ hình thành cầu giả tạo,giá cả leo thang…..
Tuy nhiên bên cạnh những tác hại mà lạm phát gây ra cho nền kinh tế ,trong
chừng mực nào đó,với 1 tỷ lệ lạm phát vừa phải,lạm phát lại là yếu tố để kích thích
kinh tế tăng trưởng .Khi đó các nhà kinh tế còn gọi đó là liều thuốc bổ cho tăng
trưởng kinh tế.
Thông qua chính sách tiền tệ NHTW có thể góp phần quan trọng trong việc kiểm
soát lạm phát. Nếu như lạm phát ở mức cao, NHTW sẽ vận hành chính sách tiền tệ
thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, qua đó làm cho giá cả hàng hóa và dịch vụ
giảm xuống và như vậy tỷ lệ lạm phát giảm xuống. Ngược lại nếu tỷ lệ lạm phát ở

1.1.2.3 Kích thích tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn liền với mục tiêu công ăn việc làm cao.
Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời hai mục tiêu này. Khi mức cung ứng tiền
tệ tăng lên trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư, mở rộng sản
xuất kinh doanh , làm tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại khi mức cung
tiền tệ giảm trong ngắn hạn lãi suất tín dụng tăng sẽ thu hẹp hoạt động sản xuất kinh
doanh , sản lưọng giảm, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm.
Các nhà kinh tế đã thừa nhận rằng, nền kinh tế thị trường luôn biến động mang
thính chu kỳ: Từ tăng trưởng kinh tế quá mức dẫn đến lạm phát cao, từ đó rễ rơi vào
trạng thái ngưng trệ rồi suy thoái kinh tế. Vấn đề đặt ra là đối với từng giai đoạn cụ
thể, chính sách tiền tệ phải tìm giải pháp để vừa có thể đạt được mục tiêu trọng tâm,
vừa dung hoà được các mục tiêu còn lại.
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
5
5
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
1.1.3.1Chính sách chiết khấu.
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt đó là
tiền tệ với chức năng chính là nhận tiền gửi và cho vay . Nhưng không phải lúc nào
hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng đều thuận lợi.Có những lúc khách hàng đến
rút tiền quá nhiều, khi đó ngân hàng thương mại có thể rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán.Vì vậy nếu không có Ngân hàng trung ương , các ngân hàng thương
mại(NHTM) có thể sẽ rơi vào tình trạng phá sản . Chính vào lúc khó khăn này,
NHTW sẽ thực hiện chức năng là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế.
NHTW sẽ cấp tín dụng cho NHTM qua nhiều hình thức, thông dụng nhất đó là
tái cấp vốn dưới hình thức chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu hoặc các
giấy tờ có giá . Khi chấn nhận chiết khấu hoặc tái chiết khấu là NHTW đã làm tăng
lượng tiền trong lưu thông. Đây là hình thức phát hành tiền được xem là lành mạnh
do được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá và khi đáo hạn NHTW sẽ đòi được các món
nợ đã cho vay.

Thứ nhất : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các
NHTM. Theo thuyết tạo tiền gửi, từ một lượng tiền dự trữ ban đầu , hệ thống ngân
hàng thương mại có thể tạo ra một lượng tiền gửi lớn gấp nhiều lần với công thức
tổng quát :
Tiền gửi mới được tạo ra= Tiền dự trữ ban đầu
×
1
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trong đó : 1/Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là số nhân tiền với hai giả thiết:
• Các NHTM không có tiền dự trữ dư thừa so với tỷ lệ dự trữ bắt
buộc mà NHTW quy định.
• Các khoản tiền gửi do các NHTM tạo ra đều được giữ lại trong
hệ thống ngân hàng.
Khi NHTW quyết định tăng hoặc giảm tỷ lện dự trữ bắt buộc sẽ làm cho số nhân
tiền giảm đi hoặc tăng lên. Qua đó làm giảm hoặc tăng lượng tiền cung ứng.
Thứ hai : Tỷ lện dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của các NHTM .
Số tiền dự trữ bắt buộc của 1 NHTM được gửi ở một tài khoản tại NHTW , không
được hưởng lãi hoặc lãi suất rất thấp trong khi các ngân hàng thương mại vẫn phải trả
lãi của khoản tiền đó cho khách hàng của mình. Do vậy khi mức dự trữ tăng lên đòi
hỏi các NHTM phải tăng lãi suất cho vay vì chi phí huy động vốn lớn hơn và khả
7
7
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
năng cho vay của NHTM giảm xuống, theo đó lượng tiền cung ứng sẽ giảm xuống.
Và ngược lại , khi tỷ lện dự trữ bắt buộc giảm xuống, các ngân hàng thương mại có
thể giảm lãi suất cho vay vì chí phí huy động vốn giảm xuống, tăng khả năng cho vay
của các NHTM và theo đó lượng tiền cung ứng tăng lên.
Điểm lợi chính của việc sủ dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát lượng tiền
cung ứng là nó có thể tác động bình đẳng đến các ngân hàng. Đây là công cụ có ảnh
hưởng rất lớn đến lượng tiền cung ứng. Nhưng chính điều này cũng làm cho công cụ

tài khoản của ngân hàng tại NHTW. Trong trường hợp người mua là khách hàng của
NHTM thì số tiền mua chứng khoán sẽ làm giảm số dư tiền gửi của khách hàng đó tại
NHTM. Sự giảm xuống của dự trữ sẽ dẫn đến giảm khả năng cho vay của hệ thống
ngân hàng và vì thế mà làm giảm khối lượng tiền cung ứng theo bội số, được đo
lường bằng sự giảm xuống của số nhân tiền tệ. Hành vi mua chứng khoán của
NHTW sẽ có tác động ngược lại.
NHTW bán tín phiếu kho bạc  Dự trữ NH  Dự trữ để mở rộng cho vay  khối lượng
tín dụng   MS 
Sơ đồ 1: Cơ chế tác dộng vào dự trữ của NHTM khi NHTW bán tín phiếu kho bạc.
b. Tác động qua lãi suất.
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở cuả NHTW có ảnh hưởng
gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường:
Thứ nhất: khi dự trữ của các ngân hàng bị ảnh hưởng nó có tác động đến cung
cầu vốn của NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền
trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất
ngắn hạn này , thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động Arbirage về lãi
suất, sẽ truyền tác động của nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường
tài chính. Tổng cầu AD của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết
định tại một mức lãi suất thị trường xác định.
Thứ hai: Việc mua bán chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung
cầu về loại chứng khoán đó trên thị trường mở và do đó tác động đến giá cả của nó.
Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu đó là loại
9
9
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay
đổi tỷ lệ sinh lời của chúng sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường ,tổng cầu AD và sản
lượng.
Cung TPKB ↑––––> Giá TPKB ↓ –––––––> LS thị trường ↑–––––––––––––
NHTW Đầu tư ↓

mua lại vào một ngay xác định trong tương lai. Hợp đồng mua lại đảo ngược được áp
dụng khi NHTW muốn rút bớt dự trữ của hệ thống ngân hàng. Để đạt được mục đích
này, NHTW bán chứng khoán cho người giao dịch, người đồng ý sẽ bán lại vào một
ngày xác định trong tương lai. Sự chênh lệch giá bán chứng khoán tại thời điểm t=o
và thời điểm t=T là lãi suất của khoản vay (Repor). Nói chung hợp đồng mua lại
được sử dụng trong một thời gian rất ngắn. Thường là qua đêm với t = 1 ngày. Tuy
nhiên, cũng có khi thời hạn hợp đồng mua lại dài hơn với t > 1 ngày, được coi là
Repor có thời hạn. Với loại Repor mở, thời hạn t không được xác định trước mà 2
bên thoả thuận lại vào mỗi ngày.Giao dịch theo hợp đồng Repor thực chất là một
khoản vay có bảo đảm bằng chứng khoán có tính thị trường cao.
Các giao dịch hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường mở vì
những lý do sau đây:
Thứ nhất: đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh
hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng.
Thứ hai: chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp
đồng mua bán đứt đoạn.
Thứ ba: thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không
hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục.
Thứ tư: làm giảm bớt thời giam thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của
thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW.
Ngoài ra một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trong nghiệp
vụ thị trường mở như: phát hành chứng chỉ nợ của NHTW, giao dịch hoán đổi các
chứng khoán đến hạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ.
1.2.3 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở.
Các nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu. Có
hai loại đấu thầu: Đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất.
11
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status