1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thực trạng hoạt động đầu tư và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.”
2
Mục lục
Lời mở đầu 1
Chương I: Những vấn đề cơ bản về đầu tư và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2
I. Lý luận chung về đầu tư
2
1. Khái niệm
2
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo vùng 43
III. Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam 52
1. Tác động của đầu tư tới cơ cấu ngành kinh tế 52
2. Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế 57
3. Tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế 60
Chương III. Phương hướng và giải pháp tăng cường đầu tư
nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 67
1. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch trong đầu tư, 67
gắn quy hoạch với kế hoạch để thúc đẩy chuyển đổi nhanh CCKT.
2.
Huy động nguồn vốn đầu tư hướng vào các mục tiêu chuyển dịch CCKT
trong các ngành, các vùng kinh tế. 68
3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học 70
và công nghệ để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch CCKT.
4. Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành trong quá trình thực hiện chuyển dịch CCKT 71
Kết luận 72
Tài liệu tham khảo 72 4
Lời mở đầu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay, vì để xây dựng và phát triển
một nền kinh tế ổn định, vững chắc, với tốc độ nhanh đòi hỏi phải xác định được một
CCKT hợp lý, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các
Chương I: Những vấn đề cơ bản về đầu tư và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I. Lý luận chung về đầu tư
1. Khái niệm
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các họat
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Mục tiêu của đầu tư là đạt được các kết
quả lớn hơn so với những hi sinh.
1.1. Dưới góc độ kinh tế học
Đầu tư (Investment), theo từ điển kinh tế học hiện đại của David W. Pearce-
thì : Thuật ngữ đầu tư được sử dụng một cách phổ biến nhất để mô tả lưu lượng
chi tiêu được dùng để tăng hay duy trì dung lượng vốn thực tế. Nói một cách
chính xác hơn: Đầu tư là một lưu lượng chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng
hóa không phải để tiêu dùng trung gian. Các dự án đầu tư này có thể có dạng bổ
sung vào cả vốn vật chất, vốn nhân lực và hang tồn kho. Đầu tư là một luồng vốn
6
với khối lượng được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị hiện tại ròng (NPV)
lớn hơn 0 hay tỉ suất lợi tức nội hoàn lớn hơn lãi suất (IRR).
Nói một cách ngắn gọn, đầu tư là sự hi sinh tiêu dùng hiện tại nhằm thu về
tiêu dùng lớn hơn trong tương lai.
1.2. Dưới góc độ tài chính
Trên phương diện hoạch định tài chính cá nhân, đầu tư là sự hy sinh của một
cá nhân trong việc tiêu dùng hiện tại để tích lũy tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng trong tương lai. Trong con mắt của các nhà tư vấn tài chính, đầu tư được
hiểu là việc một cá nhân mua tài sản với mong ước rằng tài sản đã mua được sẽ
giữ vững giá trị, sau đó tăng giá và tạo ra nguồn thu nhập tương ứng với mức độ
rủi ro nào đó. Nói một cách ngắn gọn hơn, mục tiêu tài chính của cá nhân là tích
lũy đồng tiền. Sau khi kiếm được tiền, người ta cần cân nhắc đầu tư đồng tiền đó
nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới
cho nền kinh tế xã hội.
2.1.2. Đầu tư tài chính
Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hay
mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ để hưởng lãi suất định trước (gửi
tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ ) hay lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty phát hành (cổ phiếu, trái phiếu công ty ). Đầu tư
tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan
8
hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức,
cá nhân đầu tư (đánh bạc nhằm mục đích thu lời cũng là một loại đầu tư tài chính
nhưng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội. Công ty mở sòng bạc để phục vụ nhu
cầu giải trí của người đến chơi nhằm thu lại lợi nhuận về cho công ty thì đây lại là
đầu tư phát triển nếu được nhà nước cho phép và tuân theo đầy đủ các quy chế
hoạt động do nhà nước quy định để không gây ra các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt
động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng,
khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái
phiếu cổ phiếu cho người khác). Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ tiền ra để
đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây
là một nguồn cung cấp vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phát triển.
2.1.3. Đầu tư thương mại
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua
hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi
mua và khi bán. loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
(nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu
tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người
bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư
thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư
phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích
3. Đặc điểm cơ bản của đầu tư phát triển:
10
Khác với đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, đầu tư phát triển là họat
động cơ bản của đầu tư và chỉ có đầu tư phát triển mới trực tiếp tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế mà không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các thành
viên trong nền kinh tế. Và đầu tư phát triển cũng chính là họat động đầu tư có tác
động lớn nhất tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
3.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường lớn
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Quy
mô vốn đầu tư đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hớp lý, xây
dựng các chính sách, quy hoạch kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng
vốn đầu tư…
Lao động cần sử dụng đòi hỏi phải trải qua công tác tuyển dụng đào tạo đãi
ngộ đòi hỏi một kế hoạch định trước sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại
nhân lực theo tiến độ và quy mô lao động.
3.2 Thời kì đầu tư kéo dài
Một dự án đầu tư gồm 3 giai đoạn cơ bản, đó là: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện
đầu tư và vận hành kết quả đầu tư. Trong đó thời kì đầu tư được tính từ khi khởi
công tới khi dự án hoàn thành và đưa vào họat động. Thời kì đầu tư càng kéo dài
thì rủi ro càng lớn vì: Nó đòi hỏi thời gian quản lý dự án lâu đi kèm với các nguy
cơ tiềm ẩn xảy ra trong quá trình xây dựng như: an toàn lao động, pháp luật, khả
năng tiếp tục huy động vốn, trượt giá…
3.3 Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài
11
Thời gian vận hành kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động
cho tới khi hết thời hạn sử dụng và loại bỏ công trình. Trong suốt quá trình vận
hành, các thành quả đầu tư chịu nhiều tác động tiêu cực: do hỏng hóc, trục trặc
biến đổi của sự vật hiện tượng.
Với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì có rất
nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng, tùy theo cách mà ta tiếp
cận chúng tùy theo cách tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Sự vận động và phát
triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản than các bộ
phận cũng như sự thay đổi các kiểu cơ cấu.
Như vậy, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về
chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành trong một thời gian và trong
điều kiện kinh tế xã hội.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa trên
sản xuất nông nghiệp với trình độ kỹ thuật sản xuất thô sơ lạc hậu sang nền kinh
tế cơ bản dựa trên nền tảng công nghiệp có kỹ thuật sản xuất hiện đại.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý, tiến bộ khi tỷ
trọng khu vực công nghiệp - dịch vụ và khu vực dịch vụ ngày càng tăng trong khi
khu vực nông nghiệp khai khóang ngày càng giảm. Cơ cấu kinh tế hợp lý trong
một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công-nông nghiệp- dịch vụ phát triển
13
mạnh mẽ hợp lý và đồng bộ. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp
lý. Một cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng; công nghiệp, xây dựng dịch
vụ phải tăng dần về tỷ trọng.
- Trình độ kĩ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ phù hợp với xu
hướng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên
thế giới.
- Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành,
các địa phương và các thành phần kinh tế.
- Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hóa
kinh tế, do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở”.
Bằng chỉ tiêu tính theo GDP, chỉ tiêu này phản ảnh tỷ trọng đóng góp của từng
ngành vào giá tổng sản phẩm quốc nội, nó phản ánh tương quan giữa các ngành
kinh tế với nhau. Một quốc gia phát triển sẽ có tỷ trọng các ngành công nghiệp
chiếm khoảng 34%, dịch vụ khoảng 64% và nông nghiệp chỉ khoảng 2 %. Trong
khi đó các quốc gia đang phát triển có tỷ trọng của công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ lần lượt là 13%, 37% và 50%.
Sở dĩ các nước đang phát triển thường sử dụng chỉ tiêu cơ cấu kinh tế tính
theo GDP chứ không phải GNP vì cơ cấu kinh tế theo GDP phản ánh rõ hơn về
môi trường kinh doanh và đặc biệt là nó cùng với cơ cấu tính theo lao động sẽ
15
phản ánh mức độ phát triển tiến bộ của năng lực sản xuất của quốc gia đó theo
từng thời kì. (Do có thể so sánh trực tiếp bao nhiêu người tham gia vào ngành và
ngành này có giá trị là bao nhiêu…)
4.2. Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chuyển biến về lao động trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng, nó trực tiếp phản
ánh sự chuyển biến của lực lượng lao động- tức là con người trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối chiếu với chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tính
theo GDP, chỉ tiêu này cho ta thấy được thành quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
tới xã hội và quá trình phân phối ra sao. Chẳng hạn một quốc gia có cơ cấu tính
theo GDP là Công nghiệp 40%, nông nghiệp 25%, dịch vụ 35% nhưng tỷ trọng
lao động trong nông nghiệp của quốc gia đó lại chiếm tới 75% thì ta không thể coi
đây là một cơ cấu kinh tế hợp lý và bao hàm công bằng xã hội.
4.3. Cơ cấu kinh tế theo vùng miền
Cơ cấu kinh tế theo vùng miền phản ánh quy mô kinh tế của từng địa
phương trong tổng giá trị sản lượng quốc gia. Nó cho ta biết sự khác biệt về trình
độ phát triển kinh tế của từng địa phương để từ đó có các chính sách phân bổ
nguồn lực, chính sách khuyến khích ưu đãi với các vùng kinh tế khó khăn khắc
phục tình trạng chênh lệch giữa các vùng miền.
17
bởi mục tiêu của Nhà nước. Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của cơ
cấu ngành kinh tế bằng các định hướng phát triển, đầu tư, những chính sách
khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằm bảo đảm sự cân đối của
nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
- Cuối cùng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước cho phép
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm, hiệu quả đến mức nào
5.2. Ở bên ngoài
Bên cạnh những nhân tố tác động từ bên trong, những nhân tố tác động từ
bên ngoài đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm có:
- Xu hướng chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và thế giới. Sự biến động
của chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, hay một số nước, nhất là các nước lớn
sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng hàng hóa trao đổi, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu
hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến
lược phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mình nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và
sự phát triển trong động thái chung của thị trường thế giới.
- Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công lao động diễn
ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường rộng lớn được mở
ra trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép các nước có khả năng
khai thác những thế mạnh của nhau để trao đổi các nguồn lực, vốn, kỹ thuật, hàng
hóa và dịch vụ một cách hiệu quả Quá trình đó vừa bắt buộc, vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho các nước thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự phân
công lao động trên quy mô toàn thế giới.
18
- Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ
của công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vực sản xuất
góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước vì thông
t
0
là năm trước năm tính toán
Người ta coi Y(t)/Y(t
0
) chính là tốc độ tăng GDP; K(t)/Y(t
0
) là tỷ lệ đầu tư
của năm tính toán trên GDP của năm trước đó.
Điều này có nghĩa để đạt được tốc độ tăng trưởng nào đó thì nền kinh tế phải
đầu tư theo một tỷ lệ nhất định nào đó từ GDP; khi chuyển sang dạng tốc độ hệ số
k gọi là hệ số ICOR (incremental capital - output ratio):
ICOR=vốn đầu tư/GDP do vốn tạo ra=vốn đầu tư/∆GDP
Từ đó suy ra:
Mức tăng GDP=vốn đầu tư/ICOR
hệ số ICOR cho biết để tăng thêm một đồng GDP thì cần tăng thêm bao
nhiêu đồng vốn đầu tư.
Nếu Icor không đổi,mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.
Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức
trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-20% so với GDP tùy thuộc vào
ICOR mỗi nựớc.
Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn,từ 5-7 do thừa vốn,thiếu lao động,
vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại
có giá cao.Còn ở các nước chậm phát triển, ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa
lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn sử dụng
công nghệ kém hiện đại,giá rẻ.
20
Chỉ tiêu ICOR cuả mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước.
phục vụ sản xuất cũng như phục vụ tiêu dùng. Ý tưởng về cú huých lập luận rằng
gia tăng mạnh mẽ về đầu tư sẽ dẫn đến mức tiết kiệm tăng lên do gia tăng trong
thu nhập. Theo Rosenstain – Rodan, mục đích của viện trợ nước ngoài cho các
nước kém phát triển là đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế tới một điểm mà ở
đó tốc độ tăng trưởng kinh tế mong muốn có thể đạt được trên nền tảng tự duy trì,
không phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài.
Theo Nurske: ông ủng hộ sự phát triển cân đối, sản xuất hàng loạt nhiều
loại sản phẩm để gia tăng cầu, lúc đó sẽ khai thác được “lợi thế về qui mô”,
như vậy hiệu quả đầu tư mới cao và đẩy nhanh tốc độ phát triển.
1.1.2 Tăng trưởng không cân đối
Hirschman (1958) đưa ra một mô hình mang tính trái ngược. Ông cho rằng
sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo ra động lực cho nhiều dự án mới. Theo cách
tiếp cận này vốn đầu tư cần được nhà nước phân phối cho những ngành công
nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra cơ hội ở những ngành khác trong nền kinh tế; khái
niệm về “liên hệ ngược” và “liên hệ xuôi” cũng ra đời từ ông này. Hai khái niệm
22
này được tính toán từ mô hình I/O. Ông cho rằng sự mất cân đối này sẽ tạo ra sự
phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi, nhiều
định chế của cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh, nên các điều kiện của thị trường
cạnh tranh hoàn hảo rõ ràng là chưa đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế của ta
đang ở mức phát triển thấp, chịu ảnh hưởng của một thời gian dài trong cơ chế kế
hoạch hoá tập trung Tất cả những đặc tính đó cho thấy Nhà nước cần đóng vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, không thể để thị trường tự
thân vận động.
1.2 Mô hình hai khu vực của Arthurs Lewis
Vào khoảng giữa thập niên 50 của thế kỉ 20, nhà kinh tế học người Mỹ gốc
Jamaica A. Lewis trong tác phẩm “Lý thuyết về phát triển kinh tế ” đã đưa ra các
giải thích về mối quan hệ giữa nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng, gọi là mô
Vì thế có thể nói đầu tư là một con bài quan trọng nhất mà nhà nước sử dụng
để tác động làm tăng trưởng kinh tế, điều tiết nền kinh tế theo đúng định hướng
phát triển.
II. Lý luận tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn,
nguồn vốn,cơ cấu huy động và sử dụng vốn…quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại
24
giữa các bộ phận trong không gian, vận động theo hướng hình thành một cơ cấu
đầu tư hợp lý và tạo ra những tiềm lực lớn hơn về mọi mặt kinh tế -xã hội.
Cơ cấu đầu tư luôn thay đổi trong từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển
của nền kinh tế, có nhân tố thuộc nội tại nền kinh tế, có nhân tố tác động từ bên
ngoài, có nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển, song cũng có nhân tố kìm hãm sự
phát triển.Các nhân tố trong nội bộ nền kinh tế bao gồm: Nhân tố thị trường và
nhu cầu tiêu dùng của xã hội; trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;quan
điểm chiến lược,mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong mỗi giai
đoạn nhất định; cơ chế quản lý có thể ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu
đầu tư… Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài như xu thế chính trị, xã hội, kinh
tế của khu vực và thế giới. Trong xu thế quốc tế hoá lực lượng sản xuất và thời
đại bùng nổ thông tin, tìm hiểu thị trường và xác định chiến lược cơ cấu đầu tư
hợp lý để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm chủ động hội nhập.
Sau thay đổi của cơ cấu đầu tư từ mức độ này sang mức độ khác, phù hợp
với môi trường và mục tiêu phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu đầu tư.Sự thay
đổi không chỉ bao gồm thay đổi về vị trí ưu tiên mà còn là sự thay đổi về chất
trong nội bộ cơ cấu và các chính sách áp dụng.Về thực chất chuyển dịch cơ cấu
đầu tư là sự điều chỉnh cơ cấu vốn, nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh cơ cấu huy
động và sử dụng các loại vốn và nguồn vốn … phù hợp với mục tiêu đã xác
định của toàn bộ nền kinh tế, ngành, địa phương và các cơ sở trong từng thời kì
phát triển .
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới cơ cấu