Luận văn: Xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 10


Luận văn
Xây dựng thị trường quyền
chọn và giao sau cho thị
trường chứng khoán Việt
Nam

MỤC LỤC CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU - NHỮNG KHÁI
NIỆM CƠ BẢN 1
1.1. Lý thuyết hợp đồng quyền chọn và giao sau. 1
1.1.1. Khái niệm hợp đồng quyền chọn. 1
1.1.2. Phân loại quyền chọn. 1
1.1.2.1. Phân loại theo vị thế. 1
1.1.2.2. Phân loại theo thời gian thực hiện quyền chọn. 1
1.1.2.3. Phân loại theo tài sản cơ sở 1
1.1.3. Các chiến lược quyền chọn. 2
1.1.4. Khái niệm hợp đồng giao sau. 4
1.2. Vai trò của hợp đồng quyền chọn và hợp đồng giao sau đối với TTCK 4
1.2.1. Quản trị rủi ro 4
1.2.2. Hợp đồng quyền chọn và giao sau đóng vai trò như một công cụ đầu tư. 4
1.2.3. Một công cụ dùng để đánh giá thị trường 5
1.2.4. Là động lực thúc đẩy TTCK phát triển 5
1.2.5. Tác động gián tiếp đến các công ty niêm yết và nền kinh tế 6
1.3. Điều kiện để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau 6
1.3.1. Phải có hệ thống cơ sở pháp lý hoàn thiện 6

2.2.2.2. Những hạn chế của các tổ chức đầu tư nước ngoài. 22
2.2.3. Những hạn chế từ thị trường. 23
2.2.3.1. Thị trường chưa thật sự hiệu quả. 23
2.2.3.2. Thị trường chưa có tính thanh khoản cao. 24
2.2.3.3. Danh mục hàng hóa chưa phong phú, chất lượng chưa đảm bảo. 24
2.2.3.4. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao dịch chưa vững mạnh. 25
2.2.3.5. Trình độ của nhân lực quản lý thị trường chưa cao. 26
2.3. Triển vọng xây dựng thị trương quyền chọn và giao sau chứng khoán 27
2.3.1. Các chính sách của Nhà nước 27
2.3.2. Hội nhập kinh tế quốc tế - Tiềm năng phát triển của TTCK 28
2.3.3. Nhu cầu đầu tư ngày càng cao 38
2.3.4. Kinh nghiệm phát triển các công cụ phái sinh cho vàng, ngoại tệ và nông sản
trong thời gian qua. 29
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ
GIAO SAU CHO THỊ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31
3.1. Lộ trình xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho TTCK Việt Nam. 31
3.1.1. Giai đoạn chuẩn bị 3-5 năm 31
3.1.2. Giai đoạn thực nghiệm và hoàn thiện ( 2 năm ) 31
3.1.3. Giai đoạn vận hành và phát triển 32
3.2. Các giải pháp cụ thể để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau chứng
khoán. 32
3.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý. 32
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện TTCK 36
3.2.2.1. Thành lập trung tâm thông tin 36
3.2.2.2. Nhanh chóng thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm. 37
3.2.2.3. Thắt chặt mối quan hệ giữa niêm yết và cổ phần hóa 38
3.2.2.4. Quốc tế hóa thị trường 39
3.2.2.5. Nâng cấp cơ sở hạ tầng và kỹ thuật 39
3.2.3. Tăng cường nhận thức về công cụ quyền chọn và giao sau đến người dân
Việt Nam. 40

chỉnh để đạt được hiệu quả tối ưu. Đồng thời, các sản phẩm phái sinh chứng khoán cũng được chú
trọng phát triển nhằm khắc phục các yếu tố rủi ro cố hữu gắn liền với thị trường chứng khoán cơ
sở, đáp ứng khẩu vị phong phú và chiến thuật đa dạng của các nhà đầu tư…Vì vậy, tham khảo và
ứng dụng các mô hình thị trường quyền chọn và giao sau sẵn có dựa vào điều kiện thực tiễn ở nước
ta là những bước đi cần thiết của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, đó là lý do chúng tôi
chọn đề tài:
“Xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Trong phạm vị nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chủ yếu tập trung vào tìm hiểu và xây
dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho TTCK Việt Nam, các công cụ phái sinh trên thị trường
ngoại tệ và thị trường vàng được xem xét và vận dụng tương tự.
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương phát tổng
hợp so sánh, phương pháp diễn dịch quy nạp, phương pháp tư duy logic…
Ngoài phần mở đầu và phụ lục, đề tài gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán và khả năng xây dựng thị trường quyền chọn và
giao sau chứng khoán tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán
Việt Nam. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
 CPH : Cổ phần hoá.
CQGS&QLTT : Cơ quan giám sát và quản lý thông tin.
CTCK : Công ty chứng khoán.
CTNY : Công ty niêm yết.
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước.
HĐGS : Hợp đồng giao sau.

Bảng 2 : Số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư trên TTCK Việt
Nam (2000–2007). 14
Bảng 3 : Rủi ro thị trường tính trên VN-Index qua các năm. 16
Bảng 4 : Tỷ suất trung bình/năm và độ lệch chuẩn năm của các nước
(02/08/2000 – 01/04 /2008). 17
CHƯƠNG 1:
THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU - NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. Lý thuyết quyền chọn và giao sau.
1.1.1. Khái niệm quyền chọn.
Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho
người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó (tài
sản cơ sở) vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn.
Thời gian từ khi ký HĐQC đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn.
Mức giá áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện.
1.1.2. Phân loại quyền chọn.
1.1.2.1. Phân loại theo vị thế.
Quyền chọn mua ( Call Option): Là một quyền chọn để mua một tài sản (Chứng
Khoán) ở một mức giá cố định – giá thực hiện, trong một khoản thời gian nhất định hay
một thời điểm đã xác định trong tương lai.
Quyền chọn bán (Put Option): Là một quyền chọn để bán một tài sản (Chứng khoán) ở
một mức giá cố định, trong một khoản thời gian nhất định hay một thời điểm đã xác định
trong tương lai.
1.1.2.2. Phân loại theo thời gian thực hiện quyền chọn.
Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền lựa chọn mà người mua quyền chọn có quyền thực hiện
quyền lựa chọn tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian thỏa thuận của hợp đồng.
 Mục đích chính của quyền chọn kiểu Mỹ là nhằm đầu cơ.

làm đa dạng hoá sản phẩm đầu tư, dẫn đến tăng tính lựa chọn hàng hoá cho thị trường. Cụ
thể, ta có thể xem qua một vài chiến lược cơ bản của quyền chọn như sau:
Bán quyền chọn bán
Người bán quyền chọn bán có trách nhiệm mua cổ phiếu của người mua quyền chọn
bán ở mức giá thực hiện. Người bán quyền chọn bán có lợi nhuận nếu giá cổ phiếu tăng và
vì vậy mà quyền chọn bán không được thực hiện trong trường hợp đó người bán giữ hoàn
toàn khoản phí.
Ngược lại nếu giá cổ phiếu giảm đến mức quyền chọn bán được thực hiện, người bán
quyền chọn bán bị buộc phải mua cổ phiếu với giá cao hơn giá trị của thị trường.
Mua quyền chọn bán
Mua quyền chọn bán là một chiến lược dành cho thị trường giá xuống. Mức lỗ tiềm
năng được giới hạn trong phí quyền chọn được chi trả, mức lợi nhuận tiềm năng lớn.
Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn thấp hơn giá thực hiện, quyền chọn bán là cao giá ITM
và sẽ được thực hiện.
Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, quyền chọn bán là kiệt
giá OTM hoặc ngang giá ATM.
Mua quyền chọn mua
Mua quyền chọn mua là một chiến lược tăng giá có mức lỗ có giới hạn (phí quyền
chọn) và có mức lợi nhuận tiềm năng không giới hạn.
Bán quyền chọn mua
Bán quyền chọn mua là một chiến lược kinh doanh giá xuống và mang lại lợi nhuận có
giới hạn chính là phí quyền chọn nhưng mức lỗ thì vô hạn.
Bán quyền chọn mua với giá thực hiện thấp hơn có mức lợi nhuận tối đa cáo hơn
nhưng mức lỗ do giá tăng cũng cao hơn.
Với giá cổ phiếu cho trước, vị thế bán quyền chọn mua được duy trì càng lâu, giá trị
thời gian càng mất dần và lợi nhuận càng lớn.
Hình a: giá lên,
người mua quyền chọn
mua lời tối đa bằng (S
T

nhất định tại một thời hạn xác định với mức giá xác định tại thời điểm thoả thuận giao
dịch. HĐGS là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa về tài sản cơ sở mua bán, số lượng các
đơn vị tài sản cơ sở mua bán, thể thức thanh toán và kỳ hạn giao dịch.
1.2. Vai trò của hợp đồng quyền chọn và hợp đồng giao sau đối với TTCK.
1.2.1. Quản trị rủi ro
Trong một thị trường ta biết rằng, các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro khác nhau. Một số
nhà đầu tư có khả năng chấp nhận rủi ro tốt hơn các nhà đầu tư khác. Tuy nhiên, tất cả các
nhà đầu tư đều muốn giữ cho khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận
được. Thị trường quyền chọn và giao sau cung cấp một cơ chế hiệu quả cho phép tránh rủi
ro và dịch chuyển rủi ro từ những người không thích rủi ro sang những người chấp nhận
rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận.
1.2.2. Công cụ đầu tư.
Đây là một vai trò hết sức quan trọng của hợp đồng quyền chọn và giao sau. Các nhà
đầu cơ sử dụng các HĐQC, HĐGS như một công cụ đầu cơ để kiếm lời, Sở dĩ người đầu
cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để tham gia thị trường này là vì công cụ đòn bẩy tài chính
của nó.
Đối với HĐQC, ngoài lợi thế chỉ chịu một mức phí cụ thể trên hợp đồng, thì nhà đầu
cơ có quyền không thực hiện hợp đồng nếu biến động giá của tài sản cơ sở không theo như
những gì họ dự đoán.

1.2.3. Một công cụ dùng để đánh giá thị trường
Các thị trường quyền chọn và giao sau là nguồn thông tin rất quan trọng đối với giá cả.
Đặc biệt thị trường giao sau được xem như là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao
ngay của một tài sản. Như chúng ta thấy, do giá giao ngay chứa đựng cùng một loại thông
tin, như việc chiết tách thông tin đó từ thị trường giao ngay sẽ khó khăn hơn từ thị trường
giao sau. Hơn nữa, trong hầu hết các trường hợp, thị trường giao sau thường sôi động hơn,
và vì vậy, thông tin từ thị trường này thường được xem là đáng tin cậy hơn thông tin trên
thị trường giao ngay. Do đó, thị trường giao sau cung cấp những thông tin hiệu quả để hình
thành giá.
Còn thị trường quyền chọn tuy không trực tiếp phản ánh dự đoán về giá giao ngay

trên thị trường mà nhận biết được sự đánh giá của thị trường đối với công ty mình, điều
này giúp công ty có những điều chỉnh kịp thời trong chiến lược kinh doanh để giữ uy tín
của công ty trên thị trường.
Như vậy, thông qua chứng khoán phái sinh giúp người đầu tư giám sát gián tiếp hoạt
động của các CTNY. Khi có thêm người giám sát, đòi hỏi CTNY phải nỗ lực hơn trong
hoạt động kinh doanh của mình.
1.3. Điều kiện để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau.
1.3.1. Phải có hệ thống cơ sở pháp lý hoàn thiện.
TTCK muốn thu hút nhiều nhà đầu tư, trước hết phải tạo cho nhà đầu tư tâm lý được
kinh doanh một cách công bằng trên thị trường. TTCK ổn định và phát triển là thị trường ít
xãy ra gian lận, phạm pháp; mọi hành vi sai phạm phải xử lý nghiêm minh, chính xác. Thị
trường đó chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở có hệ thống pháp luật hoàn thiện.
Trên TTCK nhiều rủi ro, quyền chọn và giao sau có phương thức giao dịch khá đặc
biệt có sự tham gia của nhiều bên như: người mua, người bán, CTCK, CTNY, công ty
thanh toán, công ty lưu ký,…Do đó, luật pháp phải điều chỉnh mọi hành vi của các đối
tượng này để đảm bảo nghĩa vụ cũng như quyền lợi của các bên tham gia. Như vậy, để
quyền chọn và giao sau được ứng dụng có hiệu quả cần phải có hệ thống văn bản pháp luật
điều chỉnh hoạt động của thị trường phái sinh chứng khoán, TTCK theo hướng bao quát,
toàn diện và phù hợp với thực tiễn thị trường.

1.3.2. Điều kiện về hàng hóa trên TTCK.
HĐQC và HĐGS chứng khoán được giao dịch dựa trên biến động của giá chứng
khoán. Do đó, muốn thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán hình thành và phát
triển thì thị trường TTCK phải phát triển đến một mức độ nhất định đảm bảo cả về số
lượng chứng cũng như chất lượng của chứng khoán. Nếu số lượng chứng khoán trên thị
trường càng lớn, chất lượng càng cao, biến động của chứng khoán càng lớn và mang tính
chất ngẫu nhiên thì nhu cầu về sản phẩm phái sinh cho chứng khoán càng nhiều.
1.3.3. Điều kiện về thông tin trên thị trường
Các giao dịch quyền chọn đều dựa trên sự biến động của giá chứng khoán cơ sở dựa
vào phản ứng của nhà đầu tư trên thị trường thông qua những thông tin nhận được. Do đó,

USD, tương đương với 27% giao dịch toàn cầu (và chiếm 78,1% tổng giao dịch toàn Châu
Á). Hàn Quốc là nước có tỷ lệ giao dịch quyền chọn chỉ số chứng khoán cao. Quy mô của
thị trường phái sinh chứng khoán Hàn Quốc khá lớn, điều này được giải thích bởi sự đầu tư
kỹ càng cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của sàn giao dịch tập trung và một nền tảng pháp lý
thuận lợi cũng như cơ cấu giám sát hợp lý. KOFEX cung cấp các sản phẩm phái sinh tương
đối đơn giản cho các nhà đầu tư cá nhân với chi phí giao dịch và yêu cầu ký quỹ thấp, các
giao dịch đều dựa trên Internet. Tại Singapore, vào tháng 8/2004, Sở giao dịch Singapore
đã giới thiệu phần mềm giao dịch phái sinh, SGX QUEST (phục vụ cho hệ thống quản lý
và yết giá giao dịch), nhằm tạo ra một hệ thống giao dịch tập trung cho TTCK và thị
trường phái sinh.
Sự phát triển của các thị trường phái sinh chứng khoán như Hàn Quốc, Ấn Độ và
Singapore ở Châu Á lại một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng vững
mạnh. Các quốc gia nêu trên đã có những nỗ lực trong việc xây dựng một hệ thống giao
dịch điện tử hiện đại, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia.
Phát triển nguồn nhân lực.
Đối với một thị trường cao cấp như thị trường phái sinh nói chung và nền kinh tế nói
riêng, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển. Nhận thức được điều này, các thị
trường phát triển trên thế giới đều là những thị trường có đội ngũ nhân lực có trình độ cao,
am hiểu thị trường với kiến thức chuyên môn vững chắc, có nhiều kinh nghiệm về thị
trường, với các viện đào tạo chuyên môn có uy tín.
Học viện Options (The Options Institute)-cánh tay phải của CBOE, là cơ quan dẫn đầu
về giáo dục quyền chọn. Thành lập năm 1985, Học viện này đã góp phần không nhỏ vào sự
phát triển của CBOE nói riêng và thị trường quyền chọn nói chung. Mỗi năm, Học viện
tiếp nhận hàng trăm lớp trên toàn thế giới, giáo dục cho hàng ngàn nhà đầu tư, nhà môi
giới, nhà tư vấn và các nhà quản lý.
1.4.2. Xây dựng một hành lang pháp lý với các chính sách công bằng và hợp lý,
hệ thống giám sát minh bạch.
Tại các thị trường đã phát triển trên thế giới, các hợp đồng phái sinh đã được xây dựng
và đã được kiểm định thực tế, với một cơ cấu pháp lý phát triển mạnh và một hệ thống
giám sát phù hợp (ở thị trường tập trung); trong khi đó tại một số nước Châu Á, hệ thống

hóa đã làm cho thị trường phái sinh Singapore trở nên linh hoạt hơn. Các chính sách này đã
góp phần thu hút các thành viên mới và các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường phái sinh
Singapore và do đó lại tăng tính thanh khoản cho thị trường.
1.4.4. Những mặt trái của công cụ phái sinh.
Một công cụ nào cũng đều có hai mặt của nó, công cụ phái sinh ngoài một mặt là
phòng ngừa rủi ro cho các nhà đầu tư, mà nó còn có thể tạo ra những rủi ro mới nếu chúng
ta lạm dụng vào các mục đích bất chính. Chúng ta có thể xem qua các bài học dưới đây.
Bài học kinh nghiệm của Enron là một số tồn tại trong việc hoạch toán và kiểm soát
rủi ro. Chính vì độc quyền trong việc quản lý, kiểm soát, điều hành công ty mà các nhà
quản lý của Enron đã phù phép số liệu kế toán, đẩy giá cổ phiếu lên cao, khi đó giá quyền
chọn mua cũng tăng theo. Và khi Enron phá sản, đã gây thua lỗ hàng tỷ USD cho nhiều
nhà đầu tư.
Đối với Barings Bank, năm 1995, Nick Leeson đã gây thiệt hại 850 triệu bảng Anh
(tương đương1,2 tỷ euro) cho ngân hàng Barings khi là nhân viên giao dịch chứng khoán
trẻ mới 28 tuổi. Vào giữa thập kỷ 90, chính một mình Nicolas Leeson lại thu về 30% tổng
số lợi nhuận của ngân hàng Barings. Với ngân hàng Barings, kinh doanh theo lối cũ chưa
bao giờ đem lại được số lợi nhuận lớn như vậy. Và lúc đó, nhân viên ngân hàng Nicolas
Leeson hoạt động trên thị trường phái sinh có thể bán lại với giá cao hơn 200 lần. Thị
trường này cũng được đánh giá là rất nhiều rủi ro. Chính bản thân Peter Barings đã phải
thốt ra: “Thị trường mới này cần được kiểm tra và làm chủ, đó là điều tôi đang làm ở đây”.
Tuy nhiên, trên thực tế Barings ở London nhắm mắt làm ngơ, để mặc cho Nicolas Leeson
muốn làm gì thì làm. Nicolas Leeson nắm cả khâu kinh doanh lẫn khâu kiểm soát, thật là
một điều hiếm thấy trong kinh doanh ngân hàng. Và điều gì đến đã đến. Đó là một bài học
lớn từ việc coi thường rủi ro và kinh doanh không tính toán.
Hay như bài học kinh nghiệm của thị trường Mỹ. Năm 1986, kinh tế Mỹ đã có dấu
hiệu suy giảm, tuy nhiên, TTCK Mỹ lại phát triển rất nhanh chóng với tốc độ từ 18,5% lên
tới 43,6% vào giữa tháng 8/1987. Cùng lúc, Cục Dự trữ liên bang Mỹ đang phải tập trung
để đối phó với cơn lạm phát và tỷ lệ lãi suất tiền gửi ngân hàng đang ở mức rất cao. Tình
hình chung này kết hợp với xu hướng kinh doanh ăn chênh lệch chỉ số, sự thiếu tính thanh
khoản của thị trường và tâm lý đầu tư theo kiểu "đám đông" đã góp phần tạo ra Ngày thứ

2.1.1. Tổng quan TTCK trong thời gian qua.
Cách đây hơn 7 năm, vào ngày 20-7-2000, công chúng và các giới chuyên môn rất
náo nức đón chờ một sự kiện đánh dấu bước tiến và chuyển mình rất đáng khích lệ của nền
kinh tế nước ta theo xu thế hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đó là sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng
khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM), một thị trường giao dịch chứng khoán chính thức
đầu tiên tại Việt Nam. Từ ngày này trở đi, bên cạnh việc huy động vốn cổ điển từ hệ thống
ngân hàng thương mại, nền kinh tế Việt Nam có thêm một kênh huy động và hỗ trợ vốn
trung dài hạn mới. Bảy năm là khoảng thời gian không dài, nhưng cũng đủ để TTCK chính
thức, từng bước đặt những nền tảng vững chắc cho tiến trình hoạt động, phát triển lâu dài
và bền vững của TTCK VN trong thời gian tới.
Thực trạng TTCK Việt Nam.
TTCK chính thức Việt Nam ra đời tuy còn rất mới mẻ nhưng cũng thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Từ khi đi vào hoạt động, TTCK đã đạt được một số thành
tựu nhất định rất đáng khích lệ như:
Hàng hóa được giao dịch trên thị trường ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Thực
hiện chủ trương của Chính phủ trong việc thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa kết hợp với việc
thúc đẩy sự phát triển của TTCK. Năm 2007, trên cả hai sản thành phố Hồ Chí Minh và Hà
Nội gồm có 274 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ (trong đó sàn TP.HCM là 154 và sàn
Hà Nội là 120), nếu ta so với năm 2006 là 193 (tăng 42%) và năm 2005 là 38 (tăng 621%).
Về số lượng công ty niêm yết tuy có tăng lên , nhưng các “đại gia” mới chỉ có lác đác.
Các “đại gia” đã niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường đạt trên 1.000 tỷ đồng (tức đạt trên
62,5 triệu USD) ở cả hai sàn mới đạt 70 (sàn TP.HCM 53, sàn Hà Nội 17), trong đó số đạt
từ 10 nghìn tỷ đồng trở lên (tức trên 625 triệu USD) mới có 13 (sàn TP.HCM có 10, sàn
Hà Nội 3). Như vậy, công ty niêm yết giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất Việt Nam cho đến
cuối năm 2007 đạt chưa được 2,7 tỷ USD và số công ty niêm yết đạt từ 1 tỷ USD trở lên
hiện mới có 10 công ty.
Nếu ta nhìn tổng thể, đem so
sánh với tổng số công ty cổ phần
ở Việt Nam thì chỉ chiếm khoản

Năm

HOSTC HASTC

Số Cty
niêm yết

Giá trị vốn
hóa thị
trường
Số Cty
niêm
yết
Giá trị vốn
hóa thị
trường
2000 5

1.046
2001 10

1.605
2002 20


145.896

87

73000

2007

138

364.425

120

131000

Nguồn: Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM và
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
trong khi đó ở Thái Lan là 314 triệu USD/ngày, Mỹ - NYSE, đạt 60 – 70 tỷ USD/ngày, Đài
Loan 3 tỷ USD/ngày, Hồng Kông 3.2 tỷ USD…
Hoạt động giao dịch tại thị trường cũng từng bước có những khởi sắc nhất định. Số
lượng các nhà đầu tư tham gia vào thị trường liên tục tăng qua các năm, nếu như vào cuối
năm 2000 mới chỉ 2.997 tài khoản giao dịch, thì cuối năm 2007 thị trường Việt Nam có
trên 307.000 tài khoản trong đó có 297.935 nhà đầu tư trong nước và 9.065 nhà đầu tư
nước ngoài và tăng gấp 3 lần so với năm 2006. Mặc dù tăng nhanh so với các thời điểm
trước đây, nhưng so với dân số thì chiếm chưa đến 0,4%, thấp rất xa so với nhiều nước
trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới (Trung Quốc là 7%). Cụ thể được thể hiện qua
bảng dưới:
Bảng 2: số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam
(2000-2007)


99,47%

0,53%

2003 16404

98

16502

99,41% 0,59%
2004 21383

233

21616

98,92% 1,08%
2005 30951

365

31316

9,83% 1,17%
2006 104328

2065


biến động mạnh mà hậu quả làm cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ dễ bị thua lỗ nặng.
2.1.2. Tìm ẩn nhiều rủi ro trên TTCK.
Với hoạt động của thị trường đã được vận hành hơn 7 năm, với môi trường pháp lý
điều chỉnh thị trường chưa hoàn chỉnh, giá chứng khoán cũng lên xuống khó lường, tính
chuyên nghiệp của các nhà đầu tư còn thấp, cơ chế quản lý các hoạt động trên TTCK nhìn
chung còn khá lỏng lẻo và chưa bao quát, nhất là TTCK tự do, hoạt động của các quĩ đầu
tư nước ngoài…Sự non trẻ của thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng sẽ dễ
gây nên những rủi ro và mức độ rủi ro của TTCK Việt Nam sẽ cao hơn mức rủi ro vốn có
của TTCK. Những rủi ro này có thể đẩy nhà đầu tư vào trò chơi đây nguy hiểm với thị
trường, ở đó NĐT có thể trở thành
người giàu có nhất và cũng có thể trở
nên trắng tay trong giây lát. Để nhìn
nhận rủi ro ở TTCK chúng ta có thể,
nhìn nhận qua sự biến động của các
chỉ số cụ thể ở đây là sự biến động
của VN Index.
Nhìn vào chỉ số VN-Index trong
thời gian qua. Ta có thể thấy rằng giá
trong thời gian qua, nhất là từ năm
2006 đến nay tình hình biến động rất
mạnh. Như ta thấy ở đồ thị: đối với
giai đoạn từ năm 2000 đến khoảng
đầu 2006 do TTCK còn mới thành lập, các cổ phiếu được niêm yết còn thấp, số lượng nhà
đầu tư trong nước cũng như nước ngoài
còn hạn chế, chỉ số Vn-Index tương đối
ổn định, giao động nhẹ trong khoản
dưới 300 điểm.
Đối với giai đoạn năm 2006 khi
mà số lượng các nhà đầu tư cũng như
các công ty niêm yết trên thị trường

năm
TSSL
năm
2001

18.44%

63.87%

70.50%

2002 6.42% 22.24% 42.35%
2003

8.97%

31.08%

-
4.09%

2004 11.38% 39.41% 40.89%
2005

4.12%

14.28%

30.87%


một nhu cầu cần thiết. Cụ thể, việc áp dụng quyền chọn và giao sau sẽ giúp TTCK Việt
Nam giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất: Cung cấp cho nhà đầu tư một công cụ nhằm phòng ngừa rủi ro.
Đối với thị trường mới nổi như Việt Nam, thì việc biến động mạnh của TTCK sẽ đặt
các nhà đầu tư vào rủi ro rất lớn. Mặt khác, do mức thu nhập của người dân nước ta còn
Bảng 4: Tỷ suất trung bình/năm và độ lệch
chuẩn năm của các nước (02/08/2000–01/04
/2008)
Chỉ số Index
TSSL trung
bình/năm
Độ lệch
chuẩn năm

VN-Index
(Việt Nam)
31.00% 45.20%
SSE (Trung
Quốc)
10.64% 29.09%
BSE (ấn độ) 20.31% 25.41%
JKSE(indonesia)

23.18% 21.72%
Straits Time
Index(singapore)

6.59% 17.54%
Malaysia
(KTSE)

ngoài nước, điều này làm cho chi phí sử dụng vốn của nền kinh tế rất cao. Do vậy, việc cần
thúc đẩy thu hút nguồn vốn cả trong lẫn ngoài nước của Việt Nam với chi phí thấp hơn, thì
kênh TTCK là kênh rất quan trọng và hiệu quả cho mục đích này. Và việc áp dụng công cụ
quyền chọn và giao sau vào Việt Nam, với những ưu điểm vốn có của mình, sẽ tác động
trực tiếp và gián tiếp nhằm thúc đẩy sự phát triển TTCK như:
Bằng những công cụ phòng ngừa rủi ro sẵn có trên thị trường, các công ty tài chính,
quỹ đầu tư, thậm chí các nhà đầu tư riêng lẻ sẽ dần thay đổi định kiến sẽ đầu tư ngắn hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status