Phân tích cung - cầu của cafe trong giai đoạn 2004 - 2010 - Pdf 10

Tiểu luận
Phân tích cung - cầu
của cafe trong giai
đoạn 2004 - 2010
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một nước gió mùa nhiệt đới,có khí hậu nóng ẩm quanh năm,có một
vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày,có khả
năng xuất khẩu cao…Càphê là một trong những loại cây trồng đó,hiện nay ở Việt Nam,cà
phê là mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu lớn thứ hai sau gạo.Thực tế đã cho
thấy,trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới thì xuất khẩu càphê đóng một
vai trò quan trọng,không những là kênh huy động nhập khẩu máy móc phục vụ công
nghiệp hóa đất nước mà còn là cán cân thương mại quan trọng trong tất cả các quan hệ
thương mại trên thế giới.Tuy nhiên để xuất khẩu càphê thật sự trở thành một trong những
thé mạnh của Việt Nam,điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,yếu tố bên trong và yếu
tố bên ngoài…từ sự tác động của nhà nước,doanh nghiệp,hiệp hội…đến sự tác động của
thị trường thế giới…
Với mong muốn là tìm hiểu một cách sâu sắc hơn về cung – cầu của cafe trông nước
cũng như thế giới,em xin đưa ra đề tài nghiên cứu của nhốm mình nghiên cứu đề tài :
“phân tích cung-cầu của cafe trong giai đoạn 2004 - 2010”
Để hoàn thành được đề tài này,em xin chân thành cảm ơn cô giáo Hồ Thị Mai Sương
đã cung cấp phần lớn kiến thức và phương pháp luận cho em ngay từ khi lựa chọn đề tài
đến khi hoàn thành.Ngoài ra em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể thầy cô trong thư
viện trường ĐH Thương Mại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài
liệu phục vụ cho đề tài này.
PHẦN I. LÝ LUẬN
I.Cầu (DEMAND):
1.Cầu:
-Khái niệm cầu (D): phản ánh lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua muốn mua và
có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một giai đoạn nhất định và giả định
rằng tất cả các yếu tố khác là không đổi.
-Phân biệt cầu và lượng cầu:

-Kỳ vọng về thu nhập.
-Kỳ vọng về giá cả.
-Các yếu tố khác.
7.Sự di chuyển và sự dịch chuyển đường cầu:
-Sự di chuyển (trượt dọc) trên đường cầu:
+Sự thay đổi vị trí của các điểm khác nhau trên cùng một đường cầu.
+Do giá của bản thân hàng hóa đang xét thay đổi.
-Sự dịch chuyển đường cầu:
+Đường cầu thay đổi sang một vị trí mới (sang phải hoặc sang trái).
+Do các yếu tố ngoài giá của bản thân hàng hóa đang xét thay đổi.
8.Độ co dãn của cầu theo giá :
-Khái niệm:
+Là hệ số giữa phần tram thay đổi trong lượng cầu của một mặt hàng với phần
trăm thay đổi trong giá của một mặt hàng đó (giả định tất cả các yếu tố khác không đổi)
+Nó đo lường phản ứng của lượng cầu trước sự biến động về giá cả.
+Nó cho biết khi giá của hàng hóa tang 1% thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm
bao nhiêu % và ngược lại.
-Công thức tính:
+Công thức tổng quát:
+Độ co giãn điểm:
+Độ co giãn không có đơn vị tính và luôn là một số không dương.
+Độ co giãn khoảng:
-Các trường hợp độ co dãn:
khi Cầu co dãn
khi Cầu kém co dãn
khi Cầu co dãn đơn vị
=> Cầu không co dãn
=> Cầu hoàn toàn co dãn
II.Cung (SUPPLY):
1.Cung:

-Yếu tố khác: thiên tai, dịch bệnh.
7.Sự di chuyển và sự dịch chuyển đường cung:
-Sự di chuyển (trượt dọc) trên đường cung:
+Sự thay đổi vị trí của các điểm khác nhau trên cùng một đường cung.
+Do giá của bản than hàng hóa đang xét thay đổi.
-Sự dịch chuyển đường cung:
+Đường cung thay đổi sang một vị trí mới (sang phải hoặc sang trái).
+Do các yếu tố ngoài giá của bản thân hàng hóa đang xét thay đổi.
8.Độ co giãn của cung theo giá :
-Khái niệm:
+Là tỷ lệ giữa phần trăm thay đổi trong lượng cung của một mặt hàng với
phần trăm thay đổi trong giá của mặt hàng đó (giả định các yếu tố khác không đổi)
+Nó cho biết khi giá cả của hàng hóa thay đổi 1% thì lượng cung của hàng
hóa đó thay đổi bao nhiêu %.
-Công thức tính:
+Công thức tổng quát:
+Độ co giãn điểm:
+Độ co giãn không có đơn vị tính và luôn là một số không âm.
+Độ co giãn khoảng:
-Các trường hợp độ co dãn:
=> Cung co dãn
=> Cung kém co dãn
=> Cung co giãn đơn vị
=> Cung không co dãn
=> Cung hoàn toàn co dãn
PHẦN II. THỰC TRẠNG
Trong những năm gần đây Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê
đứng thứ hai thế giới sau Brazil. Thực tế cho thấy răng kể từ những năm 90 đến
nay, ngành ca phê ở nước ta có những tăng trưởng vượt bậc và cà phê trở thành
ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế nước ta, đặc biệt là nền kinh tế nông

arabica), năng suất thường đạt từ 400 - 600 kg/ha, có một số điển hình thâm canh
tốt đã đạt trên 1 tấn/ha. Hạn chế lớn nhất đối với việc trồng cà phê chè ở miền Bắc
là tác hại của sâu bệnh. Sâu đục thân (Xylotrechus quadripes) và bệnh gỉ sắt cà
phê (Hemileia vastatrix), là hai đối tượng sâu bệnh hại nguy hiểm nhất. Diện tích
trồng cà phê ở miềm Nam trước ngày giải phóng chủ yếu là giống cà phê vối
(Canephora robusta), một số diện tích nhỏ cà phê chè được trồng ở Lâm Đồng.
Năng suất cà phê vối trong thời kỳ này thường đạt trên dưới 1 tấn/ha, ở một số đồn
điền có quy mô vừa và nhỏ cũng đã đạt năng suất từ 2 - 3 tấn/ha. Tính đến cuối
năm 1994, tổng số diện tích cà phê ở nước ta đã có khoảng 150.000 ha và sản
lượng vụ năm 1993/1994 đã đạt trên 150.000 tấn. Vụ cà phê năm 1994/1995 ước
đạt 180.000 tấn. Năng suất bình quân trên diện tích cà phê kinh doanh đã đạt trên
1,2 tấn/ha, nhiều nông trường có quy mô từ 400 - 1500 ha đã đạt năng suất bình
quân từ 2,5 - 3 tấn/ha. nhiều vùng liền khoảnh rộng tới vài trăm hecta, nhiều chủ
hộ nhận khoán, nhiều vườn cà phê tư nhân đã đạt được năng suất từ 4 - 6 tấn/ha,
cá biệt có một số điển hình đạt từ 8 - 10 tấn/ha. Từ một vài năm gần đây cây cà
phê chè đã được phát triển mở rộng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc với tổng diện
tích khoảng 7.000 ha bao gồm: Sơn La, Tuyên Quang, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Lai
Châu, Lạng Sơn, Hòa Bình, Yên Bái v.v
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hiện có
536.959 ha đất canh tác cà phê, trong đó gần 90% diện tích cà phê ở khu vực Tây
Nguyên.
Tăng 0,6% so với năm 2009. Trong đó diện tích thu hoạch được ước tính ở
mức 515.000 héc ta, tăng 1% so với năm 2009. Nhiều nông dân đã mở rộng diện
tích trồng cà phê trung bình khoảng 2.000 ha/năm. Diện tích trồng cà phê Arabica
hiện nay khoảng 35.000 ha chiếm khoảng 6% tổng diện tích cà phê của cả nước.
1.2. Sản lượng cafe
Còn về sản lượng,theo USAD, sản lượng nước ta niên vụ 2008/2009 đạt
khoảng 18 triệu bao (tương đương 1,08 nghìn tấn), tăng 3,8% so với niên vụ trước.
Dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2009/2010 sẽ giảm xuống còn khoảng 17,5 triệu
bao (tương đương 1,05 nghìn tấn). Chính phủ vẫn tiếp tục khuyến khích nông dân

0
Nguồn: Bộ Nông nghiệp & PTNN
Do thời tiết mưa kéo dài trong thời gian ra hoa và thu hoạch cây cà phê tại
Đắk Lắk và Lâm Đồng nên sản lượng cà phê nước ta niên vụ 2009/2010 sẽ giảm
xuống còn 17,7 triệu bao (tương đương, giảm 3% so với niên vụ trước). Việc cây
cà phê ra hoa muộn và không đồng đều cũng là nguyên nhân khiến việc thu hoạch
gặp nhiều khó khăn, nhất là khi hạt cà phê đã chín và còn xanh cùng mọc trên
cùng một cây. Điều kiện thời tiết không thuận lợi cũng làm cho chất lượng và kích
thước hạt cà phê không được đồng đều. Ngoài ra, thiếu nhân lực cũng khiến cho
chi phí thuê nhân công thu hoạch cao hơn so với niên vụ trước. Mưa xối xả tại một
số vùng trong thời gian thu hoạch cũng khiến người nông dân gặp nhiều khó khăn
trong việc sấy khô cà phê. Sản lượng trung bình niên vụ 2009/2010 dự báo khoảng
2,09 mét tấn/ha, thấp hơn 3% so với niên vụ trước. Đầu năm 2010, bất chấp những
dự báo khá lạc quan về kinh tế toàn cầu cũng như tình hình tiêu thụ và dự trữ cà
phê thế giới, viễn cảnh về một năm khởi sắc trở lại của cà phê Việt Nam dường
như vẫn không mấy sáng sủa. Tính cả ba tháng đầu năm, giá và lượng cà phê xuất
khẩu của Việt Nam đã giảm xuống mức thấp nhất so với cùng kỳ ba năm trở lại
đây.
Thêm vào đó, nếu giá vật tư đầu vào tiếp tục tăng cao trong khi giá bán cà
phê ở mức thấp như năm 2009, nông dân sẽ giảm lượng phân bón, số lần tưới
nước, không trồng mới thay thế cà phê già cỗi Trước khi kết thúc năm 2009,
ngành cà phê Việt Nam đã rất lạc quan tin tưởng sang năm 2010, xuất khẩu cà phê
sẽ nhanh chóng hồi phục bởi lượng cung trên thị trường thế giới giảm trong khi
cầu tăng. Song, diễn biến tiêu thụ cà phê những tháng đầu niên vụ 2010 đang đi
ngược lại dự báo.
Bấy lâu, nông dân Việt Nam luôn rơi vào vòng luẩn quẩn được mùa rớt giá,
nhưng với ngành cà phê thời gian này, nghịch lý đã xảy ra, sản lượng giảm, song
giá lại tụt giảm thê thảm. Theo Bộ NN&PTNT, lượng cà phê còn tồn trong cả
nước tính đến thời điểm này khoảng 600.000 tấn. Sau hơn 3 tháng chờ giá, nông
dân đã bắt đầu bán tháo do áp lực nợ vay, do cần vốn đầu tư cho vụ mới. Theo tính

gấp 2,72 lần tiêu thụ của nông thôn (0,89 kg). Trong khi đó, giá trị tiêu thụ bình
quân đầu người của thành thị đạt 20.280 đồng, cao gấp 3,5 lần mức của nông thôn.
Bộ số liệu VHLSS cũng phân chia tiêu thụ cà phê thành hai loại cà phê bột
và cà phê uống liền.
Tình hình tiêu thụ của cả hai loại cà phê bột và cà phê uống cũng có sự
khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn. Khu vực thành thị tiêu thụ cà phê uống
liền nhiều gấp 2,74 lần khu vực nông thôn, trong khi đó, chênh lệch về giá trị tiêu
thụ loại cà phê này là gần 5 lần giữa hai khu vực. Giá trị tiêu thụ tiêu thụ cà phê
bột ở khu vực thành thị lớn gấp 2,65 lần khu vực nông thôn (7,8 và 2,9 nghìn
đ/người/năm).
Sự khác biệt lớn về giá trị tiêu thụ có thể do giá ở khu vực thành thị cao
hơn khu vực nông thôn nhờ mức sống cao hơn. Năm 2004, tổng chi tiêu khu vực
thành thị khoảng 27 triệu đồng trong khi tổng chi tiêu ở khu vực nông thôn chỉ có
khoảng 12 triệu đồng.
Ngoài ra, chênh lệch về giá trị cũng có thể do chất lượng cà phê bán tại thị
trường thành thị cao hơn thị trường nông thôn. Tuy nhiên, chưa có một
nghiên cứu nào khẳng định rõ nhận định này.
Các hộ gia đình được chia làm 5 nhóm dựa trên thu nhập của hộ, mỗi nhóm
chiếm 20% tổng số hộ, từ nhóm nghèo nhất (quintile 1) đến nhóm giàu nhất
(quintile 5).
Tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tăng dần từ nhóm có thu nhập thấp
nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất. Trong đó, lượng tiêu thụ cà phê của nhóm 5
cao hơn nhóm 1 đến gần 18 lần, tuy nhiên, giá trị tiêu thụ chỉ chênh lệch khoảng
gần 9 lần. Như vậy, về mô tả thống kê, tiêu thụ cà phê có xu hướng thay đổi theo
thu nhập.
Tình hình tiêu thụ cà phê bột và uống liền cũng diễn biến theo xu hướng
trên, tuy nhiên, lượng cà phê bột tiêu thụ thấp hơn nhiều so với lượng cà phê uống
liền. Ở nhóm thu nhập cao nhất, lượng cà phê uống liền được tiêu thụ nhiều gấp
9,4 lần lượng cà phê bột. Trong khi đó, ở nhóm nghèo nhất, mức chênh lệch này là
9,8 lần.

Một số nghiên cứu gần đây được Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra cho thấy
tiềm năng thị trường cà phê nội địa của Việt Nam có thể tiêu thụ tới 70.000
tấn/năm. Nghĩa là với sản lượng cà phê hàng năm thu hoạch được 700.000 -
800.000 tấn thì lượng cà phê tiêu thụ nội địa của Việt Nam ở mức xấp xỉ 10%.
Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của cuộc điều tra mức sống dân cư ở trên thì nếu
mức tiêu thụ bình quân đầu người cà phê của Việt Nam đạt 1,25 kg/người/năm thì
năm 2004, mức tổng tiêu thụ cả nước phải đạt khoảng 95,000 tấn. Trong khi đó
theo Hiệp hội Cà phê thế giới, tiêu dùng nội địa của cà phê Việt Nam hiện chỉ đạt
khoảng 5%, thấp nhất trong số các nước sản xuất cà phê. Mức chênh lệch này càng
"khập khiễng" nếu so với sản lượng tiêu dùng cà phê nội địa của các nước thành
viên Hiệp hội Cà phê thế giới là 25,16y%. Truớc tình hình mức tiêu thụ nội địa
thấp như trên, một số hãng sản xuất trong nước và liên doanh cà phê Việt Nam đã
liên tục đưa ra những chiến lược kinh doanh khác nhau nhằm thu hút khách hàng.
Theo kết quả điều tra của Công ty Cà phê Trung Nguyên thì Trung Nguyên,
Nestcafe và Vinacafe là 3 hãng sản xuất bán cà phê nhiều nhất và được ưa chuộng
nhất ở Việt Nam hiện nay.
Các hãng cà phê này áp dụng nhiều chiến lược kinh doanh cà phê khác
nhau.
Mở rộng kênh tiếp thị và tiêu thụ nội địa bằng cách phục vụ nhu cầu thưởng
thức cà phê hòa tan hay pha sẵn cũng đang là cách mà một số công ty cà phê đang
lựa chọn. Ngoài "chuỗi" quán cà phê Trung Nguyên, một loạt nhãn hiệu khác như
Highland, Phúc Ban Mê, cà phê Buôn Mê Thuột lần lượt mở các cửa hiệu cà phê
tại các đô thị lớn như TP HCM, Cần Thơ, Quy Nhơn Song hiệu quả thì, "mục
đích là để quảng bá và giới thiệu sản phẩm chứ không đặt nặng vấn đề doanh thu",
giám đốc một công ty chế biến cà phê tại Buôn Mê Thuột nhận định.
1
Theo phân tích của giới kinh doanh cà phê chế biến, một trở ngại khác
khiến cho cà phê Việt Nam khó tiêu thụ nội địa là do xu hướng uống cà phê "công
nghiệp" trong giới trẻ ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu nhanh trong nhịp sống
hiện đại. "Cà phê hòa tan trở thành xu hướng tiêu dùng chủ đạo hiện nay, càng đa

Kể từ trung tuần tháng 6 đến cuối năm, giá cà phê liên tục tăng và nhu cầu hàng
thật vẫn ở mức cao. Giá arabica giao kỳ hạn gần đã leo lên mức cao nhất trong
vòng 13 năm rưỡi ở 2,4175 đô la Mỹ/lb vào ngày 09/11 khi những quan ngại ngày
càng tăng về vấn đề nguồn cung ở Côlômbia và Trung Mỹ. Giá cà phê robusta
cũng liên tục tăng kể từ khi có thông tin về kế hoạch mua tạm trữ cà phê và vụ thu
hoạch phải trì hoãn đến 1 tháng do mưa kéo dài. Giá cà phê robusta đạt đỉnh của
năm 2010 ở 2.152 đô la Mỹ/tấn vào ngày 30/12, nhưng giá đóng cửa cao nhất lại
là 2.098 đô la Mỹ/tấn vào ngày 09/11 – đây là các mức cao nhất trong vòng hai
năm rưỡi qua.
Kết thúc năm 2010, giá cà phê arabica tăng 77% và đứng ở 2,4050 đô la Mỹ/lb,
giá cà phê robusta tăng 57% và chốt năm ở 2.097 đô la Mỹ/tấn.
Ở thị trường trong nước, giá cà phê nhân xô và xuất khẩu cũng biến động mạnh
trong năm qua, theo xu hướng của thị trường Luân Đôn. Giá cà phê xuất khẩu
chao đảo trong những tháng đầu năm và rơi xuống đáy của 5 năm là 1.160 đô la
Mỹ/tấn vào ngày 16/3. Giá tuy nhiên đã hồi phục sau đó và chạm mức cao nhất
của 28 tháng ở gần 2.000 đô la Mỹ/tấn, FOB, vào những ngày cuối năm. Giá cà
phê nhân xô cũng tăng mạnh và đạt 37,1 triệu đồng/tấn vào cuối năm 2010 – cao
nhất.

1.3. Tình hình xuất khẩu café nước ta nhưng năm gần đây
Số liệu Thống kê Hải quan mới nhất cho thấy, mùa vụ xuất khẩu cà
phê của Việt Nam thường từ cuối quý IV năm trước đến quý I năm
sau. Thế nhưng, quý I năm nay, giá và lượng cà phê xuất khẩu của
Việt Nam đạt mức thấp nhất so với cùng kỳ ba năm trở lại đây (từ
năm 2007).
Biểu đồ 1: Thống kê khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
2007 – tháng 3/2010
Trong quý I/2010, cà phê là mặt hàng duy nhất trong các nhóm hàng nông
sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng
kỳ năm 2009

Biểu đồ 2: Thống kê khối lượng, đơn giá và trị giá cà phê xuất khẩu của
Việt Nam theo quý trong giai đoạn 2005- 2010
Hiện nay Đức và Hoa Kỳ là hai thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của
Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), từ năm 2000
lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã vượt qua Côlômbia để vươn lên
trở thành nhà xuất khẩu lớn thứ hai cung cấp cà phê ra thị trường thế giới,
chiếm tỷ trọng khoảng 15,3% trong giai đoạn 2000 -2008. Hiện nay, Việt
Nam chỉ đứng sau Braxin với tỷ trọng chiếm gần ¼ lượng cà phê xuất
khẩu của thế giới. Trong nhiều năm qua, Đức và Hoa Kỳ vẫn là hai thị
trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của ViệtNam với tỷ trọng tính chung
khoảng 22% tổng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam. Sô liệu thống kê
của ICO cũng ghi nhận Đức và Hoa Kỳ cũng là hai thị trường nhập khẩu
cà phê lớn nhất thế giới nhưng thị phần cà phê của Việt Nam tại hai thị
trường này trong năm 2008 chỉ đạt tương ứng là 11,4% và 7,3%. Để có
thể tăng thị phần cà phê của Việt Nam tại hai thị trường này, các doanh
nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu thị hiếu của hai thị trường này đặc biệt là
Hoa Kỳ - thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chiếm gần 1/4
tổng lượng cà phê xuất khẩu của thế giới.
Mặc dù lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong quý I/2010 giảm mạnh
nhưng vẫn có 4/10 thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam đạt
tốc độ tăng trưởng dương về lượng là Anh, Nga, Indonexia và Angiêri.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khối lượng cà phê xuất khẩu của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Theo dự báo của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), trong niên vụ 2009-2010
sản lượng cà phê của toàn thế giới đạt 123,7 triệu bao (60 kg/bao), giảm
so với mức 128 triệu bao của niên vụ trước đó mà nguyên nhận chủ yếu là
do sản lượng của Brazil giảm cũng như sản lượng của Việt Nam,
Côlômbia và một số nước xuất khẩu Trung Mỹ khác cũng được dự đoán
giảm do thắt chặt nguồn cung hoặc do ảnh hưởng của thời tiết. Trong khi

Cụ thể là ở tỉnh này có tới 85% diện tích trồng cà phê do các hộ nông dân quản lý
nên không ổn định, bởi khi bị rớt giá thì hàng ngàn ha cà phê bị phá bỏ để chuyển
sang trồng loại cây khác; ngược lại khi giá cà phê tăng cao người tai lại đua nhau
trồng, bất chấp khuyến cáo của các nhà quản lý…
Theo một kết quả điều tra, trong số hơn 190.700 ha cà phê của tỉnh Ðắk Lắk chỉ có
khoảng 150.000 ha đáp ứng đủ các điều kiện kỹ thuật, diện tích còn lại không phù
hợp với điều kiện sinh thái trên địa bàn. Do đó, mỗi niên vụ cà phê, nông dân thiệt
hại hàng tỷ đồng vì sản phẩm không đạt phẩm cấp.
Mặt khác, diện tích cà phê tăng nhanh nhưng chủ yếu theo hướng tự phát, hầu hết
các hộ sử dụng cây giống thực sinh tự ươm, không qua chọn lọc, trong đó có tới
80% do tự lựa giống. Đây chính là nguyên nhân làm cho năng suất cà phê không
cao, kích thước hạt nhỏ, không đồng đều, chín không tập trung và thường bị nhiễm
bệnh gỉ sắt.
Bên cạnh đó, việc kiểm tra, giám sát việc chế biến, thu mua cà phê chưa được
quan tâm đúng mức. Hoạt động giao dịch thường qua các đầu nậu trung gian nên
người trồng cà phê thường bị ép giá, ăn chặn và làm khó dễ…
Đây cũng là những thách thức chung của ngành hàng cà phê Việt Nam.
Giải pháp phát triển
- Về nâng cao nhận thức: Phát triển cà phê bền vững là gắn chặt các lợi ích về kinh
tế - xã hội và môi trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới có ý nghĩa quyết
định đối với ngành cà phê nói riêng và nền kinh tế của tỉnh nói chung. Do đó, cần
tiếp tục tuyên truyền, vận động các hộ gia đình, các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh cà phê đảm bảo đúng qui trình, đúng tiêu chuẩn chất lượng để nâng cao giá
trị xuất khẩu, tăng thu nhập. Phát triển cà phê phải đảm bảo bền vững về môi
trường sinh thái, không vì lợi ích trước mắt mà sau đó phải tốn kém nhiều công
sức, tiền của để khắc phục hậu quả xấu về môi trường sinh thái.
- Về qui hoạch: Rà soát lại vùng quy hoạch sản xuất chuyên canh cà phê
theo 3 cấp: tỉnh, huyện và xã. Công tác quy hoạch phải có căn cứ khoa học, có tầm
nhìn xa, chú trọng việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên: đất, nước và môi
trường sinh thái ổn định bền vững; đồng thời, qui hoạch đầu tư nhà máy, thiết bị

tế của từng địa phương, đơn vị và người trồng cà phê mà vận dụng cho hiệu quả
để giảm giá thành. Nghiên cứu khắc phục các yếu kém về trình độ công nghệ thiết
bị chế biến và mức độ ô nhiễm môi trường. Phát triển công nghiệp chế biến cần
được coi là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình cải thiện, nâng cao chất lượng sản
phẩm. Có chính sách thu hút đầu tư xây dựng một số nhà máy chế biến cà phê
nhân, cà phê tinh chế; chế tạo thiết bị tiên tiến chế biến cà phề để cung ứng máy
móc, thiết bị chuyên dùng cần thiết đáp ứng yêu cầu cho ngành cà phê. Khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư sân phơi, kho chứa sản phẩm đối với những
nơi trồng cà phê tập trung đảm bảo việc bảo quản cà phê đạt chất lượng cao.
Củng cố, mở rộng thị trường, bạn hàng, nâng cao giá trị mua - bán với đối
tác lâu dài, đồng thời có chiến lược cụ thể tiếp cận thị trường mới như Trung
Quốc, Nga, Nhật bản …Có chính sách đầu tư thoả đáng để tổ chức quản lý, phát
triển, thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột cũng như Trung tâm giao dịch mua bán
cà phê Buôn Ma Thuột hoạt động hiệu quả.
- Áp dụng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: Tăng cường công tác tuyên
truyền về tiêu chuẩn chất lượng và lợi ích của việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng
sản phẩm cà phê để người sản xuất tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng. Đồng
thời, tăng cường quản lý Nhà nước về quản lý chất lượng sản phẩm; bên cạnh việc
áp dụng tiêu chuẩn cà phê trong nước, các doanh nghiệp xuất khẩu phải có chiến
lược rõ ràng trong việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng thế giới, đáp ứng yêu cầu
của thị trường quốc tế.
- Đầu tư kết cấu hạ tầng: Phát triển nông thôn theo hướng bền vững hài hoà
giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Phải huy động, lồng ghép nhiều nguồn
vốn để hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hôị - môi trường trong nông thôn,
xây dựng nông thôn văn minh, sạch đẹp, trong đó ưu tiên đầu tư thuỷ lợi, giao
thông, điện, nước sạch,… Trong thời gian đến kêu gọi các thành phần kinh tế bằng
các hình thức thích hợp để huy động mọi nguồn vốn xây dựng các nhà bảo tàng cà
phê với những nội dung, hình thức, quy mô phong phú, đa dạng, hấp dẫn trên địa
bàn Buôn Ma Thuột.
- Cơ chế chính sách: Xây dựng các chính sách về vốn, tài chính, thuế, đất

triển lâu đời nhưng cà phê việt Nam vẫn đứng vững trên thị trường thế giới sự phát
triển của ngành cà phê sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nước ta. Để đảm bảo
được lợi nhuận cũng như nắm bắt được cơ hội phát triển thì các nhà đầu tư và các
doanh nghiệp, tư nhân cần thường xuyên và liên tục cập nhật mọi thông tin trên thị
trường cà phê, trong đó có ba yếu tố quan trọng nhất là mức cung cầu và giá cả.
Cung cầu luôn phụ thuộc, gắn bó chặt chẽ với nhau, và hơn thế hai yếu tố cung
cầu lại chịu ảnh hưởng rất lớn từ yếu tố giá cả. Giá cà phê bình ổn, lợi nhuận cao
là mông muốn của mỗi người dân trồng cà phê cũng như mọi doanh nghiệp cà phê
nước ta. Nếu kinh tế thị trường luôn đặt ra thách thức và cơ hội phát triển , hi vọng
ngành ca phê của Việt Nam sẽ cố gắng nắm bắt mọi cơ hội và vượt qua mọi thách
thức để đạt được nhiều thành quả hơn nữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status