Tình hình phá sản chung của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và đi vào phân tích cụ thể một doanh nghiệp_ tập đoàn kinh tế Vinashin - Pdf 10

Tiểu luận
Tình hình phá sản chung của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam và đi
vào phân tích cụ thể một doanh
nghiệp_ tập đoàn kinh tế Vinashin

Trang 1

MỤC LỤC
Phần A: PHẦN MỞ ĐẦU 3
I. Lý do chọn đề tài 3
II. Đối tượng nghiên cứu 3
III. Mục đích nghiên cứu 3
IV. Cơ sở lý luận 4
4.1. Khái niệm phá sản 4
4.2. Định hướng XHCN nền kinh tế ở nước ta 4
4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến phá sản và những lời khuyên cụ thể 4
Phần B: NỘI DUNG CHÍNH 10
Chương I: Vài nét về tình hình phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay 10
Chương II: Sự phá sản của Tập đoàn kinh tế Vinashin 14
2.1. Khái quát chung về tập đoàn kinh tế Vinashin 14
2.1.1. Lịch sử hình thành 14
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 15
2.1.3. Đầu tư 15
2.2. Tình hình phá sản của tập đoàn Vinashin 16
2.2.1. Một số dự án thất bại điển hình 16

yếu kém, làm ăn không hiệu quả. Đó cũng là quy luật của nền kinh tế thị trường…
Chính vì thế, để hiểu rõ hơn về tình hình phá sản của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu tìm hiểu đề tài này.
II. Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình phá sản chung của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam và đi vào phân tích cụ thể một doanh nghiệp_ tập đoàn kinh tế
Vinashin
III. Mục đích nghiên cứu:
 Hiểu rõ hơn về tình hình phá sản của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
 Thấy được các nguyên nhân chính dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp Việt
Nam, vai trò điều phối của chính phủ Việt Nam.
Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, góp phần nào hạn chế được sự phá sản của doanh
nghiệp, phát triển nền kinh tế đất nước. Trang 4

IV. Cơ sở lý luận:
4.1. Khái niệm về phá sản
Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng một doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
thương mại thực hiện hành vi thương mại, nhưng vì một lý do nào đó (quản lý kém, bị
thiên tai, hỏa hoạn ) nên không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
4.2. Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta:
Theo GS.TS. Chu Văn Cấp – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội, trong đó quá trình sản xuất,
phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường. Vì thế kinh tế
thị trường không chỉ là "công nghệ", là "phương tiện" để phát triển kinh tế – xã hội, mà
còn là những quan hệ kinh tế – xã hội, nó không chỉ bao gồm các yếu tố của lực lượng
sản xuất, mà còn cả một hệ thống quan hệ sản xuất. Như vậy, chứng tỏ không có và
không thể có một nền kinh tế thị trường chung chung, thuần túy, trừu tượng tách rời khỏi

nghiệp nào không có sản phẩm có tính cạnh tranh thì nên rút lui sớm khỏi thị trường để
hạn chế thiệt hại về vốn.
Lời khuyên thứ nhất: Đối với một sản phẩm mới, doanh nghiệp phải hết sức cẩn
trọng trong việc đầu tư lớn bởi không biết chắc chắn có hoàn toàn thành công hay không.
- Chi phí cá nhân của nhà doanh nghiệp quá lớn
Nhiều nhà doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ lầm tưởng mình cũng có
quyền hưởng một thu nhập cố định như nhân viên. Dường như nhiều nhà doanh nghiệp
không biết hoặc biết mà quên rằng mình chỉ được hưởng những gì còn lại của doanh
nghiệp sau khi trừ mọi chi phí và đầu tư. Phần còn lại này đối với thời kỳ đầu của doanh
nghiệp là không nhiều, thậm chírất ít, trong khi thu nhập của nhân viên ổn định. Nhiều
nhà doanh nghiệp nhận biết khá muộn vì sao các ngân hàng dễ dãi chấp thuận các khoản
vay của doanh nghiệp, trong đó có cả phần sử dụng cho mục đích cá nhân như cải tạo
nâng cấp nhà riêng, biệt thự của nhà doanh nghiệp. Suy cho cùng điều đó càng làm tăng
thêm giá trị tài sản thế chấp là bất động sản của doanh nghiệp tại ngân hàng.
Lời khuyên thứ hai: Nhà doanh nghiệp sẽ không bao giờ phá sản khi chi tiêu cho
nhu cầu cá nhân thấp hơn khoản lợi nhuận làm ra.
- Sử dụng quá nhiều nhân viên
Chi phí cho nhân viên ngày càng chiếm một tỉ trọng lớn và gần như cố định với các
doanh nghiệp. Nếu không sử dụng và bố trí nhân viên hợp lí thì việc trả lương là một
gánh nặng đối với doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp có biến động xấu thì việc giảm
kịp thời nhân viên sẽ cứu doanh nghiệp khỏi bị phá sản. Có thể các nhà quản lí vĩ mô,
người làm chính sách chế độ không thích thú điều này nhưng thực tế đã chứng minh các
doanh nghiệp sớm giảm bớt nhân sự là những doanh nghiệp thành công. Khi một doanh
nghiệp thất bại vì có quá nhiều nhân viên, người ta không quan tâm vì lí do xã hội hay
không có khả năng quản lí và điều hành nhân viên.
Trang 6

Lời khuyên thứ ba: Doanh nghiệp chỉ tuyển nhận một số lượng nhân viên vừa với
khả năng quản lí và điều hành họ làm việc tối đa và hiệu quả.
- Doanh nghiệp bị xù nợ

Trang 7

hay nhà kho, nhà để xe được tu sửa. Bây giờ quá nhiều doanh nghiệp trẻ khởi sự lại thích
tiện nghi ngay từ ban đầu, thuê những văn phòng, trụ sở đắt tiền, sang trọng. Đó là chưa
kể những tu sửa tốn tiền, mua sắm đồ dùng văn phòng cho hợp với sở thích của mình. Họ
quá thiên lệch, thậm chí nhầm lẫn khi cho rằng thế mới là cách tạo uy tín nhanh chóng
cho doanh nghiệp của mình. Thực ra họ ưa thích tiện nghi dường như quên mất rằng
chính chất lượng dịch vụ và sản phẩm của doanh nghiệp mới tạo nên uy tín lâu dài của
doanh nghiệp.
Một ví dụ cụ thể là nhiều doanh nghiệp ngay từ đầu đã trang bị một hệ thống tin học
khá hoàn hảo với các máy tính thế hệ mới nhất nhưng thực ra lại chỉ có nhu cầu sử dụng
nhữngc hức năng tối thiểu nhất. Không phải nhà doanh nghiệp nào cũng cần có thư ký
riêng, lái xe riêng. Không phải doanh nghiệp nào cũng cần có nhân viên đánh máy, nhân
viên lau dọn, vệ sinh phòng làm việc. Tất cả những công việc kể trên đều có thể thuê, sử
dụng các dịch vụ của các doanh nghiệp khác. Như thế vừa hiệu quả kinh tế hơn, vừa có
chất lượng tốt hơn, lại không bị động. Suy cho cùng, nhà doanh nghiệp thành lập doanh
nghiệp không phải để nâng cao địa vị xã hội mà là để kinh doanh kiếm nhiều tiền hơn.
Lời khuyên sáu: Một doanh nghiệp có thể thành công bắt đầu từ một nhà để xe, có
thể sẽ thất bại từ một lâu dài.
- Quá xem nhẹ những thua lỗ ban đầu
Nhiều doanh nghiệp lầm tưởng rằng việc kinh doanh thua lỗ trong những năm đầu
tiên thành lập là không thể tránh khỏi. Do đó thường xem nhẹ những kết quả kinh doanh
thua lỗ lúc ban đầu, không chú trọng tìm hiểu nguyên nhân. Khi nhận biết thì đã quá
muộn, doanh nghiệp có thể trên bờ phá sản. Trên thực tế, diễn biến thị trường, khách
hàng, kết quả kinh doanh không hoàn toàn theo dự kiến và kế hoạch kinh doanh ban đầu
của doanh nghiệp. Nếu kết quả thua lỗ ban đầu nằm trong trù tính trước thì nguyên nhân
thua lỗ vẫn nằm ngoài dự báo. Không phát hiện, phân tích đúng nguyên nhân dẫn đến
thua lỗ và không có những biện pháp điều chỉnh chính sách kinh doanh cho phù hợp càng
làm chính sách kinh doanh sai lầm tiếp tục và dẫn đến nguy cơ thất bại.
Lời khuyên thứ bảy: Lợi nhuận không phải là tất cả, nhưng nhà doanh nghiệp

nghiệp hoàn toàn chủ động, không phụ thuộc vào ngân hàng và tự mình vượt qua những
lúc khó khăn, tránh được nguy cơ phải bán một phần hay toàn bộ doanh nghiệp.
Lời khuyên thứ chín: Hãy tiết kiệm và dự trữ tài chính khi doanh nghiệp có thể làm
được để tự cứu mình khi gặp khó khăn.
- Quá tin vào người khác
Nhiều doanh nghiệp thất bại và phá sản chỉ vì một nguyên nhân đơn giản là quá tin
vào người khác. Họ đủ các đối tượng, từ nhà tài trợ, đối tác, nhân viên của chính doanh
nghiệp đến khách hàng. Ví dụ, nếu quá tin vào ngân hàng khi bắt đầu đầu tư, nhưngnửa
chừng ngân hàng lại quyết định không cho vay tiếp. Quá tin vào nhân viêncủa mình,
doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những hậu quả bất ngờ, thậm chí phải nhờ pháp luật
hỗ trợ. doanh nghiệp quá tin vào khách hàng cũng có thể bị từ chối nhận hàng, không
Trang 9

chịu thanh toán đủ và đúng hạn. Một doanh nghiệp khi hợp tác, liên kết kinh doanh với
bạn hàng, đối tác thường quá tin tưởng, thậm chí phó mặc cho họ. Thực ra cuối cùng, tất
cả là do thiếu cẩn trọng, không có biện pháp phòng ngừa phù hợp. Người chịu hậu quả
chính là doanh nghiệp, thậm chí dẫn đến phá sản.
Lời khuyên thứ mười: Doanh nghiệp phải luôn cẩn trọng và phải ý thức rằng tự
mình chịu trách nhiệm trước hết về một quyết định kinh doanh.
Trang 10

Phần B: NỘI DUNG

Chương I: Vài nét về tình hình phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay:

Hình 1.1 : Tỷ lệ DN ngừng hoạt động phá sản

KHĐT là tỷ lệ chấp nhận được ở mức trung bình so với thế giới.
Tại Anh, tỷ lệ doanh nghiệp còn tồn tại sau 3 năm hoạt động cũng chỉ 70%; còn tại
Mỹ, tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại sau 5 năm hoạt động là dưới 50%.
Tuy nhiên, theo bộ KHĐT thì vấn đề đang lo ngại hiện nay là xu thế doanh nghiệp
thành lập mới liên tục giảm sút, trong khi đó số lượng các doanh nghiệp đã phải thu hẹp,
Trang 12

ngừng, thậm chí chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục tăng cao đã cho thấy
khu vực doanh nghiệp nước ta đang gặp nhiều khó khăn.
Còn theo như “Kết quả điều tra thực trạng và tình hình khó khăn của doanh nghiệp”
do Tổng cục Thống kê thực hiện với mẫu là 10.120 doanh nghiệp thuộc các loại hình sở
hữu thì sau 1 năm, 3 tháng hoạt động, số doanh nghiệp thực tế còn hoạt động chiếm
91,6%, số doanh nghiệp phá sản, giải thể và doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh,
đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 8,4%.
Tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước phá sản, giải thể chiếm cao nhất với 9,2%, tiếp
đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 2,7% và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp
FDI với 2,6%.

Hình 1.3: Trước tình trạng phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp, Ngân hàng
Nhà nước đã liên tục cắt giảm lãi suất
Riêng ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, 4 tháng đầu năm, tổng số doanh
nghiệp đăng ký thành lập là 239 doanh nghiệp, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Tỷ lệ giải thể,
ngừng hoạt động tăng 32,9% so cùng kỳ, chiếm 5,7% trên tổng số doanh nghiệp đang
hoạt động.
Trong tổng số 706 (8,4%) doanh nghiệp phá sản, giải thể thuộc mẫu điều tra có đến
69,4% là do sản xuất kinh thua lỗ, 28,4% doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinh doanh,
15,1% doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm; 11,7% doanh nghiệp khó khăn về địa
Trang 13

điểm sản xuất kinh doanh; 4,4% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh ngiệp

Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
103/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế, đa sở
hữu, trong đó sở hữu Nhà nước chi phối, trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại Tổng Công ty
Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin).
Và ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số
104/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt
Nam. Theo Quyết định này, Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam được
thành lập trên cơ sở tổ chức lại cơ quan quản lý, điều hành và các đơn vị thành viên hạch
toán phụ thuộc của Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu
chính thức tập đoàn Vinashin ra đời.
Trang 15

Như vậy tập đoàn Vinashin ra đời căn cứ vào các văn bản pháp luật của nhà nước
trên cơ sở chỉ đạo của trung ương về việc tổ chức lại ngành công nghiệp tàu thuỷ của Việt
Nam để đáp ứng yêu cầu hội nhập hiện nay.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức:
 Công ty mẹ:
Tên đầy đủ là: Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Đây một doanh nghiệp
nhà nước có chức năng đầu tư bằng vốn của Nhà nước.
Công ty mẹ có hệ thống tổ chức bài bản, chặt chẽ bao gồm: Văn phòng, các Ban,
Trung tâm chuyên môn, nghiệp vụ. Văn phòng đại diện của Công ty mẹ ở trong nước và
nước ngoài. Các chi nhánh trực thuộc Công ty mẹ như: Công ty Xuất Nhập khẩu
Vinashin; Trung tâm hợp tác đào tạo lao động với nước ngoài; Trung tâm Tư vấn đầu tư
và Kiểm định xây dựng Vinashin. Đơn vị sự nghiệp có thu gồm: Trường Cao đẳng nghề
Vinashin;Trường Trung cấp nghề Công nghiệp tàu thủy III; Trường Trung cấp nghề
Công nghiệp tàu thủy VI; Tạp chí Công nghiệp tàu thủy
 Các công ty con:
Các công ty con thuộc công ty mẹ: Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ văn
phòng Vinashin (Công ty mẹ nắm giữ 51% vốn điều lệ); Các công ty con có vốn điều lệ
do công ty mẹ cung cấp 100% gồm 14 công ty.

tháng. Từ đó đến nay, nó được đắp chiếu nằm tại Nhà Bè- Sài Gòn.
 Mua cổ phần Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam:
Với trị giá 1.467 tỷ đồng mua 20,4 triệu cổ phần chiếm 3,56% vốn với giá mua 70
ngàn VND.
 Mua tàu Hoa Sen:
Mua tàu Hoa Sen ngày 15.10.2007 từ Italia, chi phí mua tàu 60 triệu Euro tương
đương 1.300 tỷ đồng, chạy tuyến Bắc Nam, hiện tại dừng hoạt động vì mỗi chuyến chạy
lỗ 1,5 tỷ VND. tàu Hoa Sen đã từng bị thủng đáy trong thời gian khai thác ở Ý, mang về
phải sửa chữa, hiện tại đang nằm tại vùng nước thuộc Công ty công nghiệp đóng tàu Cam
Ranh. Dù tàu không chạy mà vẫn phải cho máy nổ, phải có người canh giữ. Mỗi năm
phải trả lãi vay gần 80 tỷ đồng.
 Nhà máy điện Diesel Cái Lân:
Dự án nhà máy điện diesel có tổng mức đầu tư gần 36 triệu USD. Trong quá trình
thực hiện, mặc dù trong hợp đồng quy định rõ các thiết bị máy móc phải được mua sắm
mới và có xuất xứ từ châu Âu, nhưng ban quản lý đã ký kết với nhà thầu mua sắm nhiều
Trang 17

thiết bị đã qua sử dụng, kém chất lượng, trong đó thiết bị chính của nhà máy được tháo
dỡ từ một nhà máy điện diesel ở Trung Quốc.Sau hơn hai năm vận hành (từ tháng 4-2007
đến 10-2009) Nhà máy Cái Lân lỗ hơn 62 tỷ đồng, tổng các khoản nợ không có khả năng
thanh toán lên đến 27,58 triệu USD và 107,5 tỷ đồng.
2.2.2. Những vấn đề tồn tại trong hoạt động kinh doanh của Vinashin.
Theo thông báo từ Văn phòng Chính phủ, Vinashin khởi nghiệp vào năm 1996 với số vốn
ít ỏi là 100 tỉ đồng. Tăng trưởng hàng năm của Vinashin là 35-40% từ khi được đi vào
hoạt động. Xin được bình quân là 38%. Dưới đây là bảng tổng kết tăng trưởng của
Vinashin từ năm 1996.

Hình 2.1: Bảng tổng kết tăng trưởng của Vinashin từ năm 1996
Ghi chú: Vì tỉ giá đô la thay đổi nên có những năm tăng trưởng dưới 38% nếu đổi ra giá
trị đồng đô la.

khiếp của Vinashin là 86.000 tỉ đồng – tương đương 4,3 tỉ USD – hay 4,7% GDP của
Việt Nam. Theo bản thông báo của Chính phủ thì số nợ vay của Vinashin lớn hơn gần 11
lần vốn sở hữu của tập đoàn “chúa Chổm”. Một kỷ lục về sự chênh lệch giữa vốn vay và
vốn sở hữu mà đến ngay những kinh tế gia lỗi lạc như George Soros hay Warren Buffet
cũng không thể nghĩ tới…
Trang 19

Hình 2.2: Bảng cân đối kế toán của tập đoàn Vinashin do KPMG kiểm toán (Làm
tròn số, đơn vị tính tỉ đồng)
Trang 20

Như vậy, tổng số nợ của Vinashin tính đến cuối năm vừa rồi đã lên tới 96.635 tỉ đồng
chứ không phải chỉ là 86.000 tỉ đồng như lâu nay công bố. Một con số đáng chú ý khác là
trong 42.495 tỉ tài sản cố định, gần một nữa là chi phí đổ vào các công trình đang xây
dựng dở dang, có nghĩa chúng chưa phải là tài sản cố định có thể sinh lời và để hoàn
thành chúng, ắt còn phải tốn thêm nhiều tiền nữa. Riêng về kết quả hoạt động kinh doanh,
năm 2009 Vinashin lỗ 1.628 tỉ đồng trên tổng doanh thu là 22.461 tỉ đồng so với mức lãi
560 tỉ đồng trên tổng doanh thu 29.132 tỉ đồng của năm 2008.
2.2.3. Một số nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của Tập đoàn:
2.2.3.1. Nguyên nhân chủ quan:
 Sự bao che, chủ quan từ cấp trên:
Từ năm 2005 đến nay, đã có 13 – 14 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát ở
Vinashin, phát hiện ra nhiều sai phạm, nhưng lãnh đạo tập đoàn này không những không
nghiêm túc chấn chỉnh mà còn tìm cách báo cáo không đúng để che giấu sai phạm. Tổng
Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền cho biết như vậy khi trao đổi với báo chí bên hành
lang Quốc hội ngày 21.10.2010: "Nhưng Chính phủ và các cơ quan chức năng không
biết, không ai chịu trách nhiệm. Xã hội và cử tri rất bức xúc cho rằng có sự bao che cho
những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của Vinashin làm thiệt hại lớn đến tiền và tài
sản của nhà nước”.
 Sai lầm của các cán bộ quản lý (Nguyên nhân trực tiếp).

đồng bao gồm 750 triệu đô la trái phiếu Chính phủ bảo lãnh vay, nợ các ngân hàng
trong và ngoài nước, nợ các đối tác. Tổng vốn chủ sở hữu của Vinashin là 5.900 tỷ đồng.
Trong năm 2009, Vinashin thực lỗ gần 5.000 tỷ đồng, nhiều hơn 3.300 tỷ so với báo cáo
tài chính của Vinashin (1.700 tỷ đồng)”
"Khuyết điểm này của lãnh đạo, trước hết của người đứng đầu Tập đoàn làm cho cơ
quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ sở hữu cấp trên nắm không đúng thực trạng nên chỉ
đạo không kịp thời, đầy đủ"- Chính phủ khẳng định.
Ngoài ra, Vinashin đã quyết định thực hiện nhiều dự án đầu tư ngoài quy hoạch,
không đúng quy định của pháp luật hiện hành; quyết định sử dụng vốn kém hiệu quả, có
biểu hiện sai trái; sử dụng một số vốn lớn để mua tàu vận tải biển của nước ngoài, trong
đó có những con tàu mua quá cũ; không nghiêm túc thực hiện những ý kiến chỉ đạo của
cơ quan có thẩm quyền.
Chất lượng những tàu đóng mới dán mác Vinashin đã ở mức báo động. Vậy như,
qua khảo sát sơ bộ cho thấy: Vinashin tập trung quá nhiều vào lĩnh vực đóng mới, mà bỏ
qua, xem nhẹ khâu sửa chữa tàu thủy. Tàu đóng mới chất lượng kém, ế thừa tàu, không
bán được.
Nhiều cán bộ quản lý tham ô, tham nhũng, tư lợi, che dấu thông tin, đầu tư nhằm
tham ô, tham nhũng bòn rút tài sản của tập đoàn, như trong các dự án mua tàu Hoa Sen,
nhà máy điện Cái Lân Các giai đoạn của quá trình huy động, quản lý, sử dụng vốn đều
Trang 22

bị buông lỏng và vi phạm quy định của pháp luật. “Theo cáo trạng, nguyên chủ tịch
Vinashin Phạm Thanh Bình và đồng bọn coi thường pháp luật và các quy định của Nhà
nước về quản lý, đầu tư và sử dụng vốn Nhà nước, gây ra một sự mất mát của VND469.5
tỷ trong việc mua tàu Hoa Sen; VND316.5 tỷ USD trong nhiệt sông Hồng dự án nhà máy
điện ở tỉnh Nam Định; VND66.5 tỷ trong diesel thực vật Cái Lân nhiệt điện trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh; VND30.4 tỷ đồng trong hợp đồng thuê tài chính của tàu sao tại Bình
Định; và VND27.3 tỷ đồng trong việc bán Bạch Đằng Giang tàu”.
Theo kết luận của Ủy ban kiểm tra Trung ương ngày 5.7.2010, “trong những năm
qua Tập đoàn đã báo cáo không trung thực về tình hình tài chính của doanh nghiệp”.

Trang 24

Hình 2.4: Những hình ảnh đáng chú ý về cuộc khủng hoảng trên thế giới 2008-2009.
2.2.4. Hậu quả mà sự phá sản của Vinashin đã để lại.
Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Vinashin khởi hành chuyến đi đầu tiên từ Văn phòng của
Thủ tướng với quyết định 103/QĐ- TTg và cái đích đến là 10% thị phần đóng tàu biển
của thế giới. Nhưng, sau bốn năm hành trình và chưa rời bến được bao xa thì Vinashin đã
chìm xuống biển sâu. Sự sụp đổ của Vinashin đã để lại những hậu quả nghiêm trọng…
Hàng chục ngàn người mất việc. Nhiều công ty bị đẩy đến bờ vực phá sản hay chìm ngập
trong nợ nần vì hùn hạp làm ăn với Vinashin, vì nhận thầu của Vinashin. Nhiều gia đình,
mà trong có nhiều người về hưu, thương bệnh binh lâm vào sự khó khăn túng quẫn vì đã
lỡ cho Vinashin vay mà không đòi được tiền.
Ngoài những điều tệ hại trên, cái đích đến là 10% thị phần đóng tàu biển của thế giới mới
là cơn ác mộng kinh hoàng khi Vinashin chìm nơi biển cả. Việt Nam là quốc gia có bờ
biển dài và nhiều sông ngòi. Không quá khó khăn để nhận ra tầm quan trọng của ngành
vận tải đường biển, khai thác thủy sản, mà trong đó đều rất phụ thuộc vào ngành công
nghiệp đóng tàu. Thế nhưng, ước mơ có những đội thương thuyền hùng mạnh và 10% thị
phần đóng tàu biển của thế giới đã chìm sâu cùng với con tàu.
Đặc biệt, nó làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc gia với thiệt hại mà nó mang lại là
bằng thu nhập của cả 1 tỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status