LUẬN VĂN CAO HỌC: Phân bố liều hấp thụ trong Phantom theo bề dày và khoảng cách đến trục của chùm photon năng lượng 6 MV và 15 MV dùng trong xạ trị - Pdf 10

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG…………………… LUẬN VĂN CAO HỌC
Phân bố liều hấp thụ trong Phantom theo bề dày và khoảng cách đến
trục của chùm photon năng lượng 6 MV và 15 MV dùng trong xạ trị

vượt qua cả bệnh tim và là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong cao. Ở Canada và
Mỹ có tới 130000 và 1200000 người mỗi năm được chuẩn đoán là mắc bệnh ung
thư [2]. Đặc biệt là ở những nước đang phát triển như Việt Nam các yếu tố môi
trường bị ô nhiễm, ăn uống chưa thực sự hợp vệ sinh …. là những nguyên nhân
làm gia tăng số người bị bệnh ung thư.
Việc điều trị ung thư bằng tia xạ đã có một quá trình lịch sử rất lâu dài có thể
nói từ năm 1895, khi Roentgen phát hiện ra tia X và tới ngày 27 tháng 10 năm
1951 bệnh nhân đầu tiên trên thế giới được điều trị bằng tia gamma Coban-60.
Việc ra đời sử dụng đồng vị phóng xạ để điều trị ung thư gặp khá nhiều vấn đề bất
cập. Chính vì vậy có thể nói ảnh hưởng lớn nhất lên kỹ thuật xạ trị hiện đại là sự
phát minh ra máy gia tốc tuyến tính vào những năm 1960. Từ đó tới nay, với việc
3

ứng dụng công nghệ thông tin, và các kỹ thuật chuẩn đoán, lập phác đồ điều trị,…
vào trong xạ trị bằng máy gia tốc kết hợp với việc cải tiến về phần cơ khí đã làm
cho phương pháp xạ trị đang dần thay thế hoàn toàn các phương pháp xạ trị từ xa
khác, đem lại hiệu quả ngày càng cao trong điều trị ung thư.
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1960 bệnh viện Ung Thư Trung Ương (bệnh
viện K Hà Nội) đã dùng máy Coban, các nguồn radium vào trong xạ trị. Bên cạnh
đó, một số cơ sở y tế khác như bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội, bệnh viện Chợ Rẫy –
Thành Phố Hồ Chí Minh, Viện Quân Y 103 đã sử dụng các đồng vị phóng xạ trong
điều trị ung thư. Máy gia tốc được đưa vào Việt Nam từ tháng 1 năm 2001 tại
Bệnh Viện K – Hà Nội. Hiện nay ngoài bệnh viện K – Hà Nội, ở nước ta đã có
nhiều bệnh viện khác cũng đã sử dụng máy gia tốc trong xạ trị như Bệnh viện
Bạch Mai, bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Ung bướu Trung ương, … Phương pháp
xạ trị từ xa dùng máy gia tốc hiện đang có xu hướng phát triển ở nước ta. Tuy
nhiên số lượng máy còn quá ít so với yêu cầu thực tế. Và đây cũng là thiết bị mới
đòi hỏi người sử dụng phải có kỹ thuật chuyên môn cao.Chính vì vậy việc tìm hiểu
và quảng bá những kiến thức về xạ trị, nguyên lý hoạt động của máy và tìm hiểu
chính xác những thông số mà tia xạ của máy phát ra để sử dụng điều trị tốt cho

điều trị ung thư tại Bệnh Viện K

5

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ CỦA PHƯƠNG PHÁP XẠ TRỊ DÙNG CHÙM
PHOTON
1.1. Tương tác của bức xạ gamma với vật chất [7]
Bức xạ gamma là chùm hạt photon có năng lượng lớn. Khi đi trong môi
trường vật chất, chúng tương tác với môi trường thông qua các hiệu ứng: hiệu ứng
tán xạ, hiệu ứng hấp thụ quang điện, hiệu ứng tạo cặp và quang hạt nhân. Các hiện
tượng này có xảy ra hay không hoặc xảy ra với mức độ nào phụ thuộc vào năng
lượng của photon gamma và nguyên tử số của môi trường mà nó đi qua. Phương
pháp xạ trị sử dụng chùm gamma với mức năng lượng lớn nhất là 15 MeV nên ta
chỉ quan tâm tới các hiệu ứng hấp thụ quang điện, tán xạ Compton và hiện tượng

q
M
N
k


trong đó:

là mật độ môi trường
M
A
: nguyên tử gam của chất hấp thụ
N
A
: Số Avogadro
(1.1)
6

Mặt khác để đặc trưng cho khả năng hãm bức xạ hạt nhân của một môi trường,
người ta thường dùng hệ số suy giảm khối. Hệ số suy giảm khối của một môi
trường đối với hiệu ứng quang điện được tính như sau:



q
q
k


Từ hai công thức trên ta rút ra được công thức tính hệ số suy giảm khối do hấp thụ



Z
a



trong đó Z là nguyên tử số của môi trường
I
K
và I
L
là thế năng ion hóa của lớp K và lớp L của nguyên tử môi trường.
Từ hai công thức trên ta thấy khi Z càng lớn thì hệ số hấp thụ quang điện càng
lớn. Nghĩa là hiện tượng quang điện xảy ra mạnh với với các chất có nguyên tử số
lớn hay các nguyên tố nặng. Mặt khác, khi năng lượng của bức xạ gamma tăng thì
tiết diện hấp thụ quang điện giảm theo hàm ɛ
-3
.
1.1.2. Tán xạ Compton
Theo sự tăng năng lượng của bức xạ gamma, khi tiết diện xảy ra hấp thụ
quang điện giảm thì tiết diện tán xạ Compton tăng lên, đây là quá trình chủ yếu
làm suy giảm năng lượng của bức xạ gamma đi trong môi trường vật chất.
Tán xạ Compton là quá trình tán xạ không đàn hồi của photon gamma với
các electron tự do hoặc electron liên kết yếu trong nguyên tử của môi trường.
Trong quá trình tán xạ Compton, photon gamma tới truyền một phần năng lượng
của mình cho electron và bị tán xạ theo hường tạo với phương tới một góc nào đó
gọi là góc tán xạ. Kết quả là electron tán xạ nhận được một năng lượng giật lùi và
năng lượng của chùm gamma thì bị giảm đi.
( 1.2 )

t
tx

trong đó ɛ
tx
là năng lượng của bức xạ gamma tán xạ
ɛ
t
là năng lượng của bức xạ gamma tới

Vì tán xạ Compton xảy ra trên electron tự do nên năng lượng của bức xạ
gamma tán xạ không phụ thuộc vào chất tán xạ mà chỉ phụ thuộc vào năng lượng
của bức xạ gamma tới và góc tán xạ. Khi xảy ra tán xạ, photon bị tán xạ có thể bay
theo góc tán xạ bất kỳ, nhưng xác suất tán xạ theo một góc nào đó lại phụ thuộc
vào năng lượng của bức xạ gamma tới và bản thân góc đó.
Đối với năng lượng của bức xạ gamma nhỏ, phân bố góc của bức xạ có tính
đối xứng qua góc tán xạ 90
o
. Năng lượng của bức xạ gamma càng tăng thì các bức
xạ gamma tán xạ càng có xu hướng ưu tiên về phía trước.
Khi lượng tử gamma bị tán xạ với một góc nhỏ thì năng lượng của nó thay
đổi không đáng kể, lúc đó electron bay theo phương gần vuông góc với nó. Khi
lượng tử gamma bị tán xạ với góc 180
o
thì electron bay ra theo hướng phía trước
với động năng cực đại.
Xác suất tán xạ Compton theo mọi hướng trên một electron gọi là xác suất
tán xạ Compton toàn phần trên một electron được tính theo công thức:

22

Trong nguyên tử có Z electron, tiết diện tán xạ Compton trên một nguyên
tử là:


là góc tán xạ của gamma
( 1.6 )
( 1.7)
8 ea
Z

.

Hệ số suy giảm khối của quá trình tán xạ Compton được tính bằng công
thức:

CAaAAC
A
Z
NMN







 )/(


cMMKTcm
KcMTTcmmcM
oe
eeee
o
e




trong đó m
e
là khối lượng nghỉ của electron, T là động năng của cặp e
+
,e
-
; M
o

M là khối lượng của hạt nhân trước và sau khi tạo cặp; K là động năng giật lùi của
hạt nhân. Do M ≥ M
o
nên;

MeVcm
e

ngưỡng tạo cặp, tiết hiện tạo cặp sẽ tăng nhanh khi năng lượng của bức xạ gamma
tăng.
Xét quá trình tạo cặp xảy ra trong trường Coulomb của một electron. Khi
đó, có hai cặp electron - positron được tạo thành. Ngưỡng tạo cặp trong trường
hợp này gấp đôi trong trường hợp trong trường Coulomb của hạt nhân, có giá trị
là:

MeVcm
eng
044,2 4
2



Tuy nhiên, xác suất tạo cặp trong trường Coulomb của electron nhỏ hơn rất
nhiều so với xác suất tạo cặp trong trường Coulomb của hạt nhân.
1.2. Hiệu ứng sinh học của bức xạ
1.2.1. Tác dụng sinh học của điều trị tia xạ
a. Cấu tạo tế bào của cơ thể người [2,8,9]
Cơ thể người cấu tạo từ các cơ quan như tim, phổi, não,… Các cơ quan
được cấu tạo từ các mô như mô mỡ, da, xương …Các mô được cấu tạo từ các tế
bào. Tế bào là đơn vị sống cơ bản, kích thước tế bào khoảng 20micromet. Trong
cơ thể con người có khoảng 10
13
đến 10
14
tế bào. Tương tác giữa các bức xạ và cơ
thể sống sẽ gây nên những thay đổi trong tế bào hay gây đột biến dẫn đến hoạt
động bất bình thường, chẳng hạn phát triển nhanh chóng một cách hỗn loạn dẫn
đến ung thư.

cụ thể. Tế bào biệt hóa kháng tia hơn loại không biệt hóa. Phân bố hợp lý tổng liều
điều trị và liều lượng mỗi lần chiếu.
Chu kỳ sinh sản tế bào:
Sự tổng hợp S (Sythesis).
Phân chia M (Mitotic).
Sau phân chia G
1
:
11

+ S: Pha này kéo dài từ 1,5

36
h
, trung bình 8
h
, kháng tia.
+ G
2
: 30

1,5
h
+ M: 30

2,5
h
nhạy cảm tia nhất.
+ G
1

ion hóa có khả năng phá hoại cấu trúc phân tử của các tế bào làm cho các tế bào bị
biến đổi hay hủy diệt. Trên cơ thể con người chủ yếu (>85%) là nước. Khi bị chiếu
xạ H
2
O trong cơ thể phân chia thành H
+
và OH
-
. Bản thân các cặp H
+
, OH
-
này tạo
thành các bức xạ thứ cấp, tiếp tục phá hủy tế bào, sự phân chia tế bào sẽ chậm đi
hoặc dừng lại.
Tác dụng trực tiếp của tia xạ lên sự phá hủy diệt tế bào chỉ vào khoảng 20%.
Còn lại chủ yếu là do tác dụng gián tiếp.
Năng lượng và cường độ bức xạ khi đi qua cơ thể con người nói riêng hay đi
qua cơ thể sinh vật nói chung giảm đi do sự hấp thụ năng lượng của các tế bào. Sự
hấp thụ năng lượng của tế bào thường dẫn tới hiện tượng ion hóa các nguyên tử
của vật chất sống và hậu quả là tế bào bị phá hủy.
Nói chung năng lượng của bức xạ càng lớn, số cặp ion hóa do chúng tạo ra
càng nhiều. Thông thường các hạt mang điện có năng lượng như nhau. Tuy nhiên,
tùy thuộc vào vận tốc của hạt nhanh hay chậm mà mật độ ion hóa có thể khác
nhau. Tia anpha thường có vận tốc nhỏ hơn tia bêta nhưng lại có khả năng ion hóa
nhanh hơn.
Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn quá trình này
1. Sự ngăn cản phân chia tế bào: tế bào có thể sinh ra và nhân lên về số
lượng trong quá trình phân chia tế bào. Đây là một chức năng cơ bản của một cơ
thể sống bất kỳ. Ngay ở cơ thể người lớn, quá trình phân chia tế bào vẫn thường

phụ thuộc vào yếu tố thời gian. Cùng với một liều lượng bức xạ, nếu cơ thể hấp
thụ làm nhiều lần, thì các biến đổi về bệnh lý ít xảy ra hơn so với trường hợp hấp
thụ ngay một lúc. Nguyên nhân này liên quan tới khả năng tự phục hồi của tế bào
ở cơ thể sống.
14 Hình 1.4 Mối tương quan giữa liều hấp thụ và sai sót của nhiễm sắc thể [6]
1.3. Các đơn vị đo liều bức xạ
1.3.1. Hoạt độ phóng xạ
Hoạt độ phóng xạ của một nguồn phóng xạ hay một lượng chất phóng xạ
nào đó chính là số hạt nhân phân rã phóng xạ trong một đơn vị thời gian. Nếu
trong một lượng chất phóng xạ có N hạt nhân phóng xạ, thì hoạt độ phóng xạ của
nó được tính theo công thức sau
)exp()exp(
)0(0)()(
tAtNN
dt
dN
A
tt


hay A = . N (1.14)
Trong đó: A là hoạt độ phóng xạ,  là hằng số phân rã phóng xạ,
N là số hạt nhân phóng xạ hiện có.
Đơn vị đo hoạt độ phóng xạ là Becquerel, viết tắt là Bq. Một Becquerel
tương ứng với một phân rã trong 1 giây. Trước kia, đơn vị đo hoạt độ phóng xạ là
Curie, viết tắt là Ci. Curie là hoạt độ phóng xạ của 1 gam
226

C.
Theo định nghĩa có thể chuyển đổi từ Coulomb/ kilôgam sang Rơnghen
theo tỷ lệ như sau:
1R = 2,58.10
-4
C/kg.
b. Suất liều chiếu
Suất liều chiếu chính là liều chiếu trong một đơn vị thời gian. Suất liều
chiếu, ký hiệu là

X
được xác định theo công thức:
t
X
X 

(1.16 )
Trong đó X là liều chiếu trong thời gian t.
Trong hệ SI, đơn vị đo suất liều chiếu là C/kg.s. Tuy nhiên trong thực
nghiệm đơn vị đo suất liều chiếu thường dùng là Rơnghen/giờ. Rơnghen/giờ
được ký hiệu la R/h, thông thường suất liều chiếu thường dùng nhiều hơn cả là
R/h.
1.3.3. Liều hấp thụ và suất liều hấp thụ
a. Liều hấp thụ
Thực tế cho thấy những sự thay đổi trong môi trường chiếu xạ phụ thuộc
chủ yếu vào liều hấp thụ và liều tương đương. Với khái niệm liều hấp thụ và liều
16

tương đương, cho phép mở rộng đối tượng bức xạ nghiên cứu và môi trường chiếu
xạ. Liều chiếu chỉ có thể áp dụng cho bức xạ gamma hoặc tia X và môi trường

chiếu tương ứng. Đối với không khí, hệ số tỷ lệ f = 0,869
rad
R
còn trong cơ thể con
người hệ số tỷ lệ f = 0,869
rad
R
.
b. Suất liều hấp thụ
Suất liều hấp thụ

D
chính là liều hấp thụ trong một đơn vị thời gian. Suất
liều hấp thụ được [8] xác định theo công thức:
17

t
D
D 
*
(1.18)
Trong đó D là liều hấp thụ trong thời gian t.
Đơn vị đo suất liều hấp thụ là Gy/s hay rad/s.
1.3.4. Liều tương đương và suất liều tương đương
a. Liều tương đương
Đối với sinh vật và cơ thể sống, dưới tác dụng của bức xạ hạt nhân có thể
dẫn đến hiện tượng làm biến đổi hoặc gây tổn thương nào đó cho đối tượng được
chiếu xạ. Người ta gọi hiện tượng trên là hiệu ứng sinh học. Với liều hấp thụ D
cho trước, hiệu ứng sinh học còn phụ thuộc vào loại bức xạ được sử dụng, điều
kiện chiếu xạ, khoảng thời gian chiếu xạ. Đối với một sinh vật cho trước, để gây ra

Hạt alpha và hạt nặng, mảnh phân chia 20

Trong hệ SI, đơn vị đo liều tương đương là Sievert, kí hiệu là Sv. Đối với
bức xạ gamma, tia X và electron nếu liều tương đương là 1Sv. Từ công thức 1.18
nếu D đo bằng rad, thì H đo bằng rem, còn nếu liều hấp thụ đo bằng Gy thì liều
tương đương được tính ra rem. Vì 1Gy = 100Rad, nên theo biểu thức (1.18) suy ra
1Sv = 100 rem.
Như vậy, với cùng một đối tượng chiếu xạ và liều hấp thụ như nhau chẳng
hạn
D = 100 rad, khi bức xạ chiếu là tia gamma liều hiệu ứng sinh học tương đương là
100rem, còn với nơtron nhanh liều tương đương sẽ là 1000 rem [8]. b. Suất liều tương đương
Suất liều tương đương chính là liều tương đương trong một đơn vị thời
gian. Suất liều tương đương ký hiệu

H
được xác định theo công thức:
*
H
H
t

(1.20)
Trong đó t là thời gian, H là liều tương đương mà cơ thể sống nhận được
trong thời gian t. Đơn vị đo suất liều tương đương là Sv/s hoặc Sv/h.
Với suất liều chiếu gamma cho trước, liều hiệu dụng tương đương tỷ lệ
thuận với thời gian chiếu. Giữa liều hiệu dụng tương đương và suất liều chiếu liên
hệ với nhau theo công thức sau[8]:

sau [8].
D = 50(N – 18) mSv hay D = 5(N – 18) rem
Trong đó: N là độ tuổi của nhân viên chuyên nghiệp N

19, D là liều hấp
thụ tích lũy trong một năm. Tính trung bình, liều tích lũy cho phép là D = 50
mSv/năm. Đối với các đối tượng khác liều hấp thụ cho phép giảm 10 lần. Giá trị
liều hấp thụ tích lũy toàn thân cho phép D được các cơ quan ICRP khuyến cáo tại
các thời điểm khác nhau, được cho ở bảng 1. 2
Bảng 1.2 Giới hạn liều hấp thụ tích lũy cho phép những người làm việc với
bức xạ tại thời điểm khác nhau


3 .
Giới hạn liều Thời gian đề nghị Cơ quan đề nghị
150 mSv/năm 1950 ICRP
50 mSv/năm 1977 IRCP
20

20 mSv/năm 1990 IRCP
Theo Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát Bức xạ hạt nhân Việt Nam, liều hấp
thụ tường đương cho toàn thân đối với nhân viên làm việc với nguồn phóng xạ và
bức xạ hạt nhân là 20mSv trong một năm. Trong 5 năm có một năm liều hấp thụ
trên toàn thân có thể lên tới 50mSv. Tuy nhiên tổng liều trong 5 năm liên tục
không vượt quá 100mSv. Quy định này phù hợp với quy định của Ủy ban An toàn
Bức xạ Quốc tế. Tuy nhiên các cơ quan trong cơ thể người có mức nhạy cảm khác
nhau đối với bức xạ hạt nhân, nên có giới hạn cho phép tối đa đối với một số bộ
phận có giá trị khác nhau.
1.4. Phương pháp xạ trị dùng tia gamma
1.4.1. Khái niệm và mục đích xạ trị

ác tính … và những cấu trúc lành trong vùng chiếu xạ. Bác sĩ không bao giờ do
dự trong việc thay đổi những điều đã quy định với những điều phát sinh.
 Đánh giá từng giai đoạn về thể lực của bệnh nhân, sự đáp ứng của khối u và
thể trạng của tổ chức lành trong khu vực điều trị.
Bác sĩ điều trị phải cùng làm việc chặt chẽ với đội ngũ vật lý, kế hoạch điều trị
và bộ phận đo lường, không thể nhầm lẫn được đánh giá lâm sàng, hiểu sai về
những quan niệm vật lý, không hoàn hảo về phác đồ điều trị và thực hiện phác đồ.
1.4.3. Các phương pháp xạ trị
Có hai phương pháp xạ trị phổ biến đã và đang được sử dụng là xạ trị ngoài
hay còn gọi là xạ trị từ xa và xạ trị trong (còn gọi là xạ trị áp sát).
Xạ trị trong hay còn gọi là xạ trị áp sát là kỹ thuật xạ trị mà khoảng cách từ
nguồn phóng xạ đến các khối u là rất nhỏ. Trong phương pháp này người ta sử
dụng các nguồn phóng xạ có dạng kim, dạng ống, tube để đưa sát lại vùng có khối
u. có ba cách thực hiện kỹ thuật này: dùng tấm áp bề mặt để điều trị các vùng như
da mặt, vùng đầu, vùng cổ, …; cách thứ hai là dùng các applicator để điều trị ở các
khoang tự nhiên của cơ thể; loại thứ ba người ta sử dụng các kim cắm trực tiếp vào
trong các khe, kẽ, trong mô, …
Xạ trị ngoài hay còn gọi là xạ trị từ xa là phương pháp xạ trị mà nguồn phát
tia ở cách bệnh nhân một khoảng nào đó. Đây là phương pháp rất phổ biến trong
điều trị ung thư hiện nay. Phương pháp này được tiến hành với chùm photon từ
nguồn phát như nguồn Co
60
hoặc chùm phát tia X năng lượng cao được tạo bởi
chùm electron đã được gia tốc bởi máy gia tốc tuyến tính lái cho đập vào bia, cũng
có thể dùng trực tiếp chùm electron đã được gia tốc phát ra từ máy gia tốc.
Nội dung của luận văn này đề cập đến xạ trị dùng chùm photon được tạo ra
từ máy gia tốc PRIMUS – SYMAN.
1.4.4. Phương pháp xạ trị dùng máy gia tốc
22


1,33 MeV, nghĩa là không điều khiển được năng lượng.
- Chùm tia có nhược điểm: độ đâm xuyên kém, liều mặt da cao, liều sâu phần
trăm thấp, độ rộng bán dạ của chùm tia lớn.
23

- Có độ rò rỉ bức xạ từ đầu nguồn. Suất liều bức xạ thấp và giảm theo thời
gian. Do đó, càng về sau thì thời gian điều trị càng phải kéo dài. Sau khoảng thời
gian nào đó (khoảng 5 đến 7 năm) lại phải thay nguồn.
- Độ an toàn không cao. Do nguồn Cobalt 60 là nguồn phóng xạ nên nó luôn
phát chùm tia ngay cả khi ngừng chiếu xạ và ngay cả khi nguồn không được sử
dụng bị thay đi.
Kĩ thuật xạ trị từ xa hiện đại nhất là sử dụng máy gia tốc tuyến tính. Trong đó
chùm electron được gia tốc bằng sóng cao tần theo nguyên lí gia tốc thẳng rồi được
đưa ra ngoài sử dụng để điều trị bằng electron hoặc được lái đập vào bia tạo ra chùm
photon.
Phương pháp xạ trị sử dụng máy gia tốc tuyến tính là một bước tiến lớn trong kỹ
thuật xạ trị hiện đại. Cơ sở của nhận định này là dựa trên những ưu việt của máy gia
tốc:
- Máy gia tốc có thể cho hai loại chùm tia là chùm electron và chùm photon.
- Có thể điều khiển được năng lượng chùm tia phát ra từ máy gia tốc.
- Kích thước của vùng bán dạ chùm tia nhỏ, suất liều bức xạ cao.
- Không cần thay thế nguồn bức xạ như trường hợp máy Cobalt.
- Độ an toàn phóng xạ cao, do máy gia tốc không có nguồn phóng xạ, nó chỉ
phát chùm tia khi hoạt động.
- Các đặc tính của chùm tia tốt hơn.
Để đáp ứng yêu cầu cao nhất cho mục đích xạ trị, máy gia tốc phải được thiết
kế đạt yêu cầu cơ bản:
- Chùm bức xạ phát ra từ máy gia tốc phải được xác định rõ năng lượng và
có thể thay đổi được kích thước.
- Liều lượng bức xạ của chùm tia phải đồng đều.

CT - Scanner
Máy gia tốc
Accelerator
Máy mô phỏng
Simulator
Hệ thống phần mềm lập kế hoạch
điều trị TPS
CT - Scanner
Khuôn chắn tia nhiều

Giá định vị bệnh
nhân Hình 1.5 Mô hình hệ thống xạ trị cơ bản

25 CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH MỘT SỐ
ĐẶC TRƯNG CỦA CHÙM PHOTON TỪ LỐI RA CỦA
MÁY GIA TỐC PRIMUS -SIEMENS
2.1. Máy gia tốc PRIMUS - Siemens dùng trong xạ trị[4,5,6]
2.1.1. Nguyên lý cấu tạo của máy gia tốc tuyến tính dùng trong xạ
trị.
Máy gia tốc tuyến tính dùng trong xạ trị thường được chia thành 5 hệ thống đó
là:
 Hệ thống phun, là một nguồn electron hay còn gọi là súng điện tử
 Hệ thống tần số vô tuyến bao gồm nguồn tần số vô tuyến sử dụng magneton


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status