các loại vận đơn đường biển trong thương mại quốc tế & những lưu ý khi lập và kiểm tra vận đơn - Pdf 10

KHOA NGÂN HÀNG
BỘ MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN TUẦN 5
CÁC LOẠI VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ &
NHỮNG LƯU Ý KHI LẬP VÀ KIỂM TRA
VẬN ĐƠN
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Cẩm Thủy
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 12
1. Vương Thị Huyền (Nhóm trưởng)
2. Phạm Đức Nam
3. Vũ Thị Lý
4. Nguyễn Ngọc Sơn
5. Đào Thị Nhân
6. Lê Tiến Hưng
7. Nguyễn Thị Loan
8. Vũ Văn Hiệu
9. Nguyễn Cơ Thạch
10. Lê Văn Hậu
MỤC LỤC
2
PHẦN 1. ĐÔI NÉT VỀ VẬN ĐƠN VÀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN
1.1. Khái niệm
Trong vận tải biển, Vận đơn (bill of lading) có thể được hiểu nôm na như một
“phiếu ghi nhận” (bill) của việc “xếp hàng” (loading). Theo âm Hán Việt, từ “vận đơn”
gồm hai từ “vận” được hiểu là vận chuyển, và “đơn” có nghĩa là phiếu, hay chứng từ; gộp
lại có thể hiểu đó là một văn bản hay chứng từ về việc vận chuyển hàng.
Cách giải thích theo tiếng Anh và tiếng Hán Việt tuy có khác nhau đôi chút, nhưng
tựu chung lại thuật ngữ này cũng chỉ sự ghi nhận của người vận chuyển về việc xếp hàng
lên tàu để vận chuyển.

sở để đối chiếu theo dõi việc thực hiện hợp đồng của người bán
Đối với người chuyên chở vận đơn là cơ sở cho việc thực hiện nghĩa vụ trong
chuyên chở hàng hóa. Ngoài ra, vận đơn còn là căn cứ để khai hải quan, làm thủ tục xuất
nhập khẩu, làm căn cứ xem xét khi có tranh chấp, khiếu nại phát sinh…
1.3. Một số điểm cơ bản trên vận đơn đường biển
Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading) là chứng từ chuyên chở hàng hóa
bằng đường biển, do người vận chuyển (carrier) hoặc đại lý của người vận chuyển
(Agent of carrier) phát hành cho người gửi hàng (Shipper) sau khi hàng hóa đã được xếp
lên tàu (shipped on board) hoặc sau khi nhận hàng để xếp (received for shipment).
Trên vận đơn đường biển thường có các nội dung cơ bản sau:
1.3.1. Tiêu đề vận đơn đường biển:
Tiêu đề của vận đơn đường biển thường được in sẵn và không quyết định tính chất,
nội dung và loại vận đơn, do đó về mặt lí thuyết vận đơn có thể không cần có tiêu đề
hoặc có tiêu đề là bất cứ thế nào. Để biết vận đơn thuộc loại nào phải căn cứ vào nội
dung cụ thể trên mặt trước tờ vận đơn.
1.3.2. Tên người chuyên chở:
Bất kì vận đơn nòa cũng phải thể hiện tên của công ty vận tải biển hay người
chuyên chở (Shipping company or Carrier). Người chuyên chở mới đích thực là biên đại
diện cho hợp đồng chuyên chở nên người chuyên chở phải có trách nhiệm pháp lí về vận
đơn phát hành trên danh nghĩa của mình và khi có tranh chấp xảy ra về vận tải hàng hóa
thì người chuyên chở phải là người đại diện để giải quyết.
1.3.3. Người nhận hàng:
Tùy theo việc giao hang là đích danh, theo lệnh hay vô danh mà điền vào ô nhận
hàng (Consignee) cho thích hợp. Thông thường, ô này in sẵn các phương án để tiện dung
trong các trường hợp khác nhau:
- Nếu giao hàng đích danh thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ kinh doanh của người
nhận hàng; ngoài ra có thể ghi thêm các thong tin như điện thoại, fax, telex. Đồng thời,
phải gạch bỏ tất cả các từ in sẵnđứng trước tên người nhận hàng có nội dung như “Theo
lệnh – to Order”, “Theo lệnh của– to Order of”
- Nếu giao hàng theo lệnh của 1 người đích danh, thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ

được lưu thong và người chuyên chở sẽ giao hàng cho ai xuất trình vận đơn gốc hợp pháp
đầu tiên tại cảng đích, do đó người ta cần phải biết được số bản gốc vận đơn được phát
hành là bao nhiêu để theo dõi và kiểm soát trong quá trình lưu thong. Số bản vận đơn gốc
được in ở mặt trước tờ vận đơn bằng cả số và chữ.
1.3.6. Ký mã hiệu, số lượng và mô tả hàng hóa:
- Kí hiệu mã hàng hóa (Shipping Marks), số container (Container Nos.), số kẹp chì
(Seal Nos.): Là những kí hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ được in bên ngoài
hàng hóa đối với những loại hàng hóa không có bao bì và in ở trên các bao bì hàng hóa
đối với các loại hàng hóa có bao bì. Các ký hiệu mã này nhằm để nhận dạng hàng hóa,
thong báo những chi tiết cần thiết cho việc giao nhận, bốc dỡ hoặc bảo quản hàng hóa.
5
Các ký mã hiệu này được ghi trên hàng và boa bì như thế nào thì phải được ghi vào vận
đơn như thế.
- Số lượng, số chiệc hoặc trọng lượng: Sau khi hàng được xếp lên tàu, người chuyên
chở hoặc đại lí phải điền vào vận đơn các thong số như số lượng hàng hóa, trọng lượng
hàng hóa, số container mà mình đã nhận hoặc xếp lên tàu.
- Mô tả hàng hóa: Trên vận đơn, hàng hóa có thế chỉ cần mô tả 1 cách chung chung,
miễn là có thể phân biệt được tên hàng, quy cách phẩm chất, quy cách kĩ thuật…
Mục đích của việc ghi ký mã hiệu, số lượng, trọng lượng và mô tả hàng hóa là
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận hàng hóa của nhiều chủ hàng tại cảng
đích tránh nhầm lẫn thiếu hụt vì trên tàu thường xếp hàng hóa của nhiều chủ hàng khác
nhau và có nhiều hàng hóa có thể trông giống nhau.
1.3.7. Ngày và nơi phát hành vận đơn:
- Nơi phát hành vận đơn có thể ghi địa chỉ của người chyên chở hay đại lí của họ,
cảng xếp hay địa điểm nào đó do 2 bên thỏa thuận. Nơi phát hành vận đơn có ý nghĩa
trng việc chọn luật điều chỉnh cũng như theo dõi hành trinh của tàu vận chuyển hoặc
chứng minh về xuất xứ hàng hóa.
- Nếu không có ghi chú riêng biệt về ngày giao hàng trên vận đơn thì ngày phát
hành vận đơn chính là ngày giao hàng. Để lấy được vận đơn hợp lệ có thể xảy ra các
trường hợp kí lùi hoặc kí tiến trên vận đơn, tức là ngày kí vận đơn không phải là ngày

chuyên chở mà chỉ cần ghi rõ chức năng của mình (là người chuyên chở hay đại lí của
người chuyên chở)
• Nếu trên vận đơn không in sẵn tên người chuyên chở thì khi kí bắt buộc phải ghi đầy đủ
tên người chuyên chở và chức năng của người kí.
- Thuyền trưởng hay đại lí của thuyền trưởng kí vận đơn:
• Vì mỗi con tàu biển đích danh chỉ có 1 thuyền trưởng và tên của con tàu luôn phải thể hiện
trên vận đơn, do đó khi kí vận đơn, thuyền trưởng không cần chỉ ra tên của mình, tuy
nhiên trong thực tế ta vẫn gặp trường hơp thuyền trưởng kí vẫn đơn và ghi đầy đủ họ tên
của mình (điều này không bắt buộc và được chấp nhận). Vì thuyền trưởng có thể có
nhiều đại lí, do đó, để biết chính xác đại lí nào đã kí vận đơn thì khi kí vận đơn, đại lí của
thuyền trưởng phải ghi rõ đầy đủ tên và chức năng của mình.
• Do tên của người chuyên chở luôn phải thể hiện trên vận đơn bằng cách in sẵn hoặc ghi
thêm hoặc đóng dấu trên vận đơn. Do đó khi kí vận đơn, thuyền trưởng hay đại lí của
thuyền trưởng không cần lặp lại tên của người chuyên chở nữa.
7
PHẦN 2. CÁC LOẠI VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN TRONG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
Trong thực tế có rất nhiều loại vận đơn đường biển, sau đây là một số loại vận đơn
đường biển được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. Phổ biến nhất là phân loại theo
các tiêu chí sau:
2.1. Căn cứ vào quyền chuyển nhượng, sở hữu hàng hóa ghi
trên vận đơn.
+ Vận đơn đích danh (Straight Bill of Lading/ Bill of Lading to a name person): là vận
đơn mà trên đó người ta ghi rõ tên và địa chỉ người nhận. Người chuyên trở chỉ giao hàng
hóa cho ai là người có tên trong vận đơn và vận đơn loại này khi muốn chuyển nhượng
phải tuân theo luât pháp hoặc tập quán nơi diễn ra hành động chuyển nhượng.
+ Vận đơn theo lệnh (Bill of lading to oder of….) là loại vận đơn mà trên đó không ghi tên
người nhận hàng mà ghi “theo lệnh của….” hoặc “theo lệnh – to oder”. Đây là loại phổ
biến nhất trong thương mại và vận tải quốc tế, mà theo đó người vận tải sẽ giao hàng theo
lệnh của người gửi hàng, hoặc của người được ghi trên vận đơn.

không phải là chứng từ sở hữu hàng hóa. Người ta dùng vận đơn copy làm thủ tục hành
chính, tham khảo hoặc lưu trữ hồ sơ,… vận đơn copy cũng do người chuyên chở phát
hành theo lệnh của người gửi hàng.
2.6. Căn cứ vào tính độc lập của vận đơn
+ Vận đơn theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến: Loại vận đơn phổ biến nhất, chiếm
đại đa số khối lượng hàng hóa vận chuyển là vận đơn dùng để chở hàng bằng đường biển
từ cảng biển đến cảng biển.
+ Vận đơn không cấp theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến: Đây là loại vận đơn độc
lập, không phụ thuộc vào hợp đồng vận chuyển theo chuyến.
2.7. Một số loại vận đơn khác
+ Vận đơn rút gọn (short B/L) là vận đơn chỉ có nôi dung ở mặt trước, mặt sau để trống. Ở
mặt trước, ngoài những điều khoản có trên tờ vận đơn bình thường còn có dẫn chiếu để
giải quyết khi có tranh chấp phát sinh.
+ Vận đơn hải quan (Custom’s B/L) khi hàng chưa bốc lên tàu mà phải nhập kho hải quan
để làm thủ tục thì hải quan sẽ cấp cho chủ hàng hóa một loại vận đơn gọi là vận đơn hải
quan. Vận đơn hải quan chỉ dùng để giải quyết các thủ tục hải quan.
+ Vận đơn của người giao nhận (Forwarder B/L): ngày nay người giao nhận không chỉ
làm đại lý, ủy thác giao nhận hàng hóa đơn thuần mà họ còn có thêm chức năng vận tải.
Vì thế người giao nhận sẽ cấp cho người giao hàng cho mình một vận đơn goi là vận đơn
của người giao nhận.
+ Vận đơn Container: gồm có vận đơn container nguyên (Full Container Load – FCL) và
vận đơn Container hàng hàng lẻ (less than container Load – LCL). Trong FCL người
chuyên trở nhận hàng trực tiếp từ người gủi hàng là những container nguyên đã được
niêm phong kẹp chì, thì người chuyên trở cấp cho người gửi hàng một vận đơn goi là
Container Bill of Lading. Trong LCL thì những hàng hóa không đủ để đóng chung hàng
những người khác trong cùng một container mà phải gửi hàng với những người khác
9
trong cũng một container thì người chuyên chở sẽ cấp cho người gửi hàng một vận đơn
container hàng lẻ.
+ Vận đơn xếp hàng lên boong (Deck B/L) là vận đơn được cấp trong trường hợp hàng

thanh toán trước, trị giá nhỏ, hoặc của cùng một chủ sở hữu…, ví dụ: công ty mẹ gửi cho
công ty con…); không cần chuyển nhượng vận đơn (vì không có nhu cầu mua đi bán
lại…); không cần xuất trình (nộp) vận đơn khi nhận hàng tại cảng trả hàng
10
- Tiến bộ về khoa học kỹ thuật và tổ chức luồng tàu vận chuyển trong ngành Vận tải
biển đã giảm đáng kể thời gian vận chuyển hàng từ cảng bốc đến cảng dỡ nên trong nhiều
trường hợp, hàng đến cảng đích mà vận đơn vẫn chưa tới làm cho việc nhận hàng gặp
nhiều khó khăn. Trong khi đó, không cần dùng vận đơn cho các mục đích nêu trên.
“Giấy gửi hàng đường biển” được dùng để tạo thuận lợi trong thương mại quốc tế.
Có thể nói, “Giấy gửi hàng đường biển” là một “vận đơn” nhưng không có chức năng là
chứng từ sở hữu hàng hóa (document of title). Cần lưu ý về tính năng, giá trị pháp lý của
“Giấy gửi hàng đường biển” để sử dụng phù hợp vì để nhận hàng không cần nộp “Giấy
gửi hàng đường biển” mà chỉ cần xuất trình giấy tờ (chứng từ) chứng minh người nhận
hàng đúng là người có tên trên “Giấy gửi hàng đường biển”. Giấy tờ này có thể chỉ là
Giấy giới thiệu (của tổ chức, công ty) và Giấy chứng minh nhân dân của người đi nhận
hàng thay mặt công ty hoặc giấy tờ tùy thân nếu là hàng của cá nhân.
Nhìn chung phân loại theo cách nào thì các vận đơn đều có các đặc điểm cơ bản
là:
- Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã
nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận
chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng
và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
- Nội dung của vận đơn bao gồm tên và trụ sở chính của người vận chuyển; tên
người gửi hàng; tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được ký phát dưới dạng vận
đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh; tên tàu biển; mô tả về chủng loại, kích thước, thể
tích, số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc giá trị hàng hóa, nếu xét thấy cần thiết; mô tả tình
trạng bên ngoài hoặc bao bì hànghóa; ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hóa mà
người giao hàng đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng lên tàu biển và được đánh
dấu trên từng đơn vị hàng hóa hoặc bao bì; cước vận chuyển và các khoản thu khác của
người vận chuyển; phương thức thanh toán; nơi bốc hàng và cảng nhận hàng; cảng trả

hàng xuất nhập khẩu cần quan tâm nhằm tránh những tranh chấp có thể phát sinh, bảo vệ
được quyền lợi của mình trong mọi trường hợp.
Dưới đây, nhóm xin trình bày một số điểm lưu ý cơ bản trong quá trình lập và kiểm
tra vận đơn:
3.1. Một số vấn đề cần lưu ý với vận đơn đường biển theo tập
quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP 681 năm 2007)
Trên thực tế, khi tờ vận đơn xuất trình được các ngân hàng chấp nhận là hợp lệ có
thể chia thành hai trường hợp.
3.1.1. Trường hợp tín dụng thư có quy định về chứng từ vận tải
Khi tín dụng thư có quy định về chứng từ vận tải thì vận đơn xuất trình phải đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu của tín dụng thư về hình thức, nội dung, số bản gốc, các thông tin
trên chứng từ Nếu vận đơn khi xuất trình không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu theo
quy định thì vận đơn đó coi như không hợp lệ và như vậy bộ chứng từ sẽ không được
chấp nhận thanh toán. Vì vậy, khi kiểm tra L/C (người nhập khẩu mở cho người xuất
khẩu hưởng), nếu thấy yêu cầu nào đó trên L/C không thể đáp ứng được thì người xuất
khẩu phải yêu cầu sửa đổi hoặc hủy bỏ Người xuất khẩu chỉ giao hàng khi L/C đã sửa
đổi và các yêu cầu trên L/C có thể đáp ứng được. Có như vậy mới đảm bảo khả năng bộ
chứng từ được chấp nhận thanh toán khi xuất trình tại ngân hàng.
3.1.2. Trường hợp hợp đồng mua bán và tín dụng thư không quy
định về chứng từ vận tải
Nếu hợp đồng mua bán và L/C không có quy định gì về chứng từ vận tải, khi xuất
trình bộ chứng từ tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng, vận đơn sẽ được coi là hợp lệ
13
theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (ISBP số 681 năm 2007) dùng để kiểm tra
chứng từ trong phương thức thanh toán bằng tín dụng thư phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Về hình thức của tờ vận đơn
Trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, vận đơn có thể được phát hành dưới
dạng giấy hoặc bằng dữ liệu điện tử. Nếu vận đơn được phát hành dưới dạng giấy thì gọi
là vận đơn giấy, phát hành dưới dạng điện tử thì gọi là vận đơn điện tử (electronic Bill of
Lading). Về hình thức của tờ vận đơn đường biển, mỗi hãng tàu khác nhau có thể phát

gốc. Miễn là tờ vận đơn đó được lập hoặc thể hiện là được lập bằng các phương pháp
theo quy định như đánh máy, viết tay hay mẫu chứng từ chính thức của người phát
hành và được ghi chú là chứng từ gốc. Theo ISBP số 681 năm 2007 thì ngân hàng sẽ coi
là chứng từ gốc một khi trên chứng từ đó thể hiện có chữ ký, ký hiệu, dấu hoặc nhãn gốc
chân thực của người phát hành chứng từ (trừ trường hợp trên chứng từ chỉ rõ không phải
là bản gốc).
* Chữ ký và người ký vận đơn
Vận đơn đường biển do người vận chuyển phát hành khi nhận hàng để chở. Vì vậy
trên bề mặt của tờ vận đơn phải có tên của người vận chuyển và được ghi rõ là người vận
chuyển (as the carrier), và trên các tờ vận đơn gốc phải có chữ ký của người vận chuyển
hoặc những người được phép ký theo quy định. Theo Điều 94 – ISBP số 681 năm 2007,
người ký vận đơn trên thực tế có thể là:
- Người vận chuyển ký vận đơn: Người vận chuyển ký và ghi rõ tên đồng thời phải
thể hiện là người vận chuyển.
- Đại lý của người vận chuyển ký vận đơn: Đại lý của người vận chuyển ký vận đơn
phải ghi rõ tên đồng thời thể hiện là đại lý thay mặt người vận chuyển.
- Thuyền trưởng ký vận đơn: Thuyền trưởng ký vận đơn phải thể hiện rõ là thuyền
trưởng.
- Đại lý thay mặt thuyền trưởng ký vận đơn: Khi ký vận đơn phải thể hiện là đại lý
và ghi rõ tên của thuyền trưởng mà đại lý thay mặt.
Các chữ ký của người vận chuyển, thuyền trưởng hoặc đại lý phải xác định được
đích thực chữ ký đó là của người vận chuyển, của thuyền trưởng hoặc đại lý đã ký thay
hoặc đại diện cho người vận chuyển, thuyền trưởng. Trường hợp nếu L/C quy định “vận
đơn của người giao nhận cũng chấp nhận-freight for warrder’s bill of lading is
acceptable” thì người giao nhận có thể ký vận đơn với tư cách của người giao nhận mà
không cần phải thể hiện anh ta là người vận chuyển hay đại lý cho người vận chuyển và
cũng không cần thiết phải nêu tên người vận chuyển thực tế.
* Những ghi chú bốc hàng lên tàu
Khi giao hàng bằng đường biển, vận đơn xuất trình tại ngân hàng phải có ghi chú
“đã bốc hàng – shipped on board”. Nếu trên tờ vận đơn đã in sẵn từ “đã bốc hàng” được

Trường hợp L/C quy định “cấm chuyển tải – transhipment not allowed” thì tất cả
các vận đơn có phê chú chuyển tải đều là không hợp lệ, trừ khi hàng được vận chuyển
bằng container, xe rơ-moóc hay tàu Lash đã ghi trên vận đơn.
* Giao hàng từng phần
Điều 105-ISBP số 681 năm 2007 quy định, nếu một tín dụng thư cấm giao hàng
từng phần và có nhiều bộ vận đơn gốc được xuất trình cho lô hàng từ một hay nhiều cảng
bốc hàng thì các chứng từ đó vẫn được ngân hàng chấp nhận, miễn là chúng dùng cho
việc giao hàng trên cùng một con tàu, trên cùng một hành trình và được chở đến cùng
một cảng dỡ hàng. Nếu trên các bộ vận đơn được xuất trình có ngày giao hàng khác nhau
thì ngày giao hàng muộn nhất trong các ngày đó được dùng để xác định thời hạn xuất
trình theo yêu cầu của tín dụng thư.
Giao hàng từng phần là giao hàng trên nhiều con tàu, ngay cả khi những con tàu này
rời cảng cùng một ngày và đến cùng cảng đến.
16
Người nhận hàng, bên ra lệnh, người gửi hàng và ký hậu, bên thông báo
Tín dụng thư yêu cầu vận đơn phát hành dưới dạng đích danh, ví dụ “consigned to
V.C.B”, thì trên tờ vận đơn không được ghi từ “theo lệnh – to order” hoặc “theo lệnh của
– to order of” trước tên của bên đích danh đó cho dù đánh máy hay in sẵn.
Nếu tín dụng thư yêu cầu hàng hóa phải giao “theo lệnh – to order” hoặc “theo lệnh
của – to order of” một bên đích danh thì trên tờ vận đơn không được ghi hàng hóa được
giao trực tiếp cho bên đích danh đó.
Khi vận đơn được phát hành “theo lệnh – to order” hoặc “theo lệnh của người gửi
hàng – to order of the Shipper” thì vận đơn phải được người gửi hàng ký hậu. Người gửi
hàng có thể cho phép hoặc ủy quyền cho người khác ký hậu vận đơn thay mình, đều có
thể chấp nhận được.
* Tính hoàn hảo của vận đơn
Trường hợp tín dụng thư không quy định gì, vận đơn xuất trình tại ngân hàng được
coi là hợp lệ phải là vận đơn hoàn hảo (clean bill of lading). Vận đơn hoàn hảo là vận
đơn mà trên đó không có phê chú xấu về hàng hóa cũng như tình trạng hàng hóa lúc giao.
Như vậy, một vận đơn hoàn hảo không nhất thiết phải có từ “hoàn hảo – clean” trên đó,

3.2. Những lưu ý khi sử dụng vận đơn đường biển
Vận đơn đường biển là một chứng từ quan trọng trong giao nhận vận chuyển, bảo
hiểm, thanh toán và khiếu nại (nếu có). Trong thực tiễn sử dụng vận đơn phát sinh nhiều
tranh chấp gây ảnh hưởng đến các bên liên quan do các bên chưa thực sự hiểu hoặc có
những cách hiểu khác nhau về giá trị pháp lý của vận đơn, về nội dung và hình thức của
vận đơn… Vì vậy khi lập và sử dụng vận đơn cần lưu ý những điểm sau đây:
* Giá trị pháp lý của vận đơn:
Theo thông lệ Hàng hải Quốc tế (công ước Brussels 1924, điều 1 khoản b) và Bộ
luật Hàng hải Việt nam thì vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người nhận
hàng và người chuyên chở. Khi xảy ra thiếu hụt, hư hỏng, tổn thất…. đôí với hàng hoá
ở cảng đến thì người nhận hàng phải đứng ra giải quyết với người chuyên chở căn cứ vào
vận đơn. Trên lý thuyết thì như vậy nhưng trong thực tế có rất nhiều tranh chấp phát sinh
xung quanh vấn đề này. Cụ thể là:
Trong thương mại hàng hải quốc tế thường lưu hành phổ biến 2 loại vận đơn: vận
đơn loại thông thường (gọi là Conline bill) và vận đơn cấp theo hợp đồng thuê tàu (gọi là
Congen bill). Điểm khác nhau cơ bản của 2 loại vận đơn này là: Conline bill chức đầy đủ
mọi quy định để điều chỉnh quan hệ giữa người nhận hàng và người chuyên chở như
phạm vi trách nhiện, miễn trách, thời hiệu tố tụng, nơi giải quyết tranh chấp và luật áp
dụng, mức giới hạn bồi thường, các quy định về chuyển tải, giải quyết tổn thất chung,
những trường hợp bất khả kháng…. Thông thường loại vận đơn này có đầy đủ 3 chức
năng như Bộ luật Hàng hải Việt nam quy định.
Ngược lại, Congen bill được cấp phát theo một hợp đồng thuê tàu chuyến nào đó.
Loại này thường chỉ có chức năng là một biên nhận của người chuyên chở xác nhận đã
nhận lên tàu số hàng hoá được thuê chở như đã ghi trên đó. Nội dung của loại vận đơn
này rất ngắn gòn và bao giờ cũng phải ghi rõ: phải sử dụng cùng với hợp đồng thuê tàu
(to be used with charter parties). Ngoài ra trong vận đơn loại này bao giờ cũng có câu:
mọi điều khoản, mọi quy định miễn trách nhiệm cho người chuyên chở đã ghi trong hợp
18
đồng thuê tàu kể cả các điều khoản luật áp dụng và trọng tài phải được áp dụng cho vận
đơn (All terms and conditions, leberties and exceptions of the charter party, dated as

giới không có một công ước nào điều chỉnh vận đơn thứ cấp.
Thứ hai, vận đơn đường biển chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ người vận tải biển
liên quan tới việc bốc xếp, chuyên chở, dỡ hàng và trả hàng phát sinh từ hợp đồng thuê
tàu. Ngược lại vận đơn thứ cấp còn chứa đựng những quy định pháp lý về chuyên chở
19
bằng đường bộ, đường sông, đường sắt. Vì vậy, không gian pháp lý của vận đơn thứ cấp
rộng hơn vận đơn đường biển.
Thứ ba, trong vận đơn thứ cấp thường ghi địa điểm nhận hàng để chở (place of
receip) và địa điểm trả hàng (place of delivery) chứ không đơn thuần cảng bốc hàng và
cảng dỡ hàng.
Thứ tư, vận đơn đường biển bao giờ cũng ghi rõ: đã bốc hàng lên tàu (shipped on
board) hoặc đã nhận để bốc lên tàu (received for shipment). Ngược lại, vận đơn thứ cấp
thường ghi: nhận để vận chuyển (taken in charge for transport) vì có thể chở bằng đường
biển, đường sông, đường bộ…
Thứ năm, trong vận đơn đường biển, người gửi hàng gọi là shipper còn trong vận
đơn thứ cấp, người gửi hàng gọi là congignor. Trong vận đơn đường biển luôn ghi người
nhận hàng (consignee) hoặc đích danh hoặc theo lệnh nhưng trong vận đơn thứ cấp luôn
ghi là: hàng được giao nhận theo lệnh (consigned to order of….)
Thứ sáu, vận đơn đường biển luôn có chức năng là chứng từ nhận quyền định đoạt
hàng hoá nhưng với vận đơn thứ cấp, tính chất này có hay không do hai bên thoả thuận
khi phát hành.
Thứ bảy, người chuyên chở đường biển không chịu trách nhiệm về hàng đến chậm
nhưng người giao nhận lại phải chịu trách nhiệm về việc này.Có khi họ phải đến gấp đôI
số tiền cước cho thiệt hại do giao hàng chậm.
Thứ tám, thời hiệu khiếu nại trong vận đơn đường biển là 1 năm, trong khi đó ở vận
đơn thứ cấp chỉ là 9 tháng. Số thời gian chênh lệch là dành cho người giao nhận khiếu nại
lại người vận tải chính thức.
Thứ chín, vận đơn đường biển chỉ cần 1 con dấu và 1 chữ ký vì nó chỉ được cấp sau
khi hàng đã bốc lên tàu. Trong khi đó, vận đơn thứ cấp do được phát hành khi nhận hàng
để chở nên phải có thêm 1 con dấu và 1 chữ ký nữa xác nhận rằng hàng đã được bốc lên

hoá lên tàu và phải trong thời hạn hiệu lực của L/C.
+ Mục chữ ký vận đơn: Chữ ký trên vận đơn có thể là trưởng hãng tàu, đại lý của
hãng tàu.
Khi đại lý ký thì phải ghi rõ hay đóng dấu trên vận đơn “chỉ là đại lý (as agent
only)”.
- Về hình thức
Hình thức của vận đơn do các hãng tự lựa chọn và phát hành để sử dụng trong kinh
doanh. Vì vậy, mỗi hãng khác nhau phát hành vận đơn có hình thức khác nhau. Tuy
nhiên hình thức phát hành không quyết định giá trị pháp lý của vận đơn.
Những hình thức thể hiện của vận đơn:
Hình thức phổ biến nhất là loại vận đơn đường biển thông thường, chỉ sử dụng
trong chuyên chở hàng hoá bằng đường biển (trên vận đơn chỉ ghi “Bill of lading”. Loại
vận đơn này là loại vận đơn truyền thống đang dần được thay thế bởi loại vận đơn phát
hành dùng cho nhiều mục đích, nhiều phương thức chuyên chở. Đó là:
- Loại vận đơn dùng cho cả vận tải đơn phương thức và đa phương thức: trên vận
đơn ghi: “bill of lading for combined transport shipment or port shipment”. Loại chứng
từ này được hiểu là vận đơn đường biển và có thể chuyển nhượng được trừ phi người
phát hành đánh dấu vào ô “Seaway bill, non negotiable”.
21
- Vận đơn dùng cho cả lưu thông và không lưu thông: “bill of lading not negotiable
unless consigned to order” (vận đơn này không chuyển nhượng được trừ phi phát hành
theo lệnh)….
Như vậy nhìn vào hình thức vận đơn chúng ta không biết đươc nó là loại nào, giá trị
pháp lý như thế nào. Muốn xác định cụ thể ta lại phải xem xét đến các nội dung thể hiện
trên vận đơn.
Giấy gửi hàng đường biển (seaway bill)
Vận đơn là một trong những chứng từ quan trọng nhất của mua bán quốc tế khi
hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển. Tuy vậy, dần dần vận đơn đã bộc lộ nhiều
nhược điểm như:
- Thứ nhất, nhiều khi hàng hoá đã đến cảng dỡ hàng nhưng người nhận không có

người nhận hàng hợp pháp. Điều này giúp cho các bên hữu quan hạn chế được rất nhiều
rủi ro trong việc giao nhận hàng, không những thế, vì seaway bill không phải là chứng từ
sở hữu hàng hoá nên khi bị mất hay thất lạc thì cũng không ra hậu quả nghiêm trọng nào.
Tuy nhiên, seaway bill không phải là không có những hạn chế như seaway bill cản trở
mua bán quốc tế (vì seaway bill là rất phức tạp và khó khăn khi người chuyên chở và
người nhận hàng là những người xa lạ, mang quốc tịch khác nhau; luật quốc gia của một
số nước và công ước quốc tế chưa thừa nhận seaway bill như một chứng từ giao nhận
hàng….
Ở Việt nam, việc áp dụng seaway bill vận còn rất mới mẻ, mặc dù đã có cơ sở pháp lý để
áp dụng seaway bill. Mục C – điều Bộ luật Hàng hải Việt nam quy định. Người vận
chuyển và người giao nhận hàng có thể thoả thuận việc thay thế B/L bằng giấy gửi hàng
hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương và thoả thuận về nội dụng, giá trị của
các chứng từ này theo tập quán Hàng hải quốc tế.
3.3. Một số điểm cần lưu ý khi kiểm tra vận đơn
Có rất nhiều điểm cần lưu ý khi kiểm tra vận đơn đường biển. Tuy nhiên do thời
gian có hạn, nhóm thảo luận chỉ đưa ra những vướng mắc thường gặp phải trong quá
trình kiểm tra vận đơn. Cụ thể là:
3.3.1. Ngày giao hàng trên B/L
Tầm quan trọng của ngày giao hàng: Ngày giao hàng là căn cứ để các bên tham gia
thương mại và thanh toán quốc tế khẳng định người bán đã thực hiện đúng thời hạn giao
hàng được quy định trong Hợp đồng thương mại hoặc L/C.
Căn cứ để xác định ngày giao hàng: Ngày giao hàng được căn cứ vào chứng từ vận
tải. Tuy nhiên, trên B/L, có thể có thông tin về ngày tháng trong mục ghi chú On Board.
Ðiều này thường dẫn đến băn khoăn cho ngân hàng là ngày nào sẽ được coi là ngày giao
hàng.
Kết luận về ngày giao hàng:
- Trường hợp B/L có ghi chú On Board:Ngày của ghi chú On Board - OBN (On
Board Notation) sẽ được coi là ngày giao hàng cho dù ngày On Board trước hoặc sau
ngày phát hành B/L. Nếu trên 1 B/L có nhiều hơn một ghi chú On Board, ngày On Board
sớm hơn sẽ được coi là ngày giao hàng. Nếu bộ chứng từ được xuất trình nhiều hơn một

(1) Có chấp nhận B/L không ghi chú On Board hay không?
(2) OBN chỉ ghi ngày tháng có hợp lệ hay không?
(3) OBN có ngày tháng, tên tàu đã đủ điều kiện thanh toán hay chưa?
(4) Mọi OBN có phải chỉ ra ngày tháng, tên tàu, tên cảng đi, cảng đến?
Liên quan đến vấn đề này, dựa trên hàng loạt các tài liệu đã có của ICC, chúng tôi
xin tổng hợp và phân loại như sau:
B/L không cần chỉ ra OBN:
24
Các bên tham gia thanh toán sẽ chấp nhận B/L không có OBN nếu đồng thời thỏa
mãn các điều kiện sau đây:
- Nếu B/L là loại đã xếp hàng lên tàu.
- Cảng bốc hàng phù hợp với quy định của L/C.
- Trên B/L không có chặng trước cho dù có nơi nhận hàng để chở khác với cảng bốc
hàng theo L/C.
Ví dụ: L/C quy định hàng được xếp từ Hải Phòng tới Oakland (California, USA).
B/L được chấp nhận nếu B/L đó không chỉ ra chặng trước - precarriage và có in sẵn dòng
chữ đã xếp hàng lên tàu - shipped on board.
B/L cần có OBN thể hiện ngày tháng:
Ðối với B/L nhận hàng để chở và không có chặng trước.
Ví dụ trên, nếu người thụ hưởng xuất trình vận đơn nhận hàng để chở - Receipt for
shipment B/L thì cần có OBN, tuy nhiên chỉ cần chỉ ra ngày tháng OBN là phù hợp.
B/L cần có OBN thể hiện ngày tháng và tên con tàu thực tế:
Nếu B/L có ghi “con tàu dự định” hoặc quy định tương tự liên quan đến tên con tàu,
thì việc ghi chú hàng đã xếp lên tàu, ghi rõ ngày giao hàng và tên con tàu là cần thiết.
Ví dụ: B/L thể hiện Intended vessel: MOONLIGHT III
=> Ngay cả khi hàng hóa thực tế được giao trên tàu MOONLIGHT III, B/L cần
phải có OBN thể hiện:
Vessel: MOONLIGHT III
Date: …
B/L cần có OBN thể hiện ngày tháng, tên tàu và cảng đi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status