Giáo trình: KINH TẾ HỌC VĨ MÔ potx - Pdf 10


1

Giáo trình

KINH TẾ HỌC VĨ MÔ 2


- Trong đó yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, hay còn
gọi là nền kinh tế vĩ mô (Macroeconomy) hoặc là nền kinh tế quốc dân. Hai lực
lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổng cầu.

3
Vậy  nền kinh tế quốc dân (hay hệ thống kinh tế vĩ mô) là tổng thể các
mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất của một quốc gia, từ đó
của cải của xã hội được tạo ra, lưu thông, phân phối và sử dụng.
Nền KTQD là bộ phận cơ bản của toàn bộ tồn tại xã hội, còn hoạt động kinh
tế là nội dung cơ bản của toàn bộ hoạt động xã hội. Hay, nền kinh tế quốc dân là
không gian kinh tế - xã hội, được xác định bởi các dấu hiệu sau:
a. Về hình thức tồn tại của chủ thể hoạt động kinh tế
Chủ thể hoạt động kinh tế gồm:
- Hộ gia đình (người tiêu dùng cuối cùng).
- Chính phủ (người tiêu dùng đại diện).
- Doanh nghiệp (người sản xuất).
- Người nước ngoài.
b. Về tính chất hoạt động của chủ thể kinh tế
Bốn chủ thể trên được coi là chủ thể hoạt động kinh tế vì chúng có những
hoạt động có tính chất đặc thù sau:
- Họ đều là người thực hiện nhu cầu tiêu dùng thông qua hành vi mua từ đó
tạo ra cầu về hàng hóa.
- Họ đều là người bán: như bán tư liệu sản xuất, sản phẩm, thậm chí cả sức
lao động (sức lao động cũng là một loại hàng hóa đặc biệt)  tạo ra cung hàng
hóa.
- Họ là các nhà đầu tư: như đầu tư vào sản xuất kinh doanh của cácDN, CP,
và thậm chí người tiêu dùng bình thường cũng là nhà đầu tư khi họ gửi tiền ở ngân
hàng, mua cổ phiếu, công trái,…
- Họ tạo ra các nguồn thông tin (hay là những yếu tố thông tin của thị
trường) và phải thường xuyên cạnh tranh với nhau.

Đây là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa, trao đổi thông tin và lựa
chọn chuyển dịch đầu tư.
* Vai trò của thị trường:
- Thông tin về cung - cầu, tạo điều kiện để mối quan hệ cung cầu về hàng
hóa được cân đối cả về lượng và chất.
- Tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ diễn ra thuận lợi.
- Thúc đẩy sự chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội: thông qua thị
trường các chủ thể kinh tế phát hiện và khẳng định lợi thế của mình trong không
gian, thời gian nhất định.
- Giúp cho các chủ thể kinh tế có sự lựa chọn phương án hoạt động SXKD
tối ưu thông qua việc hạch toán hiệu quả hoạt động.
Họ luôn phải thông qua việc trả lời 3 câu hỏi : Sản xuất cái gì? Sản xuất như
thế nào? Sản xuất cho ai?
3.2. Quan hệ thị trường
Đây là quan hệ mua bán, là sự trao đổi ngang giá.
3.3. Nền kinh tế thị trường
Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, được đưa ra bởi các nét đặc trưng
sau:

5
- Quá trình lưu thông vật chất trong nền kinh tế – xã hội được thực hiện chủ
yếu bằng phương thức mua bán.
- Người tham gia mua bán có quyền tự do nhất định trong việc lựa chọn:
nội dung mua bán, đối tác mua bán, giá cả trao đổi.
Nói quyền tự do nhất định vì việc lựa chọn ba nội dung trên phục thuộc vào
việc mua bán các hàng hóa pháp luật cho phép, giá cả giao động trong khung mà
thị trường có thể chấp nhận được, chọn đối tác phù hợp.
3.4. Các loại hình kinh tế thị trường
* Do khả năng sản xuất của nền kinh tế có giới hạn, đồng thời do nguồn tài
nguyên khan hiếm cho nên con người cần phải giải đáp ba vấn đề cơ bản sau (kể cả

tránh nổi của nền kinh tế thị trường thuần túy. Điển hình là J. Keynes (1884 -
1946).
Tuy nhiên, nền kinh tế này cũng có rất nhiều nhược điểm:
- Những căn bệnh của nền kinh tế thị trường nêu trên có thể xuất hiện cả lúc
tăng trưởng lẫn lúc suy thoái như khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát,…
- Mục đích tăng GNP không phải là mục đích cuối cùng của sự nghiệp kinh
tế toàn xã hội. Mà mục đích còn là mối quan hệ về lợi ích giữa các tầng lớp nhân
dân trong một chỉnh thể kinh tế - chính trị - xã hội nhất định.
- Trường phái Keynes mới chỉ xem xét phản ứng động thái của doanh
nghiệp, dân chúng trong vấn đề kinh tế ở khía cạnh của giá cả, tiền công, lạm phát,
thất nghiệp. Tức chưa chú trọng đến mặt cung của nền kinh tế, nên chưa xét được
đến ảnh hưởng của lực lượng sản xuất, của tiến bộ khoa học công nghệ,… đến tổng
cung.
3.4.3. Nền kinh tế thị trường hỗn hợp (nền kinh tế hỗn hợp)
- Định nghĩa:
Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế trong đó có sự kết hợp tối đa những ưu
điểm của cơ chế thị trường với sự điều tiết của nhà nước nhằm đạt được hệ thống
các mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội một cách hiệu quả nhất trong điều kiện có
thể của một đất nước (Hay đây là nền kinh tế mà ba vấn đề cơ bản được giải quyết
vừa có sự can thiệp của CP vừa theo cơ chế thị trường).

4. Đường cong sản lượng tiềm năng (Đường giới hạn khả năng sản xuất)
4.1. Quy luật sử dụng nguồn lực trong sản xuất của cải vật chất
Trên thực tế, mọi nguồn lực đều có hạn, thậm chí có thể được coi là khan
hiếm hoặc đang trở nên khan hiếm (Nguồn lực khan hiếm: tại một mức giá P > 0
nhất định mà người mua sẵn sàng mua nhưng lượng cung không đáp ứng được
lượng cầu).
Sự khan hiếm là do:
- Tài nguyên đang dần bị cạn kiệt cùng với quá trình gia tăng sản xuất.
- Nhu cầu của con người luôn phát triển cả về lượng lẫn về chất.
Đường PPF có dạng cong lồi ra ngoài so với gốc tọa độ. Hình dáng do quy
luật giảm dần quyết định.
Nếu như năng suất biên tăng dần thì đường PPF cong lõm vào gốc toạ độ.
Nếu như năng suất biên không đổi thì đường PPF là đường thẳng.
4.3. Chi phí cơ hội
Lúa

15

280
H
A
B
C
5
9

12


- Bố trí sử dụng nguồn lực xã hội sao cho vừa bằng sản lượng tiềm năng,
không để cho điểm sản lượng nằm bên trong hay bên ngoài, mà phải nằm trên
đường cong đó.
- Vấn đề nâng cao khả năng sử dụng nguồn lực đó sao cho đẩy được chúng
về bên phải.
II. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA KINH TẾ
HỌC VĨ MÔ VÀ SỰ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
1. Khái niệm và hệ thống các khoa học kinh tế
1.1. Khái niệm kinh tế học
Nếu tiếp cận một cách tổng quát, thì có hai khái niệm kinh tế học vĩ mô
tương đối đầy đủ sau:
“Kinh tế học là tổng thể các khoa học về cách tổ chức và xử lý các quan
hệ giữa người và người trong hoạt động kinh tế để sử dụng một cách tối ưu các
nguồn lực của xã hội, làm thỏa mãn tối đa những nhu cầu hiện tại và tương lai
của con người”
Hay “Kinh tế học (economics) là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng
như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá cần
thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội".

9
Tùy theo cách thức sử dụng mà kinh tế học được chia thành: Kinh tế học
thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
* Kinh tế học thực chứng (Positive Economics)
Nhằm mô tả và giải thích những hiện tượng thực tế xảy ra trong nền kinh tế.
Nó trả lời câu hỏi: Thế nào? Tại sao?
Ví dụ: Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp năm 2007 là bao nhiêu? Điều gì làm
cho thất nghiệp cao như vậy?
Vì sao giá thịt cá giảm trong khi giá thịt gà tăng.
Mục đích: Giải thích lý do vì sao nền kinh tế hoạt động như vậy? Dự đoán
phản ứng? Tác động thúc đẩy có lợi?

* Mối quan hệ
- Kết quả phân tích vi mô là cơ sở để đi đến mô hình kinh tế vĩ mô;
- Tạo nên sự hoà nhập nhất định giữa vi mô và vĩ mô;
- Sự phân chia rành mạch giữa vi mô và vĩ mô ngày càng trở nên khó khăn,
ranh giới đó rất mong manh.
1.2.2. Xét theo lĩnh vực toàn bộ nền kinh tế: có kinh tế học của toàn bộ nền
KTQD, kinh tế học của từng ngành (kinh tế công nghiệp, nông nghiệp,
thương mại,…)
1.3. Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học
Kinh tế học áp dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát (vì khi nghiên cứu cần phải thu thập số liệu).
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp trừu tượng hóa.
- Phương pháp thống kê.
2. Kinh tế học vĩ mô và đặc trưng của nó
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô
- Chỉ nghiên cứu mặt quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất.
Mục đích của mọi sự nghiên cứu nền SX xã hội đều nhằm tìm ra cách tốt
nhất để SX được nhiều của cải vật chất nhất, để SX xã hội có hiệu quả nhất. Bao
gồm 2 cách chính sau:
+ Cách tổ chức con người thành lực lượng tối ưu để tác động có hiệu lực
nhất vào đối tượng sản xuất là thế giới tự nhiên, phân công, hiệp tác,…
+ Cách sử dụng lực tự nhiên để tác động vào tự nhiên một cách có hiệu quả
nhất: sử dụng sức gió, nước,… vào thay sức người trong việc chế ngự thiên nhiên.
- Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu mặt tổ chức con người thành lực lượng tối
ưu để tác động vào giới tự nhiên nhưng chỉ nghiên cứu quan hệ này ở tầm vĩ mô.
- Từ giác độ đó, Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau và
nghiên cứu mối quan hệ giữa các vấn đề đó:
+ Nghiên cứu cấu trúc tổng thể nền kinh tế, của lực lượng kinh tế toàn xã hội
có liên quan đến việc tạo ra kết quả cuối cùng mà xã hội mong muốn.

- Kinh tế học vĩ mô có tính định lượng
Trong nhiều trường hợp, nếu chỉ dừng lại ở các kết luận định tính thì việc
nghiên cứu không giúp gì cho cuộc sống. Việc định lượng kết quả trong nghiên
cứu kinh tế giúp chúng ta hiểu vấn đề một cách xác thực, rõ nét hơn về bản chất
của các diễn biến kinh tế, tìm ra các nguyên nhân một cách chính xác.

- Kinh tế học vĩ mô có tính hệ thống
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề, các hoạt động kinh tế trong mối
liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với các vấn đề, các hoạt động thuộc mọi lĩnh vực
12
khác, diễn ra trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Kinh tế học vĩ mô không coi kết
quả nào là kết quả sinh ra từ một nguyên nhân, không có quyết định nào chỉ dựa
trên một thông số và yếu tố đầu vào.
- Kinh tế học vĩ mô có tính tương đối
Theo quan niệm tương đối của kinh tế học vĩ mô, mọi quy luật, xu hướng
của các động thái kinh tế chỉ mang tính phổ biến mà thôi. Bởi vì, không có quy luật
nào là triệt để, không có ngoại lệ. Và kinh tế học nghiên cứu dựa trên quy luật số
đông.
3. Kinh tế học vĩ mô và sự quản lý nhà nước về kinh tế
3.1. Vấn đề quản lí nhà nước về kinh tế
* Ưu, nhược điểm của kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm mà nền kinh tế chỉ huy không thể
đạt được như:
- Thị trường giúp cho từng DN sử dụng nguồn tài nguyên một cách có hiệu
quả, bởi vì mọi doanh nghiệp luôn tích cực tìm cách hạ thấp chi phí để gia tăng lợi
nhuận.
- Nhờ yếu tố cạnh tranh, họ tích cực cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Ngoài ra, thị trường cũng giúp cho nền kinh tế SX sản phẩm với số lượng
và cơ cấu phù hợp với yêu cầu của xã hội.

- Cung cấp những quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường, để giúp người quản lý
kinh tế vĩ mô có thể nắm vững để có thể điều khiển được sự vận động của nền kinh tế theo mục
đích đặt ra.
- Cung cấp các chính sách, công cụ mà nhà nước có thể sử dụng để điều tiết sự vận động
vĩ mô của nền kinh tế như chính sách tài khóa, tiền tệ, thu nhập, ngoại thương.
CHƯƠNG 2
CẤU TRÚC VĨ MÔ VÀ NHỮNG MỤC TIÊU CƠ BẢN
CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

I. CẤU TRÚC VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Tiếp cận theo yếu tố cấu thành hoạt động kinh tế
Tiền tệ
Chi tiêu
và thuế
Các lực lượng
khác
Lao động
Vốn

15
2.2. Các chủ thể kinh tế thị trường
Để phân tích một cách cụ thể hơn vai trò của các thể chế của hệ thống kinh tế hỗn
hợp, các nhà kinh tế đã chia tất cả các tác nhân trong nền kinh tế thành 4 nhóm, nhằm
giải thích hành vi và phương thức thực hiện các chức năng chủ yếu của từng nhóm,
đó là:
- Người tiêu dùng: Là tất cả các cá nhân và hộ gia đình, họ mua hàng hoá và dịch vụ
để thoả mãn những nhu cầu thực phẩm, quần áo, dịch vụ đi lại,…
- Các doanh nghiệp
- Người nước ngoài
- Chính phủ

2.3. Cơ hội can thiệp của Nhà nước vào nền KTQD qua chi tiêu của Chính phủ
a. Bằng tiêu dùng của Chính phủ, Nhà nước có thể hướng dẫn toàn xã hội
theo hướng tối ưu.
b. Bằng tiêu dùng của Chính phủ Nhà nước có thể điều tiết sản xuất xã hội
Chính phủ là một chủ thể kinh tế quan trọng, là người tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ
lớn của quốc gia. Ở hầu hết các nước, tỷ lệ chi tiêu của Chính phủ so với tổng sản lượng
có khuynh hướng tăng theo thời gian.
3. Tiếp cận theo một số giác độ khác
Theo các giác độ khác, cấu trúc vĩ mô của nền KTQD gồm các khâu, các ngành,
các bộ phận như sau:
a. Theo các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng
Sản xuất - Lưu thông - Tiêu dùng
b. Theo các ngành cấu thành nền KTQD, gồm:
Công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải,…
c. Theo nguồn lực tạo nên của cải vật chất, có: tài nguyên, dự trữ quốc gia, kết cấu
hạ tầng, doanh nghiệp,…
II. NHỮNG MỤC TIÊU VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Có sự tăng trưởng bền vững

ra được gọi là tổng xuất lượng (Gross Output)
Do giá cả là một thước đo co dãn. Lạm phát thường xuyên đưa mức giá chung lên
cao. Do vậy, GNP tính bằng tiền có thể tăng nhanh chóng khi giá trị thực của tổng sản
phẩm tính bằng hiện vật có thể không tăng hoặc tăng rất ít.
Để khắc phục nhược điểm này, các nhà kinh tế thường sử dụng cặp khái niệm:
- GNP danh nghĩa ( GNP
n
), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong
một thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó.
- GNP thực tế (GNP
r
), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất trong một thời
kỳ, theo giá cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc.
Cầu nối giữa GNP
n
và GNP
r
là chỉ số giá cả, còn gọi là chỉ số lạm phát (D) tính
theo GNP.
D

=
GNP
n

GNP
r

doanh, đầu tư cố định vào nhà ở và đầu tư vào hàng tồn kho (như máy móc, thiết bị,
nhà xưởng,… cộng với chênh lệch tồn kho):
Chênh lệch tồn kho = tồn kho cuối năm - tồn kho đầu năm
(Hàng tồn kho hay hàng dự trữ là những hàng hóa hiện được giữ lại để sản xuất
hay tiêu thụ sau này)
- Tiêu dùng(C): Là lượng tiền mà hộ gia đình dùng để mua hàng tiêu dùng (quần
áo, thực phẩm,…).
C được chia thành 3 bộ phận chủ yếu: hàng mau hỏng (như quần áo, thực
phẩm, ), hàng lâu bền (ô tô, ti vi, ) và dịch vụ (cắt tóc, khám bệnh, ).
- Tiết kiệm(S): Là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi tiêu dùng.
- Thuế (TA): Là nguồn thu quan trọng nhất của Chính phủ. Thuế có hai loại: Trực
thu và gián thu.
+ Thuế trực thu (Td): trực tiếp đánh vào thu nhập của các thành phần
dân cư.
18
Các loại thuế trực thu phổ biến là thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh
nghiệp (thuế lợi tức) đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp, thuế di sản hay thuế
thường để đánh vào tài sản thừa hưởng được do người chết để lại, “thuế cộng đồng”
(community charge) đánh vào người dân sống tại 1 địa phương, dùng để chi tiêu cho các
công trình công cộng.
+ Thuế gián thu (T
e
): Gián tiếp đánh vào thu nhập, người mua hàng là người chịu
thuế.
- Chi tiêu của Chính phủ: Bao gồm chi mua hàng hóa dịch vụ (G) và chi chuyển
nhượng(TR).
+ Chi mua hàng hóa và dịch vụ của CP là những khoản chi tiêu của Chính phủ
được đáp ứng lại bằng một lượng hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Thường gồm 2 loại chi
cho tiêu dùng (Cg), chi cho đầu tư (Ig)
+ Chi chuyển nhượng: là những khoản chi tiêu của Chính phủ không đòi hỏi bất

DNgh
hi

p

Hộ GĐ
Thu nhập từ việc cung hàng hóa, dịch vụ
19
Trong đó:
* Dòng giá trị hàng hóa và dịch vụ
Giá trị gia tăng (VA): Là lượng gia tăng trong giá trị của hàng hoá do kết quả của
quá trình sản xuất.
VA = Giá trị sản lượng của DN - Giá trị sản phẩm trung gian
VA bao gồm: Khấu hao (De), tiền lương (W), tiền thuê (r), tiền lãi (i), thuế gián
thu (Te) và lợi nhuận ( ).
* Dòng chi tiêu
- Chi mua hàng hóa và dịch vụ của hộ gia đình(C), trả cho các doanh nghiệp.
- Chi đầu tư của Doanh nghiệp (I): gồm khấu hao(De), đầu tư ròng (In).
- Chi mua của Chính phủ (G): gồm chi cho tiêu dùng(Cg) và chi cho đầu tư (Ig),
không bao gồm các khoản chi chuyển nhượng (TR).
- Chi tiêu của nước ngoài mua hàng hóa sản xuất trong nước (X); chi phí của
người trong nước mua hàng hóa của người nước ngoài (IM).
Tổng chi tiêu = C + I + G + X- IM
* Dòng thu nhập

Doanh thu

Chính phủ
Nộp thuế
gián thu(Te)
Thu nh

p DN

Chi tr


cho vi

c s


d

ng
ngu

n l

c ph

c v


SX

Trái lại, GNP nói lên thực thu kinh tế của một nước, khả năng thật về kinh tế của
công dân nước đó, bởi vì GDP không bao gồm kết quả của hoạt động của công dân nước
sở tại tiến hành ở nước ngoài.
Nếu GDP > GNP, có nghĩa là vai trò quốc tế về kinh tế của nước nhà không cao so
với vai trò kinh tế quốc tế tại nước nhà (sức mạnh kinh tế của nước nhà còn yếu).
Nếu GDP < GNP thì ngược lại.

Mối quan hệ GDP và GNP:
GNP = GDP + là thu nhập ròng từ nước ngoài
Thu nhập ròng từ nước ngoài = Thu nhập từ các yếu tố XK - Thu nhập từ các yếu tố
nhập khẩu


Vì GNP bao gồm GDP và phần chênh lệch về tài sản từ nước ngoài nên GNP
bình quân đầu người là thước đo tốt hơn về số lượng hàng hóa và dịch vụ mà mỗi người
dân của một nước có thể mua được. Còn GDP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn
về số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra tính bình quân cho một người dân.
Điều này giải thích vì sao các thống kê của NHTG thường đưa ra các ước tính về GNP,
trong khi các nước tính bình quân đầu người lại dùng GDP.
1.3. Từ tổng sản phẩm quốc dân đến sản phẩm quốc dân ròng (NNP)
- Sản phẩm quốc dân ròng (NNP - Net National Product): Phản ánh phần giá trị
mới sáng tạo, do công dân một nước sản xuất ra.
21
NNP = GNP - De
Giá trị mới sáng tạo là phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Nó không kể đến giá trị sản phẩm trung gian và KH TSCĐ được chuyển dịch vào giá
trị sản phẩm, vì phần này được tạo ra từ giai đoạn sản xuất trước đó (Trong hệ thống
tài khoản thu nhập quốc dân, khấu hao được gọi là tiêu hao tư bản cố định (xấp xỉ
10%GNP), vì khấu hao tư bản là chi phí để sản xuất sản phẩm cho nền kinh tế. Do đó,
một số nhà kinh tế cho rằng NNP là chỉ tiêu tốt hơn để phản ánh phúc lợi kinh tế).

- Cách tính các chỉ tiêu về tốc độ tăng:
Tốc độ tăng hàng năm phản ánh % thay đổi của sản lượng năm sau so với năm
trước.
Chỉ tiêu năm (t) - chỉ tiêu năm (t-1)
Chỉ tiêu năm (t-1)
x100
Vt =

22
Trong đó: Vt là tốc độ tăng của một chỉ tiêu nào đó năm t.
- Tốc độ tăng bình quân:
Phản ánh % thay đổi sản lượng ở năm sau so với năm trước, tính trung bình cho
một giai đoạn nhiều năm.

2. Sự tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên cơ sở giải quyết tốt các vấn đề kinh tế,
khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Để có được cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững, trên tầm vĩ mô, nền kinh tế còn
phải phấn đấu đạt được các mục tiêu về công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế, thể
hiện trên các mặt sau đây:
- Trình độ tập trung hóa lực lượng sản xuất một cách tối ưu.
- Trình độ chuyên môn hóa và các hình thức thống nhất mối liên hệ sản xuất liên
ngành một cách có hiệu lực nhất.
- Trình độ phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ hợp lý nhất.
- Tạo dựng được cơ sở nguyên liệu hùng hậu hoặc thiết lập được quan hệ quốc tế

n
ă
m
đ

u

1
x100
V =
(
n
-
1
)

23
- Phân phối lợi nhuận công ty giữa các cổ đông
- Phân phối thu nhập tập thể giữa các thành viên cùng lao động.
- Phân phối thu nhập giữa chủ và thợ trong các quan hệ lao động làm thuê.
- Phân phối lợi ích giữa người sử dụng công sản với chủ nhân công sản đó là toàn
xã hội, nhà nước là đại diện.
- Phân phối cơ hội làm kinh tế giữa mọi thành viên trong xã hội.
3.3. Góp phần đáng kể cho phúc lợi xã hội
4. Giải quyết tốt vấn đề giá cả
- Sự hợp lý về tỷ giá giữa các loại sản phẩm, dịch vụ.
- Sự bình ổn vật giá
- Sự ổn định tỷ giá hối đoái.
- Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
III. SỰ CẦN THIẾT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO ĐẢM CÁC MỤC

Tổng cung liên quan đến sản lượng tiềm năng (Qp - Potential Output), “Sản
lượng tiềm năng (potential output) là mức sản lượng đạt được trong khi nền
kinh tế tồn tại một mức thất nghiệp bằng với "thất nghiệp tự nhiên".
Hay sản lượng tiềm năng là mức sản lượng mà nền kinh tế sẽ sản xuất
được nếu tất cả các yếu tố sản xuất được sử dụng hết.
Thất nghiệp tự nhiên (Natural Unemployment) bao gồm thất nghiệp cơ học và
thất nghiệp cơ cấu.
2. Các loại tổng cung
2.1. Xét theo tính hiện thực
- Tổng cung khả năng (tiềm năng): đó là khả năng cung ứng tối đa của nền
sản xuất xã hội.
- Tổng cung thực tế: Là cung đã hoặc sẽ xuất hiện do nhu cầu thực tế của thị
trường.
Thông thường AS
r
thường nhỏ hơn AS
p
.
2.2. Xét theo tính sẵn sàng của tổng cung
- Tổng cung trong ngắn hạn (AS
SR
): Đó là toàn bộ công suất thiết kế của nền
sản xuất xã hội.
- Tổng cung dài hạn (AS
LR
- LAS): đó là cung chưa sẵn sàng, nhiều yếu tố
cấu thành cung chỉ mới ở dạng các yếu tố riêng rẽ.
Tổng cung dài hạn là đường thẳng song song với trục tung và cắt trục hoành
ở mức sản lượng tiềm năng. (trên đồ thị là đường LAS).
Về mặt dài hạn, chi phí đầu vào đã điều chỉnh thì các doanh nghiệp không

lâm nghiệp, chăn nuôi trong GDP).
Cung cho nước ngoài là tổng giá trị xuất khẩu tính theo thống kê của Hải
quan.

Tổng
cung
xã hội
Cung
trong
nước
Cung
nước
ngoài
Tổng giá trị SX
trong nước (trừ bộ
phận không thể
phân phối được)
Tổng giá trị
xuất khẩu
= +
+
=


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status