KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
CHƯƠNG 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ VÀ SỰ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ KINH TẾ
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. Kinh tế
Ngày nay, từ ktế bao hàm nội dung phong phú hơn nhiều. Đó là:
- Sự làm ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu.
- Sự hoàn thiện và tối ưu hoá việc tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ
chức lđộng xhội một cách khoa học, có hiệu quả.
- Sự cân đối tích lũy và tiêu dùng để phát triển và đề phòng rủi ro.
Kinh tế là tổng thể một bộ phận các yếu tố sản xuất (vốn, đất đai, kỹ thuật,
thông tin,…) và các quan hệ con người với con người trong quá trình sản xuất trực
tiếp, lưu thông phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất trong một giai đoạn
nhất định của lịch sử, mà mấu chốt của vấn đề là sở hữu và lợi ích”.
2. Nền kinh tế quốc dân
Theo cách tiếp cận hệ thống nền kinh tế được xem như là một hệ thống hay
hệ thống kinh tế vĩ mô bao gồm ba yếu tố: Đầu vào, đầu ra và hộp đen kinh tế vĩ
mô.
- Các yếu tố đầu vào gồm:
+ Những tác động từ bên ngoài, bao gồm chủ yếu các biến số phi kinh tế:
thời tiết, dân số, chiến tranh,
+ Những tác động từ chính sách, bao gồm các công cụ của Nhà nước nhằm
điều chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô, hướng tới các mục tiêu đã định trước.
- Các yếu tố đầu ra bao gồm: Sản lượng, việc làm, giá cả, xuất- nhập khẩu.
Đó là các kết quả biến do hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô tạo ra.
- Trong đó yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, hay còn
gọi là nền kinh tế vĩ mô (Macroeconomy) hoặc là nền kinh tế quốc dân. Hai lực
lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổng cầu.
Vậy ⇒ nền kinh tế quốc dân (hay hệ thống kinh tế vĩ mô) là tổng thể các
mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất của một quốc gia, từ đó
d. Về không gian kinh te
Không gian kinh tế được hiểu như là một thực thể kinh tế - xã hội được xác
định bởi tính cân đối, tính mở và tính phát triển của nó. Gồm:
- Phương thức sx (với tư cách là mặt bằng cơ sở, là nền tảng quy định sự
phát triển chung của cả nền kinh tế).
Phương thức sản xuất xã hội là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội hợp thành.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 2
Để xã hội phát triển thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Cơ cấu kinh tế (mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận,
thành phần tham gia vào sự phân công lao động xã hội và cấu tạo nên nền kinh tế
như tỉ trọng của các khu vực kinh tế, số lượng quy mô các doanh nghiệp trong các
ngành nghề,…).
- Các quá trình kinh tế (sự vận động, tương tác, lưu chuyển, trao đổi các kết
quả kinh tế trong cơ cấu kinh tế và bị chi phối bởi các qui luật kinh tế xã hội như
đầu tư, sản xuất, lưu thông phân phối, tích lũy, tiêu dùng).
- Hệ thống thông tin và luật pháp.
e. Về phương thức quan hệ
Là phương thức thị trường, với nội dung căn bản là mua và bán (quan hệ
cung cầu).
3. Nền kinh tế thị trường
3.1. Thị trường
Đây là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa, trao đổi thông tin và lựa
chọn chuyển dịch đầu tư.
* Vai trò của thị trường:
- Thông tin về cung - cầu, tạo điều kiện để mối quan hệ cung cầu về hàng
hóa được cân đối cả về lượng và chất.
- Tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ diễn ra thuận lợi.
- Thúc đẩy sự chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội: thông qua thị
ngang bằng nhau hay chênh lệch nhau, nên có một ít người giàu bên cạnh nhiều
người nghèo hay không, nên danh nhiều thu nhập cho quan chức hay bác sỹ và
công nhân,…
3.4.1. Nền kinh tế thị trường thuần túy (Market Economy)
Đó là nền kinh tế theo đuổi các mục đích kinh doanh thuần túy.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường thuần túy cũng có rất nhiều nhược điểm:
như độc quyền, cá lớn nuốt cá bé, lạm phát và thất nghiệp, dịch vụ công và các lợi
ích công cộng bị bỏ rơi, luôn ở trong tình trạng khan hiếm hoặc thiếu hụt, cuối
cùng là khủng hoảng và tổng khủng hoảng của cả nền kinh tế.
3.4.2. Nền kinh tế chỉ huy (command Economy)
Ngược lại kinh tế thị trường, trong nền kinh tế chỉ huy CP là người quyết
định toàn bộ, điển hình là nền kinh tế Liên Xô cũ. Việt Nam trước đây cũng định
hướng theo mô hình kinh tế chỉ huy. Trong nền kinh tế này, ủy ban kế hoạch nhà
nước là trung tâm điều khiển mọi hoạt động kinh tế đi theo một kế hoạch thống
nhất. Mọi người chỉ cần thực hiện nhiệm vụ của mình theo sự phân công trực tiếp
hay gián tiếp của CP.
Ý tưởng này nảy sinh từ hai nguồn:
- Ước vọng xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội,
trong đó, “ Một người vì tất cả, tất cả vì một người”.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 4
- Ước vọng thoát khỏi những cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ không thể
tránh nổi của nền kinh tế thị trường thuần túy. Điển hình là J. Keynes (1884 -
1946).
Tuy nhiên, nền kinh tế này cũng có rất nhiều nhược điểm:
- Những căn bệnh của nền kinh tế thị trường nêu trên có thể xuất hiện cả lúc
tăng trưởng lẫn lúc suy thoái như khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát,…
- Mục đích tăng GNP không phải là mục đích cuối cùng của sự nghiệp kinh
tế toàn xã hội. Mà mục đích còn là mối quan hệ về lợi ích giữa các tầng lớp nhân
dân trong một chỉnh thể kinh tế - chính trị - xã hội nhất định.
- Trường phái Keynes mới chỉ xem xét phản ứng động thái của doanh
* Cách dựng: Giả sử chia hàng hoá ra làm hai nhóm
Ví dụ: Lấy hai loại hàng thông dụng là lúa và vải. Nếu sử dụng hết khả năng
sản xuất thì có thể tạo được mức sản lượng như sau:
Bảng 1.1: Những khả năng thay thế khác nhau
Phương án sản xuất
Vải Lúa
Lao động Sản lượng Lao động Sản lượng
A 0 0 5 300
B 1 5 4 280
C 2 9 3 240
D 3 12 2 180
E 4 14 1 100
F 5 15 0 0
Từ đó ta xây dựng được đường PPF (Production Posibility Frontier)
Đường PPF có dạng cong lồi ra ngoài so với gốc tọa độ. Hình dáng do quy
luật giảm dần quyết định.
Nếu như năng suất biên tăng dần thì đường PPF cong lõm vào gốc toạ độ.
Nếu như năng suất biên không đổi thì đường PPF là đường thẳng.
4.3. Chi phí cơ hội
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 6
Lúa
15
280
H
A
B
C
5
9
12
đường cong đó.
- Vấn đề nâng cao khả năng sử dụng nguồn lực đó sao cho đẩy được chúng
về bên phải.
II. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
KINH TẾ HỌC VĨ MÔ VÀ SỰ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
1. Khái niệm và hệ thống các khoa học kinh tế
1.1. Khái niệm kinh tế học
Nếu tiếp cận một cách tổng quát, thì có hai khái niệm kinh tế học vĩ mô
tương đối đầy đủ sau:
“Kinh tế học là tổng thể các khoa học về cách tổ chức và xử lý các quan
hệ giữa người và người trong hoạt động kinh tế để sử dụng một cách tối ưu các
nguồn lực của xã hội, làm thỏa mãn tối đa những nhu cầu hiện tại và tương lai
của con người”
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 7
Hay “Kinh tế học (economics) là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng
như thế nào nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá cần
thiết và phân phối cho các thành viên của xã hội".
Tùy theo cách thức sử dụng mà kinh tế học được chia thành: Kinh tế học
thực chứng va kinh tế học chuẩn tắc
* Kinh tế học thực chứng (Positive Economics)
Nhằm mô tả và giải thích những hiện tượng thực tế xảy ra trong nền kinh tế.
Nó trả lời câu hỏi: Thế nào? Tại sao?
Ví dụ: Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp năm 2007 là bao nhiêu? Điều gì làm
cho thất nghiệp cao như vậy?
Vì sao giá thịt cá giảm trong khi giá thịt gà tăng.
Mục đích: Giải thích lý do vì sao nền kinh tế hoạt động như vậy? Dự đoán
phản ứng? Tác động thúc đẩy có lợi?
* Kinh tế học chuẩn tắc (Normative Economics)
Nhằm đưa ra quan điểm đánh giá hoặc lựa chọn cách thức giải quyết các vấn
đề kinh tế trong thực tế. Nó trả lời câu hỏi: Tốt hay xấu? Cần hay không? Nên thế
- Sự phân chia rành mạch giữa vi mô và vĩ mô ngày càng trở nên khó khăn,
ranh giới đó rất mong manh.
1.2.2. Xét theo lĩnh vực toàn bộ nền kinh tế: có kinh tế học của toàn bộ nền
KTQD, kinh tế học của từng ngành (kinh tế công nghiệp, nông nghiệp,
thương mại,…)
1.3. Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học
Kinh tế học áp dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát (vì khi nghiên cứu cần phải thu thập số liệu).
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp trừu tượng hóa.
- Phương pháp thống kê.
2. Kinh tế học vĩ mô và đặc trưng của nó
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô
- Chỉ nghiên cứu mặt quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất.
Mục đích của mọi sự nghiên cứu nền SX xã hội đều nhằm tìm ra cách tốt
nhất để SX được nhiều của cải vật chất nhất, để SX xã hội có hiệu quả nhất. Bao
gồm 2 cách chính sau:
+ Cách tổ chức con người thành lực lượng tối ưu để tác động có hiệu lực
nhất vào đối tượng sản xuất là thế giới tự nhiên, phân công, hiệp tác,…
+ Cách sử dụng lực tự nhiên để tác động vào tự nhiên một cách có hiệu quả
nhất: sử dụng sức gió, nước,… vào thay sức người trong việc chế ngự thiên nhiên.
- Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu mặt tổ chức con người thành lực lượng tối
ưu để tác động vào giới tự nhiên nhưng chỉ nghiên cứu quan hệ này ở tầm vĩ mô.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 9
- Từ giác độ đó, Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau và
nghiên cứu mối quan hệ giữa các vấn đề đó:
+ Nghiên cứu cấu trúc tổng thể nền kinh tế, của lực lượng kinh tế toàn xã hội
có liên quan đến việc tạo ra kết quả cuối cùng mà xã hội mong muốn.
+ Nghiên cứu mục tiêu vĩ mô của hoạt động kinh tế (được hiểu là mục tiêu
toàn diện, toàn dân, toàn xã hội của hoạt động kinh tế).
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 10
cứu kinh tế giúp chúng ta hiểu vấn đề một cách xác thực, rõ nét hơn về bản chất
của các diễn biến kinh tế, tìm ra các nguyên nhân một cách chính xác.
- Kinh tế học vĩ mô có tính hệ thống
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề, các hoạt động kinh tế trong mối
liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với các vấn đề, các hoạt động thuộc mọi lĩnh vực
khác, diễn ra trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Kinh tế học vĩ mô không coi kết
quả nào là kết quả sinh ra từ một nguyên nhân, không có quyết định nào chỉ dựa
trên một thông số và yếu tố đầu vào.
- Kinh tế học vĩ mô có tính tương đối
Theo quan niệm tương đối của kinh tế học vĩ mô, mọi quy luật, xu hướng
của các động thái kinh tế chỉ mang tính phổ biến mà thôi. Bởi vì, không có quy luật
nào là triệt để, không có ngoại lệ. Và kinh tế học nghiên cứu dựa trên quy luật số
đông.
3. Kinh tế học vĩ mô và sự quản lý nhà nước về kinh te
3.1. Vấn đề quản lí nhà nước về kinh tế
* Ưu, nhược điểm của kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm mà nền kinh tế chỉ huy không thể
đạt được như:
- Thị trường giúp cho từng DN sử dụng nguồn tài nguyên một cách có hiệu
quả, bởi vì mọi doanh nghiệp luôn tích cực tìm cách hạ thấp chi phí để gia tăng lợi
nhuận.
- Nhờ yếu tố cạnh tranh, họ tích cực cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Ngoài ra, thị trường cũng giúp cho nền kinh tế SX sản phẩm với số lượng
và cơ cấu phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Rõ ràng cơ chế thị trường không phải là một cơ chế hỗn đôn. Thế nhưng thị
trường cũng không phải là một cơ chế hoàn hảo. Bên cạnh những ưu điểm trên, nó
có nhiều nhược điểm trong việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản. Có thể kể đến những
nhược điểm chính sau:
động của nền kinh tế theo mục đích đặt ra.
- Cung cấp các chính sách, công cụ mà nhà nước có thể sử dụng để điều tiết
sự vận động vĩ mô của nền kinh tế như chính sách tài khóa, tiền tệ, thu nhập, ngoại
thương.
CHƯƠNG 2
CẤU TRÚC VĨ MÔ VÀ NHỮNG MỤC TIÊU CƠ BẢN
CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
I. CẤU TRÚC VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Tiếp cận theo yếu tố cấu thành hoạt động kinh tế
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 12
2. Tiếp cận theo các loại chủ thể hoạt động kinh tế
2.1. Khái niệm
Chủ thể hoạt động kinh tế chính là người mua và bán trên thị trường.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 13
Tiền tệ
Chi tiêu
và thuế
Các lực lượng
khác
Lao động
Vốn
Các yếu tố
đầu vào
Tổng
cầu
Tổng
cung
Sản lượng
GNP thực
ngành, các bộ phận như sau:
a. Theo các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng
Sản xuất - Lưu thông - Tiêu dùng
b. Theo các ngành cấu thành nền KTQD, gồm:
Công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải,…
c. Theo nguồn lực tạo nên của cải vật chất, có: tài nguyên, dự trữ quốc gia,
kết cấu hạ tầng, doanh nghiệp,…
II. NHỮNG MỤC TIÊU VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Có sự tăng trưởng bền vững
Tăng trưởng bền vững là sự tăng trưởng ổn định, liên tục.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 14
Cơ sở của sự tăng trưởng ổn định là cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế,
là các thành tựu tiến bộ chung khác của toàn xã hội, tạo nên một xã hội, được gọi
là xã hội phát triển.
Sự tăng trưởng kinh tế được đo bằng các chỉ tiêu sau đây:
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product)
Sản phẩm quốc dân ròng (NNP - Net National Product)
Sản phẩm quốc nội ròng ( NDP - Net Domestic Product)
Thu nhập quốc dân ( Y - National Income)
Thu nhập khả dụng (YD - Dispossible Income)
Chúng được chia thành hai nhóm:
Nhóm 1: Theo lãnh thổ là GDP - NDP.
Nhóm 2: Theo quyền sở hữu là GNP - NNP - Y - YD.
1.1. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
1.1.1. Khái niệm
"GNP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối
cùng do công dân một nước SX ra trong khoảng thời gian nhất định, thường là
1 năm".
Sản phẩm trung gian là những loại sản phẩm được dùng làm đầu vào cho sản
tính theo GNP.
Chỉ tiêu GNPn và GNPr thường được dùng cho các mục tiêu phân tích khác
nhau. Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính, ngân hàng, người ta
thường dùng GNPn; khi cần phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế người ta thường
dùng GNPr.
1.1.2. Cách tính GNP
GNP có mối quan hệ chặt chẽ với GDP, vì vậy muốn tính GNP phải tính
được GDP.
1.2. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.2.1. Khái niệm
"GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối
cùng được SX ra trên lãnh thổ một nước tính trong khoảng thời gian nhất định,
thường là 1 năm".
Lãnh thổ một nước: GDP thể hiện mức SX đạt được do tất cả đơn vị
thường trú ở một nước không phân biệt quốc tịch.
1.2.2. Phương pháp tính GDP
Mục đích: Tìm cách tính GDP theo mức giá của từng năm, và trong
mức giá đó có cả thuế gián thu mà các doanh nghiệp đã cộng và giá
bán sản phẩm.
a. Các khái niệm cơ bản
- Khấu hao (De): Là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của TSCĐ.
TSCĐ : Là những loại tài sản có giá trị lớn (>10 triệu VND), được sử dụng
trong thời gian dài (tức sử dụng được nhiều lần).
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 16
D
=
GNP
n
GNP
r
chuyển nhượng(TR).
+ Chi mua hàng hóa và dịch vụ của CP là những khoản chi tiêu của Chính
phủ được đáp ứng lại bằng một lượng hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Thường gồm 2
loại chi cho tiêu dùng (Cg), chi cho đầu tư (Ig)
+ Chi chuyển nhượng: là những khoản chi tiêu của Chính phủ không đòi
hỏi bất cứ lượng hàng hóa hay dịch vụ nào đối lưu trở lại.
Chi chuyển nhượng là các khoản Chính phủ dùng để trả lương hưu, trợ cấp
thất nghiệp, trợ cấp thương binh và gia đình liệt sĩ, trợ cấp học bổng cho sinh viên,
trợ cấp người nghèo, bù lỗ cho các doanh nghiệp quốc doanh,…
- Xuất khẩu (X): Là lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước
ngoài.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 17
- Nhập khẩu (IM): Là lượng tiền dùng để mua hàng hóa và dịch vụ từ nước
ngoài.
Tổng giá trị xuất nhập khẩu gọi là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
- Tiền lương(W): Là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động.
- Tiền thuê (r): Là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai nhà cửa và
các loại tài sản khác.
Thực chất gồm hai phần: Khấu hao tài sản cho thue và phần lợi tức của chủ
sở hữu tài sản. Tuy nhiên, người ta gộp cả lại vì tách hai phần này rất phức tạp.
- Tiền lãi (i): Là thu nhập nhận được do cho vay tính theo một mức lãi suất
nhất định.
- Lợi nhuận (P -
Π
): Là khoản thu nhập còn lại sau khi trừ đi chi phí.
b. Dòng chu chuyển kinh tế
Trong đó:
* Dòng giá trị hàng hóa và dịch vụ
Giá trị gia tăng (VA): Là lượng gia tăng trong giá trị của hàng hoá do kết
quả của quá trình sản xuất.
GDP = ∑ VA
i
Với VA
i
là suất lượng của DN
i
- Chi phí trung gian DN
i
.
* Phương pháp phân phối hay theo luồng thu nhập
GDP = r + W + i + P + De + Te
* Tính theo phương pháp chi tiêu hay luồng sản phẩm
GDP = C + I + G + X- IM
Tóm lại:
- Cả ba phương pháp phải cho cùng một kết quả.
- Nếu kết quả khác nhau là do dữ liệu thu thập không chính xác.
- Một số khó khăn khi tính GDP ở Việt Nam.
+ Một là, hiện tượng trốn thuế - khai báo giảm về kết quả sản xuất.
+ Hai là, Doanh nghiệp quá nhỏ không có hệ thống sổ sách.
+ Ba là, phải ước tính sản phẩm tự cung cấp nên rất khó chính xác.
+ Bốn là, phương pháp thu thập số liệu không tốt và cán bộ thống kê không
làm hết trách nhiệm,
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 19
Thu nhập của CP
Doanh nghiệp
Doanh thu
Chính phủ
Nộp thuế
gián thu(Te)
Thu nhập DN
mỗi người dân của một nước có thể mua được. Còn GDP bình quân đầu người là
thước đo tốt hơn về số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra tính bình quân
cho một người dân. Điều này giải thích vì sao các thống kê của NHTG thường đưa
ra các ước tính về GNP, trong khi các nước tính bình quân đầu người lại dùng
GDP.
1.3. Từ tổng sản phẩm quốc dân đến sản phẩm quốc dân ròng (NNP)
- Sản phẩm quốc dân ròng (NNP - Net National Product): Phản ánh phần
giá trị mới sáng tạo, do công dân một nước sản xuất ra.
NNP = GNP - De
Giá trị mới sáng tạo là phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm. Nó không kể đến giá trị sản phẩm trung gian và KH TSCĐ được chuyển
dịch vào giá trị sản phẩm, vì phần này được tạo ra từ giai đoạn sản xuất trước
đó (Trong hệ thống tài khoản thu nhập quốc dân, khấu hao được gọi là tiêu hao
tư bản cố định (xấp xỉ 10%GNP), vì khấu hao tư bản là chi phí để sản xuất sản
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 20
phẩm cho nền kinh tế. Do đó, một số nhà kinh tế cho rằng NNP là chỉ tiêu tốt
hơn để phản ánh phúc lợi kinh tế).
1.4. Thu nhập quốc dân (Y)
- Thu nhập quốc dân(Y):
Phản ánh mức thu nhập mà công dân một nước tạo ra, không kể phần tham
gia của Chính phủ (chủ yếu dưới dạng thuế gián thu, chiếm khoảng 10%NNP,
phần này tạo ra sự chênh lệch giữa giá người tiêu dùng trả cho hàng hóa và giá mà
doanh nghiệp nhận được. Vì DN không bao giờ nhận được phần chênh lệch về
thuế này, nên nó không phải là thu nhập của DN, vì vậy sau khi đã trừ T
e
khỏi
NNP ta thu được Y)
Y = NNP
mp
- T
2. Sự tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên cơ sở giải quyết tốt các vấn đề
kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Để có được cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững, trên tầm vĩ mô, nền kinh tế
còn phải phấn đấu đạt được các mục tiêu về công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh
tế, thể hiện trên các mặt sau đây:
- Trình độ tập trung hóa lực lượng sản xuất một cách tối ưu.
- Trình độ chuyên môn hóa và các hình thức thống nhất mối liên hệ sản xuất
liên ngành một cách có hiệu lực nhất.
- Trình độ phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ hợp lý nhất.
- Tạo dựng được cơ sở nguyên liệu hùng hậu hoặc thiết lập được quan hệ
quốc tế vững mạnh nhằm giải quyết chủ động vấn đề nguyên liệu.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ cơ khí hóa, tự động hóa cao,…
- Xây dựng được kết cấu hạ tầng hùng hậu cho sản xuất và cho đời sống.
3. Ổn định kinh tế - xã hội
3.1. Giải quyết tốt vấn đề việc làm
Thể hiện ở:
- Tỷ lệ người thất nghiệp thấp nhất (gần xấp xỉ với tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên), thể hiện khả năng lớn trong việc giải quyết việc làm của xã hội.
- Hệ số sử dụng quỹ thời gian lao động trong năm cao nhất so với tổng quỹ
cần sử dụng.
- Sự chênh lệch về hệ số sử dụng quỹ thời gian lao động của các loại lao
động xã hội không lớn.
- Tạo được điều kiện làm việc tốt.
3.2. Thực hiện được sự phân phối công bằng
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 22
Chỉ tiêu năm cuối
Chỉ tiêu ở năm đầu
1
x100
V =
vi mô chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà thôi.
2. Mâu thuẫn giữa tính toàn xã hội của mục tiêu vĩ mô với tính cá nhân của
mục tiêu kinh tế vi mô
Đó là mâu thuẫn giữa một bên là doanh nhân chạy theo lợi ích cá nhân, bóc
lột tài nguyên, với một bên là nhà nước luôn đứng về phía lợi ích quốc gia, tìm mọi
cách bảo vệ và phát triển nguồn lợi.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 23
3. Mâu thuẫn giữa tính lâu dài của mục tiêu vĩ mô với tính hiện hữu của mục
tiêu vi mô
CHƯƠNG 3
TỔNG CUNG - TỔNG CẦU
I. CUNG VÀ TỔNG CUNG
1. Khái niệm
Cung là số lượng hàng hoá mà người bán sẵn sàng cung ứng với các mức
giá khác nhau.
Tổng cung là tổng khối lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của
nền sản xuất xã hội cung cấp cho xã hội đó trong một thời gian nhất định
(ký hiệu là AS).
Tổng cung liên quan đến sản lượng tiềm năng (Qp - Potential Output), “Sản
lượng tiềm năng (potential output) là mức sản lượng đạt được trong khi nền
kinh tế tồn tại một mức thất nghiệp bằng với "thất nghiệp tự nhiên".
Hay sản lượng tiềm năng là mức sản lượng mà nền kinh tế sẽ sản xuất
được nếu tất cả các yếu tố sản xuất được sử dụng hết.
Thất nghiệp tự nhiên (Natural Unemployment) bao gồm thất nghiệp cơ học và
thất nghiệp cơ cấu.
2. Các loại tổng cung
2.1. Xét theo tính hiện thực
- Tổng cung khả năng (tiềm năng): đó là khả năng cung ứng tối đa của nền
sản xuất xã hội.
- Tổng cung thực tế: Là cung đã hoặc sẽ xuất hiện do nhu cầu thực tế của thị
cung. Bao gồm 4 yếu tố: tài nguyên, lao động, vốn, tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Tài nguyên:
Không có tài nguyên sẽ không có cung, tài nguyên bao gồm nhiều loại, trong đó
có đất đai là tài nguyên quan trọng nhất.
- Lao động:
Đây là nhân tố quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định nhất. Tổng cung tăng
lên hoặc giảm xuống là do sự thay đổi về số lượng và chất lượng của lực lượng
lao động.
- Vốn:
Bao gồm vốn vật chất, vốn nhân lực và tiền tệ, ở đây đề cập chủ yếu đến vốn
vật chất như máy móc, thiết bị, và các sức tự nhiên bị con người chinh phục,
tham gia cùng con người trong quá trình khai thác và chế biến tài nguyên.
- Tiến bộ kỹ thuật: đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến mức tăng tổng cung.
4. Cấu trúc của tổng cung
AS gồm hai phần là cung trong nước và cung cho nước ngoài.
Giáo trình Kinh tế Vĩ Mô Trang 25