tìm hiểu về vai trò hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi) đối với sự phát triển của việt nam thời kì 2000 – 2008 - Pdf 11

Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
PHỤ LỤC
Lời mở
đầu……………………………………… 2
Nội dung chính:
………………………………………………………… 3
Chương I: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển nền kinh
tế……
3
Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương trình Đại học.
… 3
Khái niệm đầu tư, các hình thức đầu tư và tác động của mỗi hình thức
đầu và tác động của mỗi hình thức đầu tư đối với nền kinh
tế 5
Vai trò của chính sách đầu tư khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với tăng trưởng kinh
tế 14
Chương II: Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt
Nam thời kỳ 2000
-2008
18
Nhận xét chung tình hình kinh tế- xã hội Việt
Nam 18
Các chính sách mà Chính phủ Việt Nam đã sủ dụng để thu hút đầu tư
trực tiếp nước
ngoài 21
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
1
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
Số liệu thu thập được, giải pháp thu hút và định hướng dòng vốn đầu

Chương II: Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Việt Nam thời kỳ 2000 -2008.
Do khả năng còn hạn chế bài viết không tránh khỏi những thiếu
sót. Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để em hoàn thành tốt
bài tập này. Em xin chân thành cảm ơn.
NỘI DUNG CHÍNH
Chương I: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển nền kinh tế.
I. Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong chương trình đại học
1) Giới thiệu môn học.
a) Kinh tế vĩ mô và phương pháp luận.
*) Kinh tế vĩ mô là gì?
Phân tích hành vi của nền kinh tế trên bình diện tổng thể như sản
lượng, việc làm,
lạm phát, tỉ giá hối đoái.
Xác định những nguyên nhân của dao động kinh tế trong ngắn hạn và
trung hạn,
của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Khuyến nghị, thiết kế và thực hiện những chính sách phù hợp nhằm
hạn chế
những giao động kinh tế (chính sách ổn định kinh tế) và để thúc đẩy
tăng trưởng
kinh tế.
*) Phương pháp luận: Là sự phân tích sự cân bằng chung của nền kinh tế
b) Hệ thống kinh tế vĩ mô, những mục tiêu và cộng cụ kinh tế.
*) Hệ thống kinh tế vĩ mô: bao gồm đầu vào, đầu ra, hộp đen kinh tế vĩ mô.
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
3
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
- Đầu vào:

- Chính sách kinh tế đối ngoại: Trong nền kinh tế thị trường mở nhằm ổn
định tỷ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể
chấp nhận được.
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
4
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
2) Vị trí của môn học trong chương trình học đại học.
Kinh tế học vĩ mô là một trong hai bộ phận hợp thành kinh tế học.
Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng
trong việc tiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho
sinh viên tầm nhìn kinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi kinh tế quốc gia
với vai trò của một nhà hoạch định kinh tế cho đất nước. Vì vậy, việc
học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với tất cả sinh viên nói
chung, đặc biệt hơn là với sinh viên học kinh tế, để có một kiến thức và
tầm nhin tổng quát về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
II. Khái niệm đầu tư, các hình thức đầu tư và tác động của mỗi
hình thức đầu tư đối với nền kinh tế.
1) Định nghĩa về đầu tư:
+ Theo quan điểm của doanh nghiệp:
“Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh với mục tiêu thu được số vốn lớn
hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận”.
+ Theo quan điểm của Nhà nước:
“Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả
kinh tế xã hội, vì mục tiêu”.
2) Các hình thức đầu tư và tác động của mỗi hình thức đầu tư đối
với nền kinh tế.
2.1. Đối với đầu tư trong nước: Có các hình thức sau đây:
- Doanh nghiệp nhà nước.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.

nhân sự ở cty mẹ có ảnh hưởng tới tương lai phát triển của liên doanh.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài;
- Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở
tại; được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị
cấm hoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;
thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà.
Không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và
xây dựng các mối quan hệ. Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư
Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác;
mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đtư,
định giá tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối
tác trong nước; không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp,
dễ bị mất cơ hội kinh doanh khó giải quyết khác biệt vè tập quán, văn
hoá.
2.2.2 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên
doanh trong hoạt động đầu tư quốc tế.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
6
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
doanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của
chủ đầu tư và nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản
lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều
kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các đk về chính trị,
kt luạt háp văn hoá mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thự thể

Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
Đặc điểm là các bên kí kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong qúa trình
kinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo
dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phân chia kết
quả kinh doanh: hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia
sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc
theo thoả thuận giữa các bên. Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài
chính đối với nhà nước sở tại một cách riêng rẽ. Pháp lý hợp doanh là
một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự
điều chỉnh của pháp luật nước sở tại. quyền lợ và nghĩa vụ của các bên
hơp doanh đowjc ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đối với nước tiếp nhận:
- Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu cnghệ, tạo ra thị
trường mới nhưng vấn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được
quyền đièu hành dự án
- Nhược điểm: khó thu hút đầu tư ,chỉ thực hiện được đối với một số ít
lĩnh vực dễ sinh lời
Đối với nước đầu tư:
- Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở
tại vào được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị
trường truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí
cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không
bị tác động lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro
đầu tư.
- Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ
hợp tác với đối tá nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e
ngại.
2.2.4. Đầu tư theo hợp đồng BOT
BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số
mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng

quan quản lí nhà nước ở nước sở tại. Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các
doanh nghiệp FDI khác, chủ yếu áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở
hạ tầng; được hưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn sơ với các hình thức đầu
tư khác và điểm đặc biệt là khi hết hạn hoạt đọng, phải chuyển giao
không bồi hoàn công trình cơ sở hạn tầng đã được xây dựng và khai thác
cho nước sở tại
Đối với nước chủ nhà:
- Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án co9ư sở hạ tầng
đòi hỏi vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước,
đồng thời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh
giúp khơi dậy các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát
triển kinh tế.
- Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lí và khó kiểm soát công
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
9
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
trình. Mặt khác, nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát
của nhà đầu tư.
Đối với đầu tư nước ngoài:
- Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lí, điều
hành và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, hông bị chia sẻ và được nhà nước
sở tại đảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát.
- Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thương gặp
nhiều khó khăn tốn kém nhiều thời gian và công sức.
2.2.5. Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding
company)
Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừa
nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở

đông có thể là tổ chức cá nhân với số lượng tối đa không hạn chế, nhưng
phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu. Đặc trưng của công ty cổ
phần là nó có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.
Cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quản
trị và giám đốc. Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc
nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia
gimá sát quản lý hoạt dộng của cty cổ phần. Đại hôi cổ đông gồm tất cả
cổ đông có quyền biểu quyết là co quan quyết định cao nhất của cty cổ
phần. Ở một số nước khác, cty cổ phần hữu hạn có vốn đầu nước ngoài
được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hoá doanh nghiệp FDI
(doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang
hoạt động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hoá.
2.2.7. Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài
Hình thức này được phân biệt với hình thức cty con 100% vốn nước
ngoài ở chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong
khi cty con thường là một pháp nhân độc lập. Trách nhiệm của cty con
thường giới hạn trong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách
nhiẹm của chi nhánh theo quy định của 1 ố nước, không chỉ giới hạn
trong phạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng đến cả phần
tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài. Chi nhánh được phép khấu trừ các
khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản chi phí thành lập ban đầu vào các
khoản thu nhập của cty mẹ tại nước ngoài. Ngoài ra chi nhánh còn được
khấu trừ một phần các chi phí qunả lý của cty mẹ ở nước ngoài vào phàn
thu nhập chịu thuế ở nước sở tại
Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập
công ty con. Do không thành lập 1 pháp nhân độc lập, việc thành lập chi
nhánh không phải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty,
thường chỉ thông qua việc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương

các nhà chuyên môn là thàn viên hợp danh tổ chức điều hành, cung ứng
dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ.
2.2.9. Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)
Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNC lớn và tập trung
vào các lĩnh vự công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
12
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
các nước phát triển.
Mục đích chủ yếu :
- Khai thác lợi thế của thị trươg mới mà hoạt động thương mại quốc tế
hay đầu tư mới theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong
đợi. Hoạt động M&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng
hoạt động ra thị trường nước ngoài.
- Bằng con đường M&A, các TNC có thể sáp nhập các ty của mình với
nhau hình thnàh một công ty khổng lồ hoạt độg trong nhiều lĩnh vự hay
các công ty khác nhau cùng hoạt động trông một lĩnh vực có thể sáp
nhập lại nhằm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đoàn
- Các công ty vì mục đích quốc tế hoá sản phẩm muốn lấp chỗ trống
trong hệ thống phân phối của họ trên thị trường thế giới
- Thông qua cong đường M&A các ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực
nghiên cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông.
- M&A tao điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành công
nghiệp và cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức
này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc
gia.
Hoạt động phân làm 3 loại:
- MA theo chiều ngang xảy ra khi 2 cty hoạt động trong cùng 1 lĩnh vực
sx kinh doanh muốn hình thành 1 cty lớn hơn để tăng khả năng cạnh

tranh về mặt ngắn hạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc
quyền. Mặt khác, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà
nhiều hơn hình thức đư truyền thống vởi vì tài sản của nước chủ nhà
được chuyển cho người nước ngoài.
3) Vai trò của chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài đối với
tăng trưởng kinh tế.
Kinh tế phát triển có công lớn của FDI.
Trong suốt một thời gian dài, đặc biệt từ những năm 2000, phần lớn dòng vốn
FDI tăng nhanh ở tất cả các khu vực trên thế giới đều tập trung vào một số quốc gia
đang phát triển. Theo Dan Deluca (Đại học Columbia, Mỹ), trong năm 2001
khoảng 62% vốn FDI vào các nền kinh tế đang phát triển đổ dồn vào Trung Quốc,
Mexico, Brazil, Hồng Kông và Ba Lan.
Có nhiều yếu tố dẫn đến sự gia tăng nguồn vốn này - bắt đầu từ cuối thập kỷ 80
- trong đó quan trọng nhất chính là quá trình toàn cầu hóa. Nói cách khác, đó là
việc quốc tế hóa quá trình sản xuất khi các công ty đa quốc gia (MNCs) khổng lồ
giới thiệu cái gọi là “liên chi nhánh cung cấp toàn cầu”.
Thực chất, đó là hình thức MNCs tận dụng lợi thế nhân công giá rẻ, nguồn tài
nguyên dồi dào, chi phí sản xuất thấp ở nước nhận vốn đầu tư (đa số là nước đang
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
14
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
phát triển và cần vốn) và chính sách ưu đãi của chính phủ nước đó nhằm phục vụ
cho thị trường toàn cầu của họ.
Công nghệ mang vào nước sở tại được thay đổi, thậm chí hạ thấp hơn so với
công nghệ gốc của nhà đầu tư, và chi phí vận chuyển, thông tin, liên lạc giảm đã
giúp MNCs đặt các khâu khác nhau trong dây chuyền sản xuất tại những vùng khác
nhau, lợi dụng các điều kiện thuận lợi ở các địa phương để giảm thiểu giá thành và
tăng doanh thu.
Một yếu tố khác, theo Deluca (2008), góp phần làm tăng FDI tại các nước đang

trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Nhưng các nghiên cứu
định lượng về mối quan hệ giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam nói chung và các vùng miền của Việt Nam nói riêng còn tương đối
hạn chế. Do vậy, bài viết này sẽ cung cấp cho bạn đọc một cách nhìn tổng
quan về mối quan hệ giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành tại
Việt Nam thông qua các dữ liệu của 61 tỉnh thành của Việt Nam từ năm
1996 đến 2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn FDI và tăng trưởng kinh
tế của các tỉnh thành tại Việt Nam có mối quan hệ tích cực hai chiều.

Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ hạn chế trong các tỉnh thuộc các vùng
kinh tế trọng điểm như Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Đông Nam Bộ,
và Đồng Bằng Sông Mêkông. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho thấy
tác động tích cực của vốn FDI tới tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành Việt
Nam phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Vốn FDI
chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng của các tỉnh thành khi các tỉnh thành
Việt Nam hội tụ căn bản các nhân tố về đầu tư con người, công nghệ,
nghiên cứu và phát triển, và một thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ.
FDI đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh
tế của các nước đang phát triển trên thế giới. Tại các quốc gia có chính sách
khuyến khích đầu tư nước ngoài hợp lý, FDI không chỉ làm tăng cung về
vốn đầu tư mà còn có vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ đặc biệt là
thúc đẩy quá trình tích tụ vốn con người, một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế trong dài hạn.
Cho đến nay, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như
là một
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
16
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
trọng những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI

Lớp : QTK49-DH
17
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt
được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối
trong xã hội.
Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là văn bản luật đầu tiên góp phần
tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt
Nam. Năm 1991 Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ra đời. Hiến
pháp sửa đổi năm 1992 đã khẳng định đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường và khu vực đầu tư nước ngoài. Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo
luật quan trọng của nền kinh tế thị trường đã được hình thành tại Việt
Nam như Luật đất đai, Luật thuế, Luật phá sản, Luật môi trường, Luật
lao động và hàng trăm các văn bản pháp lệnh, nghị định của chính phủ
đã được ban hành nhằm cụ thể hóa việc thực hiện luật phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội.
Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng
từng bước được hình thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập
trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các
biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân
hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường
lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai… Cải cách hành chính
được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi
trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi
nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Chiến lược cải cách hành chính giai
đoạn 2001-2010 là một quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó
nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý
kinh tế… để tạo ra một thể chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát triển
của đất nước trong giai đoạn mới.

hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân
được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong
những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ những định hướng đó,
khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển
dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền
kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng
các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Khi sửa đổi Luật doanh nghiệp (năm 2000), các doanh nghiệp tư
nhân đã có điều kiện thuận lợi để phát triển. Bộ luật này đã thể chế hóa
quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
19
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở
ngại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy phép,
thủ tục, các loại phí… Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000
doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-
1999. Cho đến năm 2004, đã có 150.000 doanh nghiệp tư nhân đang
hoạt động theo Luật doanh nghiệp, với tổng số vốn điều lệ là 182.000 tỷ
đồng. Từ năm 1991 đến năm 2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân
trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ
4,4% lên 4,5%, kinh tế cá thể giảm từ 35,9% xuống 31,2%, và kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 6,4% lên 14%. Từ 1/7/2006, Luật Doanh
nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư
nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các doanh nghiệp
bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, không
phân biệt hình thức sở hữu.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện

Thực hiện chính sách đối ngoại và thu hút đầu tư mở rộng, hiện nay
Việt Nam đã giao lưu thương mại với hơn 180 nước và vùng lãnh thổ,
đầu tư trên 5.300 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 50 tỉ đôla vào Việt
Nam. Lợi thế lớn của Việt Nam là nằm ở vị trí trung tâm trong vùng
kinh tế của Trung Quốc và các nước Châu Á, nên rất thuận lợi cho giao
thương quốc tế. Việt Nam có một nền chính trị ổn định và một xã hội an
toàn, thân thiện, đồng thời với số dân 80 triệu người, nguồn lao động có
văn hóa, cần cù và cầu tiến, Việt Nam thực sự là một thị trường tiềm
năng lớn trong khu vực. Mặt khác Việt Nam là thành viên các nước
Asean và Khu vực mậu dịch tự do AFTA với tổng dân số là 500 triệu
người, và đang tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO Do vậy hàng hóa sản xuất tại Việt Nam dễ dàng thâm nhập
vào các nước Asean, Trung Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu với nhiều
ưu đãi về thuế quan dành cho quốc gia đang phát triển.
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư ngày càng tốt hơn, Chính phủ Việt
Nam đang có một số chủ trương chính sách mới, đó là:
Thứ nhất: Chính phủ Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư chung cho các
loại hình doanh nghiệp, đối xử bình đẳng quốc gia, không phân biệt giữa
đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, hoàn toàn xóa bỏ phân biệt về
giá và lệ phí đối với nhà đầu tư nứơc ngoài.
Thứ hai: Ngoài các chương trình hợp tác đa phương, Chính phủ Việt
Nam đã ký hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với
50 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, tích cực đàm phán gia nhập
WTO. Các cam kết quốc tế của Việt Nam đều hướng tới mục tiêu chung
là nhằm mở cửa thị trường, tự do hóa hoạt động đầu tư nước ngoài.
Thứ ba: Tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
21
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1

Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
22
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
Đồng Nai rất sẵn lòng đón tiếp nếu các nhà đầu tư quyết định là
điểm đến để đầu tư.
III. Số liệu về đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2000 -2008 giải
pháp thu hút và định hướng dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài để hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triển kinh tế đất nước.
 Đầu tư nước ngoài năm 2000.
 Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2001- 2005.

FDI 10 tháng vượt cả năm 2006
Trong 10 tháng đầu năm, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào
Việt Nam đạt 11,26 tỷ USD, vượt qua con số 10,2 tỷ USD của năm ngoái. Với
tốc độ thu hút vốn như hiện nay, FDI sẽ vượt kế hoạch cả năm.
Với con số trên 11 tỷ USD, FDI trong 10 tháng đã tăng 36,4% so với cùng kỳ
năm ngoái. Trong số này có 1.144 dự án cấp mới với 9,75 tỷ USD, tăng 59% và
300 dự án hiện hữu xin tăng vốn, đạt 1,5 tỷ USD. Công nghiệp vẫn đang là
nhóm ngành dẫn đầu về nguồn vốn đầu tư nước ngoài với trên 5,3 tỷ USD trong
10 tháng, tiếp sau là dịch vụ với 4,25 tỷ USD.
Tính riêng trong tháng 10, các địa phương có 99 dự án FDI cấp mới với 1,46 tỷ
USD và 26 dự án tăng vốn, trị giá 196 triệu USD. Tổng cộng, FDI đổ vào Việt
Nam trong tháng đạt 1,65 tỷ USD.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, hiện có một loạt dự án trị
giá khoảng 50 tỷ USD đang xúc tiến vào Việt Nam, với các nhà đầu tư lớn từ
Mỹ, Hàn Quốc, tập trung ở các lĩnh vực công nghiệp, công nghệ cao và địa ốc.
Dự kiến từ nay đến cuối năm sẽ có thêm nhiều dự án lớn được cấp phép và có
khả năng FDI sẽ vượt kế hoạch 12 tỷ USD của cả năm.
Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn giữ vị trí địa phương thu hút lượng vốn FDI cao nhất cả

Đài Loan đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm 6,4%;
Malaysia đứng thứ 6, chiếm 5,5% ; Trung Quốc đứng thứ 7, chiếm 2,6% (cộng
cả Hồng Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ (không tính các dự án đầu tư qua
nước thứ 3) đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lan đứng thứ 10 chiếm 1,3% tổng
vốn đăng ký.
c) Về cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa phương thu
hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu. Đó là: Hà Nội đứng
đầu với số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư đăng ký;
Sinh viên : Mai Thị Hồng Gương
Lớp : QTK49-DH
24
Bài tập lớn: Môn kinh tế vĩ mô 1
Đồng Nai đứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 3, chiếm
10,6% ; Bình Dương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư đăng ký; Phú
Yên đứng thứ 5, chiếm 7,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 6, chiếm 5,2%; Vĩnh
phúc đứng thứ 7, chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng thứ 8, chiếm 4,4%; Long An đứng
thứ 9 chiếm 3,8% và Hậu Giang đứng thứ 10, chiếm 2,9%.
3. Luỹ kế tình hình ĐTNN từ 1988 đến hết năm 2007 :
Tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng
ký 85,05 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần 30 tỷ
USD. (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ
USD ).
Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất
chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực
dịch vụ chiếm 22,3% về số dự án và 34,3% (tăng từ mức 30,7% đến hết năm
2006) về số vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp.
Phân theo hình thức đầu tư:- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,6% về
số dự án và 61,6% về tổng vốn đăng ký; Liên doanh chiếm 18,8% về số dự án
và 28,8% về tổng vốn đăng ký. Số còn còn lại đầu tư theo hình thức Hợp doanh,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status