1
Luận văn
Quyền và nghĩa vụ của
thương nhân Việt Nam theo
pháp luật Việt Nam
2
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, các ngành kinh tế của Việt Nam đã có rất nhiều
những thành tựu lớn trong đó có ngành Thương Mại, ngành này đã có những đột
phá và đạt được những kết quả rất quan trọng từ khi thực hiện đường lối đổi
mới. Quan hệ kinh tế đối ngoại không ngừng được mở rộng. Hội nhập kinh tế
Quốc Tế được tiến hành chủ động và đạt được nhiều kết quả: ký hiệp định
Thương Mại với 80 nước. Điểm lại các mốc lịch sử đã qua, chúng ta thấy ngành
Thương Mại sau 55 năm xây dựng và trưởng thành đã có những đóng góp đáng
kể vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Phạm vi hoạt động
Thương Mại ngày càng phát triển và mở rộng ở trong nước cũng như nước
ngoài. Cơ cấu tổ chức của ngành Thương Mại từ trung ương đến địa phương
không ngừng được củng cố và hoàn thiện. Luật Thương Mại là môn học có quan
hệ chặt chẽ với môn luật kinh doanh cũng như luật tư pháp, là môn khoa học chủ
yếu và rất cần thiết với những sinh viên ngành kinh tế, đặc biệt là những sinh
viên quản lý - kinh doanh, những người quản lý kinh tế tương lai, những thương
nhân tương lai thì việc học môn luật Thương Mại là rất quan trọng, trong bối
cảnh nền kinh tế nước ta khi mà chính phủ 2 nước Việt - Mỹ đã thông qua hiệp
định Thương Mại Quốc Tế và đang từng bước chuẩn bị những điều kiện để tham
gia WTO. Luật Thương Mại được giảng dạy nhằm đạt yêu cầu: Bảo đảm cho
Như vậy thương nhân có thể hiểu là các cá nhân và pháp nhân kinh doanh
được thành lập theo quy định của pháp luật và được phép quan hệ trao đổi
Thương Mại với các thương nhân nước ngoài .
Theo luật Thương Mại Quốc Tế : thương nhân là các bên tham gia vào
các hoạt động Thương Mại Quốc Tế để hưởng các quyền và các nghĩa vụ nhất
định
2. Phân tích khái niệm:
- So với luật Thương Mại Việt Nam, thì luật Thương Mại Pháp lại có
khái niệm hơi khác một chút, theo bộ luật Thương Mại Pháp thì thương nhân là
người thực hiện những hành vi thương mại và đó là nghề thương xuyên của họ.
Luật Thương Mại Pháp còn làm rõ thêm là một người muốn được xác định là
thương nhân thì không những họ phải thực hiện những hành vi thương mại mà
công việc đó phải là nghề nghiệp thường xuyên của họ.
4
-Một số quốc gia khác còn đưa thêm một dấu hiệu của thương nhân là
phải thực hiện các hành vi Thương Mại nhân danh mình và lợi ích của bản thân
mình.
-Theo điều 104 Bộ luật Thương Mại Hoa Kỳ thì thương nhân là những
người thực hiện các nghiệp vụ đối với một loại nghề nghiệp nhất định là đối
tượng của các hợp đồng Thương Mại .
Trong phần khái niệm về thương nhân này, chúng ta cần phải hiểu rõ một
số khái niệm sau:
a.Cá nhân:
- Cá nhân muốn trở thành thương nhân phải thoả mãn một số điều kiện do
pháp luật quy định.
- Luật Thương Mại Việt Nam quy định: Cá nhân đủ 18 tuổi trở lên có
năng lực hành vi đân sự đầy đủ nếu có yêu cầu hoạt động Thương Mại thì được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân,
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân. Theo luật của ta
- Doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
(Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996).
- Nhóm kinh doanh.
- Doanh nghiệp các tổ chức chính trị – xã hội.
- Hộ gia đình.
Trên đây ta thấy các loại doanh nghiệp nói trên đều có đặc diểm chung là:
- Tài sản của doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu (Hoặc quyền quản lý) của
doanh nghiệp.
- Là pháp nhân kinh doanh theo pháp luật Việt Nam.
- Chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các tài sản và các khoản nợ của doanh
nghiệp không thuộc phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu hay quyền quản lý của
doanh nghiệp.
*Pháp nhân: Là 1 tổ chức, nghĩa là 1 số người liên kết với nhau, có quyền hạn
ngang nhau và hình thành ra 1 tổ chức đăng ký đúng thủ tục pháp luật, có cơ cấu
chặt chẽ, có tài khoản, có trụ sở giao dịch, có con dấu chính thức và chịu trách
nhiệm vô hạn với các hoạt động của mình và tự chịu trách nhiệm trước pháp lý
6
về toàn bộ hoạt động của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp
luật một cách độc lập.
- Các doanh nghiệp tư nhân theo luật Thương Mại Việt Nam thì không phải
là những chủ thể của luật Thương Mại. Các doanh nghiệp tư nhân thực chất là
các cá nhân có địa vị pháp lý nhưng không phải là pháp nhân vì các thành viên
không có trách nhiệm ngang nhau. Chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là chủ
sở hữu tài sản của doanh nghiệp, do đó trong khuôn khổ pháp luật họ tự quyết
định các hoạt động kinh doanh của mình và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh của mình. Doanh nghiệp tư nhân do một người làm chủ, và chịu trách
nhiệm vô hạn với các hoạt động của mình và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản cuả mình trong đó doanh nghiệp tư nhân có thể có 1 cơ cấu tổ chức hoặc
không có cơ cấu tổ chức. Cơ cấu tổ chức đựợc tính toán rất chặt chẽ, các doanh
Điều này khác với luật của ta, theo luật của ta thì bất cứ ai ( cá nhân ) đủ 18 tuổi,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, và
các pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại
theo quy định pháp luật nếu có giấy chứng nhận kinh doanh thì trở rhành thương
nhân và trong những trường hợp không được công nhận là thương nhân theo luật
Thương Mại Việt Nam cũng không quy định về điều kiện “Bất khả kiêm nhiệm
này”
8
B. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA THƯƠNG NHÂN VIỆT NAM THUỘC
CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
I. Quyền của Thương nhân Việt Nam :
1.Trực tiếp quản lý, điều hành hoặc thuê người quản lý điều hành hoạt
động thương mại:
*Việc thuê người quản lý, điều hành hoạt động thương mại phải được lập
thành văn bản hợp đồng.
*Thương nhân phải chịu trách nhiệm về những hoạt động thương mại của
người mình thuê theo nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng.
* Người được thuê quản lý, điều hành phải chịu trách nhiệm với thương
nhân theo hợp đồng đã ký với thương nhân.
2. Thuê, cho thuê, chuyển nhượng sản nghiệp thương mại:
Thương nhân được thuê, cho thuê, chuyển nhượng sản nghiệp thương mại
theo quy định của pháp luật.
3. Văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân:
*Thương nhân được đặt chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước ở
nước ngoài theo quy định của luật pháp.
* Nội dung và phạm vi hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện phải
phù hợp với nội dung hoạt động của thương nhân.
4. Tạm ngừng hoạt động thương mại:
8. Cung cấp thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh:
Cá nhân cơ quan, tổ chức được yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cung
cấp thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh, cấp bản sao giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh hoặc bản trích lục nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh và phải trả lệ phí.
II. Nghĩa vụ của Thương nhân Việt Nam :
1. Đăng ký kinh doanh và hoạt động theo đúng nội dung đã đăng ký:
- Việc đăng ký kinh doanh được thực hiện tại cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Nội dung đăng ký kinh doanh:
+ Tên thương nhân, tên người đại diện có thẩm quyền.
10
+ Tên Thương Mại, biển hiệu .
+ Địa chỉ giao dịch chính thức .
+ Ngành nghề kinh doanh
+Vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư ban đầu.
+ Thời hạn hoạt động .
+ Chi nhánh, cửa hàng, văn phòng đại diện nếu có.
Trong quá trình hoạt động nếu có sự thay đổi về nội dung đã đăng ký, thương
nhân phải đăng ký những thay đổi này .
2. Công bố nội dung đăng ký kinh doanh:
Thương nhân phải công bố nội dung đăng ký kinh doanh trên báo trung
ương, địa phương theo quy định của pháp luật .
3. Tên Thương Mại, biển hiệu:
-Thương nhân phải có tên Thương Mại, biển hiệu. Tên Thương Mại có thể
kèm theo biểu tượng.
- Tên Thương Mại, biển hiệu không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn
hoá, đạo đức và thần phong mỹ tục Việt Nam.
- Tên Thương Mại, biển hiện phải được viết bằng tiếng Việt Nam, hoặc có
doanh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày có quyết định giải thể.
- Trong trường hợp thương nhân là cá nhân chết mà không có người thừa
kế thì trong thời hạn 1tháng kể từ ngày thương nhân chết, cơ quan đăng ký kinh
doanh xoá đăng ký kinh doanh.
- Trong trường hợp thương nhân chấm dứt hoạt động Thương Mại theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thương nhân phải làm thủ
tục xoá đăng ký kinh doanh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định.
12
C/ QUYỀN - NGHĨA VỤ CỦA CÁC THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM.
Có thể nói, đã nhắc tới thương nhân theo luật nước Việt Nam, thì chúng ta
cũng không thể chỉ nhắc tới những thương nhân Việt Nam mà cũng phải đề cập
tới vấn đề thương nhân nước ngoài hoạt động Thương Mại tại Việt Nam bởi
chính các thương nhân này góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy quan hệ
ngoại giao, giao dịch, buôn bán hàng hoá quốc tế với các quốc gia khác trong
khu vực cũng như trên thế giới.
Luật nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông qua cuối năm 1986 đã
mở cửa thị trường Việt Nam, tạo điều kiện cho người nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam dưới các hình thức đầu tư trực tiếp, thực hiện các dự án sản xuất và
dịch vụ, làm ăn kinh doanh tại Việt Nam. Từ những năm cuối thập kỷ 80, bằng
một văn bản dưới luật, nhà nước đã tạo điều kiện cho người nước ngoài thành
lập các văn phòng đại diện tại Việt Nam để tìm hiểu thị trường Việt Nam và xúc
tiến các hoạt động Thương Mại. Sau Luật đầu tư nước ngoài, Luật Thương Mại
đánh dấu một bước phát triển quan trọng mở cửa, tạo điều kiện cho các nhà kinh
doanh nước ngoài được hoạt động Thương Mại trên lãnh thổ Việt Nam.
đình đè nặng lên vai ông. Chàng trai trẻ với tinh thần xung kích rèn luyện được
trong những năm ở quân ngũ và chút vốn kiến thức về kinh tế học được trong
nhà trường quyết không chịu đầu hàng trước thực tế nghiệt ngã lúc đó.
Được biết về nghề nuôi trồng nấm mèo và hứng thú với tốc độ sinh
trưởng theo cấp số nhân của loài nấm, chàng trai nghèo đã lần mò tìm đến
những người có kinh nghiệm nuôi trồng nấm, đến cả các cơ sở có nhiều thành
công ở thành phố Hồ Chí Minh để học hỏi và tích luỹ kiến thức. Nếu biết rằng
lúc này Ông đang thất nghiệp, trong tay gần như không có gì, mới thấy hết quyết
tâm vượt khó và ý chí vươn lên của anh.
Có được những bài học nhập môn, cộng với phần kiến thức kinh tế cơ
bản và nhất là quyết tâm, có ý chí làm giàu. Ông đã bắt tay thử nghiệm ở quy
mô nhỏ nghề trông nấm mèo. Quy mô nhỏ là phải thôi, vì những gì anh có lúc
đó đều tất khiêm tốn, từ cơ sở sản xuất đến đồng vốn
14
Là người thất nghiệp, khả năng thế chấp hầu như không có, ông làm sao
có được sự hỗ trợ về vốn của Ngân hàng, cũng như về chuyên môn của các cơ
quan chức năng ở địa phương. Nhưng “Quyết chí ắt làm nên”, ở quy mô sản
xuất nhỏ ông đã có những bước đi tuy không dài rộng nhưng vững chắc. Ông đã
đạt được thành công bước đầu. Nấm mèo ở cơ sở của ông đã có mặt trên thị
trường như một thứ hàng hoá, dù số lượng chưa đáng kể
Đầu những năm 90, nhờ đường lối đổi mới về khinh tế của Đảng, được sự
động viên của chính quyền và của tổ chức Đoàn ở địa phương với sự nỗ lực củ
quan trong tìm tòi, học hỏi và sáng tạo, ông đã đạt được một số thành tựu trên
con đường mưu sinh, lập nghiệp. Tiềm lực của ông lớn dần, lại được cơ chế
chính sách mới cho phép, ông mạnh dạn đầu tư các dây chuyền thiết bị để đi vào
sản xuất hàng loạt.
Và qủ đúng là “Trăm hay không bằng tay quen”, ông chủ trang trại trẻ của
Cơ sở nấm thực phẩm Công Thành(tên doanh nghiệp của ông), từ nhiều năm
nay đã cho ra đời một quy trình kỹ thuật phân lập, sản xuất ra được giống nấm
mạnh ở hàng ngàn lao động phổ thông, phần đông hạn chế về trình độ và sức
khoẻ, đã có việc làm, có thu nhật khá. Hàng năm, theo tính toán sơ bộ, giá trị sản
lượng hàng hoá của họ đạt tới khoảng 5 triệu USD, trong đó giá trị hàng xuất
khẩu chiếm tới 50 %.
Cơ sở nấm thực phẩm Công Thành hoạt động như một loại hình khinh tế
trang trại, một doanh nghiệp. Vốn đầu tư hiện nay của Công Thành lên tới 3 tỷ.
Doanh thu của năm 1998 là 2.5 tỉ, năm 1999 là 3,5 tỷ, và năm 2000 là 5 tỷ. Qủa
là doanh số cũng tăng trưởng “nhanh như nấm”. Thu nhập bình quân của người
lao động ở Công Thành năm 1998 là 700 000 đ/tháng, năm 1999 là 800 000
đ/tháng.
Có trên 500 bản trẻ ở địa phương nhờ nghề nuôi nấm thực phẩm do Công
Thành phổ biến mà đã có công ăn việc làm ổn định. Hơn 200 đoàn viên thanh
niên đã được hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng nấm mèo, nhờ đó họ đã xây dựng được
mô hình sản xuất nhỏ tại gia đình của mình.
Trẻ tuổi, lại năn động và ham hoạt động. Bùi Quang Trung đã ủng hộ cho
hạot động văn nghệ, thể dục thể thao của tổ chức Đoàn và Hội Liên Hiệp thanh
niên ở địa phương tới 30 triệu đồng. Với các hoạt động xây nhà tình nghĩa, góp
16
quỹ xoá đói giảm nghèo ông cũng đã ủng hộ tới trên 15 triệu, và 10 triệu tặng
cho đồng bào vùng bị thiên tai, lũ lụt
Là chủ một doanh nghiệp phát triển tốt, ông không quên chăm lo đời sống
của người lao động trong cơ sở của mình cả về vật chất và tinh thần. Về thu
nhập hàng tháng của người lao động, những con số nêu trên là một minh chứng
đầy sức thuyết phục. Nhưng ông luôn có chế độ tặng quà và thăm hỏi và hỗ trợ
những người bị ốm đau hoặc bị tai nạn lao động Khoảng phúc lợi này trong
khoảng 10 năm qua, theo ông, cũng lên tới hàng trăm triệu đồng. Với một cơ sở
sản xuất kiểu kinh tế trang trại, con số này không phải không có ý nghĩ.
Là một chàng trai ít nói, làm nhiều. Ông đã lầm lũi, âm thầm hoạt động
với cơ sở nấm thực phẩm Công Thành ở một thị trấn thuộc tỉnh Đồng Nai, làm
luật của các nước khác trong khi hệ thống nội luật của ta chưa đầu đủ đồng bộ.
- Các thủ tục hành chính đơn giản, gọn hơn tránh rườm rà gây phiền hà
mất thời gian.
-Việc giới thiệu các công ước Quốc Tế , các tập quán Quốc Tế một cách
rộng rãi ở Việt Nam cần được đẩy mạnh để các đối tượng có liên quan tìm hiêủ
và nâng cao tri thức pháp lý , phấn đấu trở thành các chủ thể tham gia một cách
tích cực , năng động trên thương trường Quốc Tế.
- Các khái niệm ,thuật ngữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam càn rõ
ràng hơn về nội dung , dễ hiểu , tránh dùng những từ chung chung sẽ gây khó
khăn trong việc giải quyết tranh chấp nếu có tranh chấp xảy ra.
- Cần điều chỉnh lại luật thuế .
- Giảm mức chênh lệch giữa thuế ưu đãi và đặc biệt ưu đãi để hạn chế sự
lệch lạc về nguồn nhập khẩu từ những nước được hưởng ưu đãi thuần tuý nhờ
thuế nhập khẩu mà ít dựa trên chất lượng và tính năng sử dụng của hàng hoá .
- Quyền kinh doanh một số mặt hàng hiện là đặc quyền của một số doanh
nghiệp cần được mở rộng trên cơ sở xác định tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh
rõ ràng hơn. Việc cấp giấy phép kinh doanh các mặt hàng này cần theo nguyên
tắc công khai đấu thầu.
18
- Để xây dựng cam kết cắt giảm thuế khi tham gia vào WTO, chúng ta cần
xây dựng tiêu chuẩn và cơ chế đánh giá mức độ bảo hộ dựa trên mức độ bảo hộ
thực tế hiện hành căn cứ vào khả năng cạnh tranh của sản phẩm và trên cơ sở
phân tích tác động đối với các ngành có liên quan cũng như lợi ích tổng thể của
nền kinh tế, biểu thuế cần được đơn giản hoá với số mức thuế thấp hơn.
- Đối với những mặt hàng không cần hạn chế xuất khẩu thì không nên tiếp
tục đánh thuế xuất khẩu.
- Tiếp tục đẩy mạng cải cách hành chính, đổi mới tổ chức cơ quan Bộ
Thương Mại, đổi mới cơ chế và chính sách quản lý nhà nước về Thương Mại để
tạo môi trường thông thoáng và cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động của doanh
7. Tạp chí Thế giới Thương Mại.
8. Giáo trình Luật Doanh nghiệp -Trường Đại học Quản Lý- Kinh Doanh Hà
nội.
9. Giáo trình Luật Dân sự - Trường Đại Học Quản lý- Kinh Doanh Hà nội.
20
MỤC LỤC
PHẦN I. LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN II. NỘI DUNG 2
A/ Khái niệm về thương nhân 2
1. Khái niệm 2
2. Phân tích khái niệm 2
3. Những trường hợp không được công nhận là thương nhân 5
B/ Quyền - nghĩa vụ của các Thương nhânViệt Nam thuộc các thành phần
kinh tế. 7
I. Quyền của các thương nhân Việt Nam. 7
II. Nghĩa vụ của các thương nhân Việt Nam
8