LUẬN VĂN: Vai trò của đầu tư trong việc thúc đẩy kinh tế - Pdf 11

LUẬN VĂN:
Vai trũ của đầu tư trong việc
thức đẩy kinh tế

Theo C.Mac va F.Anghen: Không thể cải biến kinh tế xã hội nếu thiếu vai trò kinh tế
của Nhà nước, loài người đã và đang còn sống lâu dài trong nền kinh tế thị
trường,bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu, nền kinh tế thị trường không thể tránh khỏi
mặt tiêu cực. Phát huy mặt tích cực, chủ động hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị
trường thông qua vai trò của đầu tư trong việc thúc đẩy kinh tế là một tất yếu khách
quan.
I. sự cần thiết khách quan vai trò của đầu tư trong việc thúc đẩy kinh tế

1.Nhà nước là gì ?

như Anghen đã nhận xét "nền văn minh mà tiến lên thì bản thân thúê má là không
đủ nữa, Nhà nước phát hành hối phiếu, vay nợ tức là phát hành công trái”. Và sự
xuất hiện sở hữu Nhà nước đã làm cho Nhà nước bắt đầu ở bên trong quá trình sản
xuất, Nhà nước là “Nhà tư bản tập thể lý tưởng, Nhà nước ấy càng chuyển nhiều lực
lượng sản xuất thành tài sản của nó bao nhiêu thì nó lại càng biến thành tư bản tập
thể thực sự bấy nhiêu và càng bóc lột nhiều công nhân”
Cũng theo hai ông, không thể có sự biến đổi kinh tế xã hội từ chủ nghiã tư bản lên
xã hội cộng sản nếu thiếu vai trò kinh tế của Nhà nước, của giai cấp vô sản, Anghen
nhấn mạnh ”Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền Nhà nước và biến tư liệu sản
xuất trước hết thành sở hữu Nhà nước”. Theo dự đoán của Mac và Anghen, chuyên
chính vô sản trong đó bộ phận quan trọng là Nhà nước và vai trò kinh tế của Nhà
nước ra đời từ sự chín muồi của các tiền đề kinh tế xã hội, đến lượt sự ra đời vai trò
kinh tế của Nhà nước lại thúc đẩy các điều kiện kinh tế xã hội của xã hội mới phát
triển và hoàn thiện. Và khi những điều kiện kinh tế xã hội phát triển đến một trình
độ nhất định lại dẫn đến sự tự tiêu vong của Nhà nước theo đúng quy luật phát sinh
phát triển và chuyển hoá vốn có của mọi sự vật hiện tượng
Mac và Anghen với tư cách vừa là nhà khoa học vừa là nhà hoạt động thực tiễn,
hai ông chưa thể đề cập nhiều vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước cho xã hội
tương lai khi thực tiễn chưa đến, bằng sự phân tích logic hai ông chỉ phác hoạ chức
năng kinh tế của Nhà nước chủ yếu là ”biến các tư liệu sản xuất thành sở hữu Nhà
nước”, chỉ đến sau này Lênin với tư cách là người lãnh đạo trực tiếp công cuộc xây
dựng xã hội mới thì vai trò và chức năng của Nhà nước mới được nói tới nhiều hơn.
Ông cho rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên công hữu xã hội về
tư liệu sản xuất với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Sở hữu toàn dân về tư
liệu sản xuất là hình thức sở hữu chung của toàn thể nhân dân lao động, mọi người
cùng chiếm hữu tư liệu sản xuất. Người chủ cao nhất là Nhà nước xã hội chủ nghĩa,
sản xuất được tiến hành theo kế hoạch tập trung thống nhất của Nhà nước. Còn hình

ra đời của Chủ nghĩa tư bản.
+ Thế kỉ 18,19 cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ nhất hoàn thành, công
trường thủ công Tư bản chủ nghĩa đã đứng vững trong công nghiệp, nông
nghiệp nền sản xuất ở các nước Tư bản phát triển nhanh, giai cấp Tư sản đã chuyển
từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, tư tưởng tự do kinh tế được thể hiện rõ
nhất trong thời kì này mà tiêu biều là quan điểm kinh tế của trường phái cổ điển. Họ
ủng hộ mạnh mẽ tư tưởng tự do cạnh tranh, chống lại việc Nhà nước can thiệp vào
kinh tế:”Trong chính sách và trong kinh tế phải tính đến những quá trình tự nhiên,
không nên dùng những hành động cưỡng bức để chống lại quá trình đó”-W.Petty.
Tư tưởng tự do kinh tế này được tiếp tục phát triển ở thuyết trật tự tự nhiên của
trường phái trọng nông ở Pháp, đại diện của họ là Quesnay, ông cho rằng chỉ có xã
hội tư bản mới là xã hội bình thường vì nó phù hợp với trật tự tự nhiên (với 2 quy
luật cơ bản la quy luật vật lý và luân lý) từ đó ông đưa ra tư tưởng tự do tư hữu, tự
do cạnh tranh, tự do tham gia thị trường.
Tuy nhiên đại diện tiêu biểu nhất trong thời kì này là một nhà Kinh tế chính trị học
tư sản cổ điển người Anh-Ađam Smith-ông đã dưa ra lý thuyết “Bàn tay vô hình”,
“Con người kinh tế”, “Nhà nước không can thiệp vào tổ chức nền kinh tế hàng hoá".
Ông cho rằng hoạt động của nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự phát chi
phối, sự vận động của thị trường là do quan hệ cung cầu cùng với những biến động
tự phát của giá cả hàng hoá trên thị trường quyết định. Quan hệ giữa người với
người là quan hệ về lợi ích kinh tế. Mỗi người hoạt động chỉ nhằm lợi ích cho bản
thân, song do “bàn tay vô hình” chi phối buộc con người phục tùng lợi ích chung
của xã hội, điều này nằm ngoài ý định của từng nhà kinh doanh. Mặc dù đề cao “bàn
tay vô hình” song ông cũng cho rằng đôi khi Nhà nước có nhiệm vụ kinh tế nhất
định, đó là khi các nhiệm vụ kinh tế đặt ra vượt quá khả năng của các doanh nghiệp.
Mặt khác các nhà kinh tế cũng thấy được rằng nền kinh tế phát triển càng cao, xã hội
hoá sản xuất ngày càng mở rộng, thị trường ngày càng phát triển thì càng cần có sự

vào nền kinh tế. Phải chấp nhận lạm phát vừa phải, tăng lượng tiền nhất định vào
lưu thông để giảm lãi suất, tăng đầu tư tư bản mới, có làm được những điều đó thì
mới làm cho nền kinh tế phát triển cân bằng và ổn định, tránh được các đợt khủng
hoảng, thất nghiệp xảy ra trong nền kinh tế. Tuy nhiên, những quan điểm của
Keynes và những người theo ông không làm cho khủng hoảng, thất nghiệp và lạm
phát giảm, trái lại ngày càng gia tăng theo chu kì kinh tế.
+ Chính do những hạn chế của Keynes đã làm xuất hiện “Chủ nghĩa tự do mới”-họ
muốn kết hợp tất cả các quan điểm cũng như phương pháp luận của các trường phái
tự do cũ, trọng thương mới, trường phái Keynes với tư tưởng cơ bản là: “Cơ chế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước ở mức độ nhất định”, khẩu hiệu mà họ đưa ra
là:”Thị trường nhiều hơn và Nhà nước can thiệp ít hơn”. Họ xây dựng nhiều mô
hình kinh tế thị trường như:
* “Nền kinh tế thị trường xã hội “ của CHLB Đức, nó dược hinh dung như một
sân bóng trong đó mỗi doanh nghiệp là một cầu thủ, Nhà nước đóng vai trò là trọng
tài thiết kế luật “chơi “ để điều khiển trận đấu sao cho nền kinh tế có thể tránh được
những tai hoạ như khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát. Đặc trưng cơ bản của nền
kinh tế là: Tôn trọng cạnh tranh, Nhà nước can thiệp vào kinh tế phải tổng hợp với
thị trường, Nhà nước coi trọng chỉ tiêu xã hội, sử dụng nó để đánh giá hoạt động của
mỗi doanh nghiệp.
* ở Mĩ tiêu biểu có “Trường phái trọng tiền hiện đại”, họ cũng ủng hộ tư tưởng tự
do kinh tế chống lại việc Nhà nước can thiệp, họ cho rằng nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa thường xuyên ở trạng thái cân bằng động, đó là hệ thống tự điều chỉnh, hoạt
động dựa vào các quy luật kinh tế vốn có.
* ở các nước Bắc Âu đã có chủ trương tăng cường vai trò của Nhà nước nhưng
chủ yếu chỉ trong lĩnh vực xã hội, kiểu kinh tế thị trường xã hội.
+ Rõ ràng cả 2 trường phái Keynes và tự do mới đều vấp phải những sai lầm, hoặc
là hạ thấp đến mức bỏ qua cơ chế thị trường hoặc là phủ nhận vai trò kinh tế của

xác định mức lãi suất và điều kiện tín dụng.
Qua xem xét 3 vai trò trên đây của Chính phủ- người đảm bảo hiệu quả, công
bằng và ổn định-ông đã làm rõ tại sao nước Mĩ những năm 1980 lại được gọi là
“một nền kinh tế hỗn hợp”, cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong
nhiều lĩnh vực, trong khi đó Chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình
thuế, chi tiêu và luật lệ. Cả hai bên thị trường và Chính phủ đều có tính chất thiết
yếu như nhau. Lí thuyết kinh tế của trường phải này có ý nghĩa thực tiễn với nước ta
vì nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đó là sự vận động dược điều tiết bởi sự thống nhất giữa cơ chế thị trường-bàn tay vô
hình- và vai trò kinh tế của Nhà nước-bàn tay hữu hình.
- Thời kì các nước xã hội chủ nghĩa: Sau Đại chiến Thế giới II, bên cạnh hệ thống
các nước tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển từ trước, một hệ thống mới
các nước xã hội chủ nghĩa ra đời và tồn tại song song trên khắp các châu lục (trước
Đại chiến Thế giới II chỉ tồn tại duy nhất một Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Liên
Xô). Do quan điểm chính trị, tư tưởng và nhiều điều kiện khác, tất cả các nước xã
hội chủ nghĩa đều áp dụng chế độ kế hoạch hoá tập trung để quản lý nền kinh tế.
Đặc trưng nổi bật nhất của chế độ này là việc Nhà nước được đặt vào trung tâm của
mọi quan hệ kinh tế. Thông qua công cụ kế hoạch được chi tiết hoá đến cao độ, mọi
vấn đề của nền kinh tế từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng đều do các cơ quan
Nhà nước đảm trách. Điều này là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự tụt hậu của hệ
thống các nước xã hội chủ nghĩa so với hệ thống các nước tư bản phát triển. Những
cải tổ nhưng không triệt để sau đó vì thế đã dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của
Liên Xô và một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối thập kỷ 80, đầu
thập kỷ 90.
Như vậy về nguyên tắc Nhà nước cần phải can thiệp vào thị trường nhưng
không có mô hình nào chung có thể áp dụng cho toàn thế giới. Căn cứ vào điều kiện

tính chất pháp lệnh bắt buộc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tất cả các nghành, các
cấp, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế trong đó công dân, luật pháp về kinh tế (mới
có rất ít) và các công cụ quản lí khác đều được xếp sau công cụ kế hoạch. Nhà nước
bị biến thành “ông chủ của một doanh nghiệp lớn”, thông qua hệ thống chỉ tiêu kế
hoạch chi tiết, Nhà nước trực tiếp quyết định tất cả các vấn đề liên quan tới đời sống
kinh tế xã hội của đất nước.
b)Ưu điểm
Cơ chế này đã góp phần đắc lực vào việc huy động những nguồn lực khổng lồ
trong thời gian ngắn để triển khai các chương trình quy mô của quốc gia, đặc biệt là
việc động viên nhân tài vật lực phục vụ các nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu phù hợp
với đặc điểm tình hình đất nước trong những năm chiến tranh. Có thể nói cơ chế
quản lí này đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình.
c)Nhược điểm
- Quản lí kinh tế bằng các mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, điều đó thể hiện ở sự
chi tiết hóa quá đáng các nhiệm vụ do Trung ương giao bằng một hệ thống chỉ tiêu
pháp lệnh từ trên giao xuống, qua đó làm suy yếu, triệt tiêu động lực kinh tế thậm
chí gây ra tác động như khuyến khích sự ỷ lại, dựa dẫm, lười biếng gây thiệt hại cho
những người tích cực, tạo môi trường cho lãng phí, gây thất thoát cho tài sản quốc
gia .
- Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động của các đơn vị
kinh tế cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.
- Coi thường các quan hệ hàng hoá- tiền tệ và hiệu quả quản lí kinh tế, quản lí nền
kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện
vật là chủ yếu, do đó hạch toán chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp được thể hiện dưới
các hình thức: bao cấp quá giá, chế độ cung cấp và cấp phát vốn của ngân sách mà
không ràng buộc vật chất đối với người được cấp phát vốn.
- Từ những đặc điểm trên tất yếu dẫn đến một bộ máy quản lý cồng kềnh, có nhiều

- Cơ chế thị trường là gì? Mọi hệ thống kinh tế đều được tổ chức cách này hay cách
khác, để huy động tối đa các nguồn lực xã hội và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
đó nhằm sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu của xã hội. Việc sản
xuất ra hàng hoá gì? Theo phương thức nào là tốt nhất? Việc phân phối hàng hoá
được sản xuất ra sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu xã hội? Đó là những vấn đề cơ
bản của tổ chức kinh tế xã hội, lực lượng nào quyết định những vấn đề cơ bản đó?
Trong nền kinh tế hàng hoá có một loạt những quy luật kinh tế vốn có cho nó hoạt
động như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ và lợi
nhuận là động lực cơ bản của sự vận động của nó. Các quy luật đó thể hiện sự tác
động của mình thông qua các mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực trao đổi- thị
trường, thông qua sự vận động của giá cả. Nhờ sự vận động của hệ thống giá cả thị
trường mà diễn ra sự thích ứng tự phát khối lượng và cơ cấu của sản xuất với khối
lượng và cơ cấu của nhu cầu của xã hội, tức là các quy luật điều tiết nền sản xuất xã
hội. Một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của nó do thị trường quyết
định được xem là nền kinh tế thị trường.
Như vậy, cơ chế thị trường là cơ chế tự điều chỉnh nền kinh tế hàng hoá, là “ bộ
máy” kinh tế điều tiết toàn bộ sự vận động của kinh tế thị trường, quá trình sản xuất
và lưu thông hàng hoá dưới sự tác động khách quan của các quy luật kinh tế vốn có
của nó (đặc biệt là quy luật giá trị- quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông
hàng hoá) cơ chế đó quyết định những vấn đề cơ bản của nền kinh tế: sản xuất cái
gì? như thế nào? cho ai?
- Vai trò của kinh tế thị trường?Kinh tế thị trường giúp nhân loại giải quyết 3 vấn
đề cơ bản trong nền kinh tế một cách có hiệu quả
+Sản xuất cái gì? Không phải do thượng đế, một tổ chức mệnh lệnh và cũng không
phải do người sản xuất quyết định, mà do người tiêu dùng thông qua việc bỏ đồng
tiền để lựa chọn: Họ thích hàng hoá này chứ không phải hàng hoá kia, họ cần số
lượng này chứ không phải số lượng khác, chấp nhận mức giá này chứ không phải

* Hai là cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng
khi những điều kiện kinh tế thay đổi, làm thích ứng kịp thời khối lượng và cơ cấu
của sản xuất với khối lượng và cơ cấu của nhu cầu. Lí do là vì trong kinh tế thị
trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hoá mới và sớm
nhất sẽ thu được lợi nhiều nhất.
* Ba là trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng, do vậy tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn
hoá và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội. Những việc này nếu để
Nhà nước tự làm thì sẽ phải thực hiện một khối lượng công việc khổng lổ, có khi
còn không thực hiện được và đòi hỏi chi phí cao trong việc ra các quyết định.
+Nhược diểm: Bên cạnh những ưu điểm kể trên, kinh tế thị trường còn có hàng loạt
các khuyết tật, trước hết là sự phát triển không ổn định của nền kinh tế, điều đó xuất
phát từ tính tự phát của cơ chế kinh tế thị trường. Những cân đối lớn trong nền kinh
tế được xác lập thông qua hàng loạt những dao động. Do đó cứ sau một thời kì phồn
thịnh lại đến thời kì trì trệ, suy thoái, khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát là những
hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Những hiện tượng kể trên ảnh hưởng tiêu
cực tới các mặt đời sống kinh tế xã hội.
* Thứ hai, đó là sự xuất hiện độc quyền trong nền kinh tế. Độc quyền vi phạm các
điều kiện hiệu quả Pareto, điều đó làm tổn hại tới lợi ích của người tiêu dùng và của
xã hội.
* Thứ ba, các ngoại ứng. Ngoại ứng tồn tại khi việc sản xuất hoặc tiêu dùng một
mặt hàng trực tiếp làm ảnh hưởng tới các doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng không
can dự đến việc mua hoặc bán hàng hóa đó, nhưng không được phản ánh đầy đủ
trong giá cả thị trường. Ngoại ứng dù tích cực hay tiêu cực khi không được phản ánh
trong giá cả thị trường sẽ làm cho mức sản lượng không phải là tối ưu và do đó làm
thiệt hại tới lợi ích xã hội.
* Thứ tư, hàng hoá công cộng. Đây là hàng hoá mà sự tiêu dùng của một người
không ảnh hưởng đến sự tiêu dùng của ngưởi khác như: đường cao tốc, quốc phòng, Cùng với tiến trình phát triển chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng đi
lên phát triển một nền kinh tế thị trường nhưng mang bản săc riêng của Việt Nam-
nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa-
đó là nền kinh tế vận động theo cơ chế hỗn hợp và được định hướng bởi lý tưởng
của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hết sức mới mẻ và tất nhiên định nghĩa này đòi
hỏi phải loại trừ thành kiến"Thị trường là
chủ nghĩa tư bản","kế hoạch là chủ nghĩa xã hội" và các quan điểm cùng loại. Để
hiểu rõ về
nền kinh tế thị trường của Việt Nam ta cần làm rõ một số vấn đề sau:
*Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa?
Khi chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đứng trước một thực trạng là đất
nước đã và đang từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội vốn là thuộc
địa nửa phong kiến với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội còn rất thấp.
Đất nước lại trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những
tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp
- Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp tự
túc:
+ Trình độ cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém
+ Hệ thống kết cấu hạ tầng, dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội chưa đủ để phát triển
kinh tế thị trường ở trong nước và chưa đủ khả năng để mở rộng giao lưu với thị
trường quốc tế.
+ Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, còn mang nặng đặc trưng của
một cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Hiện tượng độc canh cây lúa vẫn còn tồn tại, ngành
nghề chưa phát triển. Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng cho đến nay tuy cơ cấu ngành
và cơ cấu thành phần kinh tế đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn chưa thành được một
cơ cấu mới hợp lí

theo đầu người ở
nước ta tất yếu vẫn còn rất thấp. Tình hình này được phản ánh qua các số liệu sau
Theo giá hiện hành( tỷ
đồng)
1988 1989 1990 1991 1992
GNP 13,266 2,308 38,167 69,959 101,87
Tổng đầu tư (I) 1,906 2,817 4,796 - -
Tiêu dùng (C) 13,291 24,358 38,177 66,61 94,883
Tiết kiệm (S) -25 -50 -10 3,349 6,987
Qua số liệu trên đây ta thấy: do năng suất lao động còn thấp nên mức tiêu dùng xã
hội từ năm 1988 đến năm 1990 đều lớn hơn mức GDP hàng năm, do vậy không có
tích luỹ nội bộ từ nền kinh tế trong nước, tiết kiệm đều là số âm. Theo số liệu thống
kê của Ngân hàng thế giới năm 1991 thì thu nhập quốc dân theo đầu người của
nước ta so với các nước đang phát triển ở Châu á thì vào loại thấp nhất Việt Nam:
200USD/người, trong khi GDP/người năm 1990 của Trung Quốc là 370USD,
Indonexia là 570USD, ấn Độ là 350USD, Philippin là 730USD, Thái Lan là
1420USD, Malaixia là 2320USD, Nam Triều Tiên là 5400USD
- ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Do nhận thức chủ quan duy ý chí về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mà trong nhiều
thập kỉ qua ở nước ta đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp, thực tiễn hoạt động kinh tế đã chứng minh mô hình này có nhiều nhược
điểm cũng như những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế nước ta, nó gần như
đối lập với nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường.
*Thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường có
sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Lịch sử đã chứng minh rằng không thể chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn
nếu thiếu " đòn xeo" là kinh tế hàng hoá. Chính Mac đã coi sự phát triển của kinh tế

sống động trong công cuộc phát triển đất nước với bối cảnh và điều kiện mới. Trong
quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta đã có nhiều đổi mới quan trọng, đã chuyển từ đơn
phương sang đa phương, quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính
trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau. Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm về kinh tế đối ngoại nói trên,
hoạt động kinh tế quốc tế nước ta đã có những tiến bộ lớn. Xuất khẩu hàng hoá tăng
nhanh với nhịp độ trên dước 20% hàng năm (1986-1992), bảo đảm nhập khẩu các
loại vật tư và công nghệ chủ yếu, cải thiện dần cán cân thanh toán quốc tế. Chúng ta
đã nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục được những hẫng hụt về nguồn vốn và thị
trường từ các nước SNG và Đông Âu. Hàng hoá của nước ta tìm được những thị
trường mới như Đông Nam á, Tây Âu. Nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam cũng tăng
nhanh.
*Các giai đoạn và các biện pháp hình thành cơ chế quản lí mới
Quắ trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình phức tạp, có nhiều
khó khăn, không nên quan niệm đơn giản và nóng vội, cần phải tuân thủ những tính
quy luật của quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường, quá trình đó trải
qua những giai đoạn sau đây:
-Giai đoạn quá độ chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lí
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về mặt lịch sử giai đoạn này bắt đầu từ năm 1979 với mốc lịch sử quan trọng là
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VI (khoá IV) tháng 9 năm
1979. Về mặt logic, giai đoạn này bắt đầu từ việc hình thành và củng cố những đơn
vị sản xuất hàng hoá theo đúng nghĩa nhằm tạo ra những mối quan hệ vừa tự chủ,
vừa lệ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể sản xuất. Nội dung chủ yếu của giai đoạn này
là khắc phục tính hiện vật của quan hệ trao đổi, hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ
trên thị trường. Nội dung trên được thực hiện với những giải pháp chủ yếu sau đây:

nhưng phải đảm bảo nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tăng trưởng và phát
triển, bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế quốc dân cũng như về các mặt chính trị-
xã hội, bảo đảm sự công bằng xã hội và sự vững bền của môi trường, bảo đảm sự
phát triển, tăng trưởng đồng bộ và cân đối, tạo điều kiện thúc đẩy những ngành mũi
nhọn nhằm tạo ra sự tích luỹ nội bộ từ trong nền kinh tế.
+ Hai là chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố của thị
trường, phát huy những ưu thế và động lực của thị trường, đồng thời hạn chế những
mặt tiêu cực của
cơ chế thị trường.
+ Ba là, hoàn chỉnh và tăng cường vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ
nhằm tạo nguồn vốn và tạo ra và thực hiện việc đầu tư vốn theo mục tiêu phát triển,
phân phối, phân phối lại thu nhập quốc dân tạo ra sự ổn định về giá cả, về tiền tệ và
tỷ giá hối đoái, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển sản xuất hàng hoá
phù hợp với cơ chế thị trường
+ Bốn là đào tạo cán bộ quản lí kinh doanh theo yêu cầu của kinh tế thị trường.
Chúng ta đã kết hợp giữa việc mở rộng quy mô đào tạo để nâng cao dân trí với việc
coi trọng chất lượng nhằm đào tạo nhân tài.Việc đào tạo cán bộ quản lí kinh doanh
không chỉ chú ý đáp ứng nhu cầu của khu vực kinh tế Nhà nước mà còn phải quan
tâm tới khu vực ngoài quốc doanh cũng như khu vực kinh tế nông thôn và miền núi.
+ Năm là, tăng cường vai trò quản lí của Nhà nước để phát huy những ưu thế và
khắc phục những của khuyết tật của cơ chế thị trường.
- Giai đoạn hình thành và phát triển cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn 3 là tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế, tạo lập cơ sở
kinh tế cho các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường, phát huy tác dụng một cách
đầy đủ, phát triển kinh tế trong nước và hoà nhập với kinh tế thế giới. Nội dung trên
được thực hiện với

nhiên.
- Giá cả được hình thành ngay trên thị trường, giá cả thị trường vừa là sự biểu hiện
bằng tiền của giá trị thị trường, vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan
hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ.
- Cạnh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trường, nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị
sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế.
- Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mở, một mặt nó phát huy được lợi thế
so sánh của nền kinh tế, mặt khác tạo điều kiện tiếp thu những thành tựu mới của
khoa học kĩ thuật-công nghệ thế giới. Nó rất đa dạng, phức tạp và được điều hành
bởi hệ thống tiền tệ và hệ thống luật pháp của Nhà nước.
Ngoài ra thị trong cơ chế quản lí kinh tế mới của nước ta còn có những đặc trưng
riêng sau:
- Hai mặt kinh tế và thị trường nước ta được chủ động kết hợp với nhau ngay từ đầu
trên cả tầm quản lí kinh tế vĩ mô và vi mô thông qua pháp luật. Nếu ở tầm vi mô,
các chủ doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm mục tiêu xác định hiệu quả của sản xuất
kinh doanh thì ở tầm vĩ mô, Nhà nước dùng hiệu quả kinh tế xã hội làm mục tiêu
quản lí nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Vấn đề dân chủ và
công bằng xã hội ở đây được hiểu theo nghiã những đơn vị và cá nhân trong xã hội
được làm những gì mà pháp luật không cấm, được tự do sản xuất và kinh doanh,
được hưởng những thành quả lao động của mình và được thừa kế tài sản theo luật
định.
- Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, môi trường sinh thái của đất nước
được chủ động bảo vệ qua các dự án đầu tư môi sinh và qua việc chấp hành một
cách đúng đắn luật pháp, chính sách môi trường của Nhà nước qua từng thời kì.
- Nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nứơc theo định hướng xã hội chủ
nghĩa là nền kinh tế thị trường có trình độ phát triển cao. Nếu như nền kinh tế trì trệ,
kém phát triển, tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân thấp kém dẫn tới mức thu nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status