LUẬN VĂN:
Ngân sách Nhà nước trong hệ thống tài
chính trong quá trình chuyển đổi cơ
chế kinh tế ở nước ta Phần I: Phần mở đầu.
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong các xã hội hiện đại, Nhà nước luôn có chức năng nhiệm vụ nhiều mặt như
chức năng quản lý hành chính, chức năng kinh tế, chức năng trấn át và các nhiệm vụ
chính trị, nhiệm vụ xã hội. Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ đó thì Nhà nước
cần phải có một lượng của cải nhất định, đó chính là cơ sở vật chất cho Nhà nước tồn
I. Bản chất của Ngân sách Nhà nước:
1. Ngân sách Nhà nước với tư cách là một phạm trù kinh tế:
1.1. Khái niệm ngân sách Nhà nước:
Ngân sách Nhà nước là khâu tài chính được hình thành sớm nhất, nó ra đời, tồn tại
và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lí Nhà nước và sự phát triển của
kinh tế hàng hoá, tiền tệ.
Thuật ngữ ngân sách bắt nguồn từ tiếng Anh "Budget" có nghĩa là cái ví, cái xắc.
Tuy nhiên, trong đời sống kinh tế, thuật ngữ này đã thoat ly ý nghĩa ban đầu và mang
nội dung hoàn toàn mới. Cho đến nay, thuật ngữ "ngân sách Nhà nước" được sử dụng
rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song, quan niệm về ngân sách
Nhà nước thì lại chưa thống nhất. Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa vè
ngân sách Nhà nước không giống nhau tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc
các trường phái kinh tế khác nhau, hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển, ngân sách Nhà nước là một văn kiện tài
chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ, được thiết lập hàng năm.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách
Nhà nước. Các nhà kinh tes Nga cho rằng: Ngân sách Nhà nước là bảng liệt kê các
khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước. Luật Ngân sách Nhà nước đã được nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
IX, kì họp thứ 9 thông qua ngày 20-3-1996 cũng có ghi: Ngân sách Nhà nước là toàn
bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Chúng ta không xem xét các điểm khác biệt giữa các định nghĩa này mà tìm ra điểm
Trong quá trình phân phối, vấn đề cần giải quyết giữa các đối tượng tham gia ( các
chủ thể kinh tế ) chính là vấn đề lợi ích kinh tế. Vì vậy, quan hệ giữa ngân sách Nhà
nước và các thành viên trong xã hội cũng chính là quan hệ kinh tế. Việc phân phối các
nguồn tài chính để hình thành nguồn thu của Nhà nước, dù thực hiện dưới hình thức
nào thực chất cũng chính là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa Nhà nước và
các thành viên trong xã hội với kết quả là các nguồn tài chính được phân chia thành
hai phần: phần nộp vào ngân sách Nhà nước và phần để lại cho các thành viên của xã
hội. Tới lượt mình, phần đã nôp vào ngân sách Nhà nước sẽ tiếp tục được phân phối
lại, thể hiện qua các khoản cấp phát từ ngân sách Nhà nước cho các mục đích tiêu
dùng và đầu tư.
Với quyền lực tối cao Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có ( kinh tế, hành
chính, vũ lực ) để bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn
tài chính cần thiết. Song, trên thực tế , quyền lực đó phải có giới hạn và giới hạn hợp
lý nhất chính là giải quyết hài hoà ích lợi kinh tế giữa nhà nước và xã hội.Khi tham gia
vào hoạt đọng tái phân phối này của ngân sách Nhà nước, mọi thành viên trong xã hội
đều có lợi; và mục tiêu kinh tế của ngân sách Nhà nước cũng là đem lại phúc lợi lớn
hơn cho các thành viên.
Tóm lại, ngân sách Nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã
hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính
nhămg bảo đảm yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế xã
hội của mình.
Về phương diện pháp lý:
Ngân sách Nhà nước là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi bằng tièn của Nhà
nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Đạo luật này được cơ quan lập
pháp của quốc gia đó ban hành. Hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính,
mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối
liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy định nhất định. Các bộ phận trong hệ thống
tài chính hoạt động trên các lĩnh vực:
+ Tạo ra các nguồn lực tài chính.
+ Thu hút các nguồn tài chính.
+ Chu chuyển các nguồn tài chính ( dẫn vốn ).
Vai trò chung của hệ thống tài chính là bảo đảm nhu cầu về vốn cho phát triển kinh
tế-xã hội.
Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và các bộ phận dẫn vốn
được thể hiện theo sơ đồ. Trong đó :
+ Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó các nguồn tài chính được tạo ra, đồng thời
cũng là nơi thu hút trở lại các nguồn vốn tuy nhiên ở mức độ và phạm vi khác nhau.
Bao gồm:
Ngân sách Nhà nước.
Tài chính doanh nghiệp.
Tài chính dân cư và các tổ chức xã hội.
Tài chính đối ngoại.
+ Các bô phân dẫn vốn thực hiện chức năng truyền dẫn vốn giữa các tụ điểm vốn
trong hệ thống tài chính. Bao gồm :
Thị trường tài chính.
Các tổ chức trung gian tài chính.
hoặc vay vốn nước ngoài, có thể nói tiềm lực kinh tế của ngân sách Nhà nước là rất
lớn. Việc cấp phát vốn ngan sách Nhà nước cho các bộ phận khác nhau của hệ thống
tài chính sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn, tăng khả năng đầu tư và phát
triển kinh tế của các bộ phận này.
Thứ hai, ngân sách Nhà nước là phương tiện vật chất cần thiết và quan trọng để hệ
thống chính quyền Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của mình, Nếu như
mục tiêu theo đuổi của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, của các hộ dân cư là
tối đa hoá lợi ích thì chính phủ lại mong muốn tối đa hoá phúc lợi xã hội . Chính điều
này đã tạo nen vai trò quan trọng của ngân sách Nhà nước khong chỉ trong lĩnh vực
kinh tế mà còn trong các lĩnh vực xã hội khác. Trong điều kiện kinh tế thị trường, ngân
sách Nhà nước có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội sao cho
mang lại phúc lợi lớn nhất cho mọi người. Thông qua các hoạt động thu chi của mình,
Thị trường tài chính
và
các t
ổ chức tài chính
trung gian. ngân sách Nhà nước đã điều tiết lợi ích giữa các tầng lớp dân cư, định hướng và thúc
đẩy phát triển kinh tế.
II. Vai trò của ngân sách Nhà nước:
Vai trò tất yếu của ngân sách Nhà nước ở mọi thời đại và trong mọi mô hình kinh tế,
là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội. Vai trò này, về mặt chi tiết có thẻ đề
cập ở nhiều nội dung và những biểu hiện đa dạng rất khác nhau, song trên góc độ tổng
hợp, có thể khái quát trên ba khía cạnh sau:
1.Vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế:
trườngthông qua sự vận động của các quy luật kinh tế thị trường và các công cụ kinh
tế thị trường như giá cả, lãi suất. . . Nói chung, việc phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị
truờng là việc phân bổ mang tính kinh tế thường đạt được hiệu quả ở tầm vĩ mô. Tuy
nhiên, xét ở tầm vi mô không phải lúc nào việc phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị
trường đều đạt được hiẹu quả như mong muốn, thâm chí có thể làm lãng phí nguồn lực
xã hội. Để khắc phục những mặt hạn chế của việc phân bổ nguồn lực do cơ ché thị
trường tạo ra cần có sự can thiệp cảu nhà nước ở những mức độ nhất định. Khác với sự
can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hoa tập trung, sự can thiệp của Nhà
nước vào việc phân bổ nguồn lực trong nề kinh tế thị trường là sự can thiệp mang tính
gián tiếp bằng việc sử dụng các công cụ kinh tế tài chính là chủ yếu. Một trong những
công cụ đó là ngân sách Nhà nước. Thông qua các biện pháp thu chi ngân sách Nhà
nước, Nhà nước thực hiện việc bổ sung phân bổ nguồn lực củaơn chế thị trường ở
nhũng lĩnh vực mà việc phân bổ theo cơ chế thị trường tỏ ra không hiệu quả hoặc
không thể thực hiện được.
2.Vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội:
Trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tính chất bao cấp tràn lan trong mọi
lĩnh vực kinh tế xã hội đã hạn chế đáng kể vai trò của ngân sách Nhà nước trong việc
giải quyết các vấn đè xã hội. Trong thời kì này, mọi sự ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước
đều dành cho khu vực Nhà nước. Những chế độ bao cấp về nhà ở, cung cấp lương
thực, thực phẩm, hàng tiêu dùngvới giá thấp. . . đã gây tâm lý sùng bái biên chế Nhà
nước, tâm lý trông chờ, ỷ lạivà Nhà nước. Điều đó một phần làm giảm hiệu quả công
tác, hiệu quả tiển vốn, mặt khác vừa tác động ngược chiều tới việc đảm bảo công bằng xã hội. Bên cạnh đó, sự bao cấp tràn lan cho các hạt động có tích chất xã hội, song lại
thiếu sự tính toán hợp lý về phạm vi, mức độ và hiệu quả của nó cũng dẫn tới những
hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội.
khoa học công nghệ . . . Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan không phải
mọi thành viên trong xã hội đều có khả năng các yếu tố đầu vào như nhau, nên cũng
không có được cơ hội được hưởng thu nhập như nhau, tạo ra những hố ngăn cách giàu
nghèo càng lớn. Khi hố ngăn cách giàu nghèo càng sâu có thể dẫn đến nhũng bất lợi
cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thậm chí có thể dẫn đến xung đột
chính trị làm mất ổn định quốc gia. Chính vì vậy, trong quá trình phát triển quốc gia,
Chính phủ của các nước đều quan tâm đến vấn đề tía phân phối thu nhập, mục đích là
hạn chế bớt sự ngăn cách giàu nghèo làm cho nguồn thu nhập của xã hội được sử dụng
hiệu quả hơn.
3. Vai trò điều tiết trong lĩnh vực thị trường góp phần ổn định thị trường giá cả ,
chống lạm phát:
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, sự đơn điệu về chế độ sở hữu với hai hình thức
quốc doanh và tập thể đã dẫn đến sự phát triẻn yếu ớt của các quan hệ thị trường. Bên
cạnh đó, cơ chế kinh tế chỉ huy ( bằng các mệnh lệnh hành chính ) với việc Nhà nước
quyết định gia cả của các hàng hoá và dịch vụ, chỉ định nơi cung cấp vật tư, tiêu thụ
sản phẩm. . . cũng đã làm các quan hệ thị truờng kém phát triển. Trong cơ chế đó, sự
vậm động của gia cả, chi phí thoát ly khỏi quan hệ cung cầu, của thị truờng, sự biến
động ấy được che đậy bởi sự bao cấp của Nhà nước. Trong điều kiện đó, vai trò của
ngân sách Nhà nước đối với các quan hệ thị truờng là điều tất yếu.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu dựa vào quan hệ cung cầu
hàng hoá trên thị trường. Do đó để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung
hoặc cầu hàng hoá trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiên thông
qua thuế mà còn dược thực hiện qua chính sách chi tiêu của ngân sách Nhà nước. Bằn
nguồn cấp phát của chi tiêu ngân sách hằng năm, các quĩ dự trữ Nhà nước về hàng hoá
và tài chính được hình thành. Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, thị
truờng lên quá cao, hoặc xuống quá thấp, nhờ lực lượng dự trữ hàng hoá và tiền , chính
phủ có thể điều hoà quan hệ cung cầu hàng hoá, vật tư để bình ổn giá cả trên thị
Khi nề kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, thất nghiệp cao, tổng cầu giảm ở mức
thấp, các hãng không tăng đầu tư, dân cư không tăng tiêu dùng. Để tăng thu nhập, tăng
tổng cầu AD, nhà nước cần tăng chi tiêu, giảm thuế để tăng tổng chi của xã hội. Thông qua tác động của mô hình số nhân mà khuyếch đại vào mức tăng sản lượng, đẩy nó
tiến gần đến mức sản lượng tiềm năng.
Khi nền kinh tế ở trạng thái quá nóng, lạm phát tăng lên, AD ở mức cao, Nhà nước
phải giảm chi tiêu, tăng thuế làm cho mức chi tiêu chung của nền kinh tế giảm xuống
để sản lượng của nền kinh tế trở lại mức tiềm năng, lạm phát sẽ chững lại .
Cùng với chính sách tiền tệ thị thuế vsf chi tiêu chính phủ là công cụ quan trọng để
Nhà nước có thể can thiệp vào nền kinh tế, nhưng đây là sự can thiệp gián tiếp tuân
theo và thông qua các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường.
2. Một số vấn đề lý luận về ngân sách Nhà nước:
Ta kí hiệu Các khoản tiền mà Nhà nước nhận được là thu nhập của Nhà nước T
Các khoản chi tiêu của Nhà nước là G.
B là hiệu giưa thu và chi ngân sách ( cán cân ngân sách ) ta có công thức sau:
B = T - G
Vấn đề cơ bản của ngân sách Nhà nước là giải quyết mối quan hệ giữa thu ( T ) và chi
tiêu ( G ). Tuy theo so sánh giưa thu và chi ta có các trạng thái sau:
+ B > 0 Thặng dư ngân sách hay thu ngân sách lớn hơn chi ngân sách .T > G
+ B = 0 Cân bằng ngân sách hay thu ngân sách lớn hơn chi ngân sách . T = G
+ B < 0 Thâm hụt ngân sách hay thu ngân sách nhỏ hơn chi ngân sách . T < G
Khi nghiên cứu về vấn đề ngân sách Nhà nước, nhiều nhà kinh tế đã đặt ra những câu
hỏi mà đến bây giờ vẫn còn là những vấn đề tranh luận.
2.1. Có nhất thiết phải để ngân sách Nhà nước ở trạng thái cân bằng hay không ?
Để lượng hoá thâm hụt ngân sách, các nhà kinh tế chia thâm hụt ngân sách ra làm ba
loại:
- Thâm hụt thực tế, tức là thâm hụt ngân sách xảy ra khi số chi thực tế vượt số thu thực
tế trong một thời kỳ nhất định.
- Thâm hụt cơ cấu, là thâm hụt ngân sách xảy ra khi nền kinh tế hoạt động ở mức sản
lượng tiềm năng.
- Thâm hụt chu kỳ, tức là thâm hụt ngan sách bị động do trạng thái chu kỳ của nền
kinh tế gây ra. Nó bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu.
Thâm hụt ngân sách xảy ra khi Nhà nước tăng chi tiêu, kết quả là cung vốn vay
giảm, lãi suất tăng dẫn đến hiện tuợng tháo lui đầu tư, làm giảm tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế. Nhà nước cần có biện pháp kịp thời khắc phục thâm hụt. Nguyên tắc cơ
bản là "tăng thu, giảm chi", song không phải nền kinh tế nào cũng áp dụng được biện
pháp này. Khi các giải pháp tăng thu, giảm chi không khắc phục được thâm hụt, thì
Nhà nước phải sử dung giải pháp tài trợ cho thâm hụt. Có bốn giải pháp tài trợ là :
Thứ nhất, là vay tiền ngân hàng ( in thêm tiền ). Thế mạnh của giải pháp này là tài trợ
kịp thời cho các khoản thâm thủng của ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ máy
tài chính vận hành bình thường, giải toả những ngưng trệ trong bộ máy Nhà nước.
Song, giải pháp này sẽ dẫn đến hậu quả nan giải là lạm phát cao, giá cả tăng, làm giảm
sức mua của đồng tiền và làm đời sống dân cư giảm sút khi lượng tiêng trong lưu
thông tăng. Đông tiền giảm sức mua làm giảm khả năng tài trợ cho ngân sách. Bởi khi
giá cả tăng, Nhà nước phải chi tiêu nhiều hơn cho nhưững tiêu dùng không đổi, điều
đó buộc Nhà nước lại phải in thêm tiền; cứ như vậy, nền kinh tế sẽ rơi vào khủng
hoảng tiền tệ.
Thứ hai, là sử dụng dự trữ ngoại tệ. Giải pháp này có hiệu lực rất mạnh, giúp bù đắp
Thặng dư ngân sách lại có tác động hoàn toàn ngược lại so với trường hợp thâm hụt
ngân sách. Mức thặng dư ngan sách, hay tiết kiệm chính phủ làm tăng tiết kiệm quốc
dân , tăng cung vốn vay; kết quả là lãi suất giảm và khuyến khích đầu tư, làm tăng tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Như vậy rõ ràng là thặng dư ngân sách Nhà nước có lợi cho
tăng trưởng kinh tế hơn so với thâm hụt ngân sách. Đây là điều mà các nhà kinh tế đều
thống nhất. Nhưng việc làm gì với khoản thặng dư này thì còn nhiều tranh cãi. Một số
nhà hoạch định chính sách cho rằng nên duy trì thặng dư; một số khác lại cho rằng nên
thủ tiêu nó bằng cách tăng chi tiêu hay cắt giảm thuế.
Các nhà kinh tế ủng hộ duy trì thặng dư lập luận rằng; việc sử dụng phần thặng dư để
hoàn trả một số khoản nợ chính phủ sẽ khuyến khích đầu tư tư nhân và tăng trưởng
kinh tế.
Các nhà kinh tế ủng hộ việc thủ tiêu thặng dư ngân sách cho rằng; cắt giảm thuế, thuế
suất thấp hơn sẽ làm biến dạng các hoạt đọng kinh tế ít hơn, làm quá trình phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn; hoặc thặng dư cần được sử dụng để tăng chi tiêu của chính
phủvào cơ sở hạ tầng và giáo dục, bởi vì theo họ lợi suất của đầu tư công cộng vào các
lĩnh vực đó cao hơn lợi suất bình quân của tư nhân.
Chính sách đúng phụ thuộc vào quan điểm về giá trị của đầu tư tư nhân và đầu tư công
cộng, cùng mức độ biến dạng do thuế gây ra. B. Ngân sách Nhà nước trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở nước ta:
I. Những vấn đề chung về ngân sách Nhà nước:
1. Thu ngân sách Nhà nước:
Xét về mặt nội dung, thu ngân sách Nhà nước chứa đựng các quan hệ phân phối nảy
thống thuế , Nhà nước quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế
suất cao hoặc đánh thuế với thuế suất thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể.
Thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị
trường, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô.
Thuế là công cụ để điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Trong nền kinh tế
thị trường thì sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng cao, vấn
đề này iên quan đến đạo đức và công bằng xã hội. Sự mất cân bằng đosex được hoà
bằng các chính sách thuếcủa Nhà nước.
Hệ thống thuế hiện hành ở nước ta bao gồm:
Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng ( thuế VAT )
Thuế VAT là một loại thuế gián thu. Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân kinh
doanhcó doanh thu thuộc các ngành nghề, các hình thức hoạt động có địa điểm cố định
hay lưu động, hạot động thường xuyên hay không thường xuyên trên lãnh thổ Việt
Nam. Căn cứ để tính thuế VAT là : Giá trị gia tăng phát sinh trong kỳ nộp thuế và thuế
suát.
Đây là nguồn thu quan trong nhất của ngân sách Nhà nước.
Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu, đánh vào giá trị một số hàng hoá sản xuất và
lưu thông trong nước hoặc nhập khẩu.Thuế tiêu thụ đặc biệt ở nước ta tập trung vào một số mặt hàngnhư: Rượu, bia, thuốc lá, bài lá, vàng mã, xăng dầu các loại, hàng điện
tử cao cấp, ô tô, xe máy. Tuỳ tưng loại hàng hoá mà có thuế suất khác nhau. Người
nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và nhập khẩu các hàng
hoá trong dạng tiêu thụ đặc biệt.
Thuế tiêu thụ đặc biệt là nguồn thu lớn của ngân sách Nhà nước, có taqcs dụng điều
tiết những người có thu nhập cao và hạn chế tiêu dùng những hàng hoá độc hại cho
con người.
quát được nguồn thu nhập của công dân góp phần giải quyết công bằng xã hội trong
phân phối, điều tiết thu nhập.
Thứ bảy, thuế tài nguyên .
Thuế tài nguyên là thuế đánh vào người khai thác tài nguyên quốc gia. Người nộp
thuế tài nguyên là nguời khai thác tất cả các tài nguyên quốc gia bao gồm: khoáng sản,
sản phẩm rừng tự nhiên, cá và các loại thuỷ sản tự nhiên khác. Căn cứ tính thuế tài
nguyên là số lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suát.
Thuế tài nguyên có vai trò quan trọng trong khuyến khích, bảo vệ, khia thác, sử dụng
tài nguyên tiết kiệm, có hiệy quả cao, đông thời là nguồn thu quan trọng cho ngân sách
Nhà
nước.
Bên cạnh thuế, phí và lệ phí cũng là một nguồn thu quan trong mang tính chất bắt
buộc nhưng có tích chất đối giá, nghĩa là lệ phí thực chấtlà một khoản tiền mà dân
chúng bỏ ra trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những dịch vụ do Nhà nước cung cấp,
đó là những hang hoá công cộng có tích chất giới hạn và hàng hoá công cộng có thể
định giá như lệ phí qua cầu, lệ phí công chứng giấy tờ, xác nhận, cấp visa. . .
Ngoài các khoản thuế, lệ phí, NSNN còn có những khoản vay; đối tượng vay có thể
là dân cư, Ngân hàng và bằng cách phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ.
Hoặc các khoản vay, viện trợ từ nước ngoài, vay chính phủ các nước hoặc các tổ chức
quốc tế. Khi vay cần cân đối giưa những lợi ích của các khoản vay và chi phí của
chúng cũng như xem xét khả năng hoàn trả. . . 2. Chi tiêu ngân sách Nhà nước:
Chi NSNN thể hiện qua các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và
+ Chi đầu tư phát triển:
Là tất cả các chi phí làm tăng thêm tài sản quốc gia.
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả các Nhà nước hiện đại. Để đạt
được sự phát triển, chính phủ phải hoạch định được chiến lược phát triển đúng đắn,
phù hợp và cần phải có vốn đầu tư của Nhà nước. Đối tượng đầu tư của Nhà nước
thường là những công trình thuộc kết cấu hạ tầng, các ngành kinh tế mũi nhọn và
những công trình kinh tế mà không thể dựa vào đầu tư tư nhân, nhưng những hoạt
động của chúng là cần thiết cho xã hội.
3. Tổ chức hệ thống và phân cấp ngân sách Nhà nước:
Ngân sách Nhà nước được quản lý và điều hành theo luật Ngân sách Nhà nước được
Quốc hội Cộng hoà xã hội chu nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-3-1996.
Ngân sách Nhà nước được quản lý và điều hành theo chế độ kế hoạch hoá thống nhất
từ trung ương đến cơ sở. Mọi sự thu chi của Ngân sách Nhà nước đều được thể hiện
qua kế hoạch thống nhất từ trung ương đến sơ sở. Kế hoạch ngân sách do Quốc hội
thông qua hàng năm.
Thực hiện phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước phù hợp với sự phân cấp hành
chính. Theo đó ngân sách Nhà nước được chia làm bốn cấp:
- Cấp trung ương;
- Cấp tỉnh ( thành phố trực thuộc trung ương);
- Cấp huyện ( quận );
- Cấp xã ( phường ).
Tuy nhiên việc phan công, phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước là phân công, phân
cấp quản lý theo nhiệm vụ, kế hoạch thu, chi ngân sách cho các cấp trên cơ sở chế độ
thống nhất, kế hoạch thống nhất. Phân công phân cấp không phải là phân chia ngân
sách.
Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước là xác định phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm
của các cấp ngan sách trong việc quản lý thu, chi từng cấp, thực hiện theo chức năng
Đóng góp không nhỏ trong sự thành công ấy là những hoạt động thu, chi NSNN
được thực hiện một cách có hiệu quả. Năm 2003, dự toán thu ngân sách Nhà nước do
ngành tài chính đảm nhiệm ước đạt 132.500 tỷ đồng; vượt 7,1% so với dự toán quốc
hội giao; tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; đạt tỷ lệ động viên 21,7% GDP; trở
thành năm thứ sáu liên tục thực hiện vượt thu. Nhờ nguồn thu NSNN tăng khá, nên không những đảm bảo chi theo dự toán dược giao mà còn tăng bổ sung nguồn ngân
sách gần 10000 tỷ đồng để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm
an ninh quốc phòng.
Kết quả cụ thể là:
- Về thu NSNN:
Tổng thu ngân sách Nhà nước ước tính đạt 106,1% dự toán cả năm; đây là năm thứ
sáu liên tục vượt dự toán do Quốc hội đề ra. Vượt thu không phải do có thêm thuế mới
hay nâng thuế suất, tría lại một số khoản thu còn được miễn giảm như thuế sử dụng đất
nông nghiệp, một số khoản phí và lệ phí khác, đặc biệt là thuế nhập khẩu. . . Điều này
chứng tỏ tăng trưởng kinh tế đạt khá, công tác hành thu đã bám sát sự tăng lên của sản
xuất kinh doanh, bám sát dự toán đề ra, rà soát để tìm các khoản thu, đặc biệt là chống
thất thoát thu có hiệu quả.
Năm 2003 so với năm 2002, tổng thu ngân sách Nhà nước ước tăng 11,3%. Một số
khoản thu lớn còn tăng với tốc độ cao hơn, như thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tăng tới 30%, thu từ công thuowng nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh
tăng 28,5%, thu từ doanh nghiệp Nhà nước tăng 17,9%. . .
Do tốc độ tăng thu đạt khá, nên tỷ lệ giữa tổng thu ngân sách so với GDP vẫn đạt
khonảg 21,9%, tuy chưa bằng tỷ lệ 22,2% của năm 2002, nhưng đã cao hơn tỷ lệ trong
các năm trước đó ( năm 2001 đạt 21,6%, năm 2000 đạt 20,5%, năm 1999 đạt 19,6% . .
. ). Điều đó chứng tỏ, một mặt đã tích cực tận thu, mặt khác vẫn thực hiện chính sách
khoan thư sức dân, nuôi dưỡng nguồn thu- một chủ trương có tính chiến lược về thu,
chi ngân sách Nhà nước.