Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu của Công ty MESCO - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động ngoại thương góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền
kinh tế Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên cán cân ngoại trưởng của chúng
ta cho đến nay hầu như chưa được cân đối, phải thường xuyên nhập siêu có nghĩa là
trị giá nhập khẩu lớn hơn giá trị xuất khẩu. Điều này không hẳn là sự tác động xấu
đến nền kinh tế. Đối với đất nước ta đang trong thời kỳ đầu mở cửa nền kinh tế
chuyển dần từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường cơ sở vật chất còn thiếu
thốn, nghèo nàn, khoa học công nghệ lạc hậu. Nhập khẩu là một giải pháp để khắc
phục bổ sung những khiếm khuyết đó, tạo nên bước đột phá đưa nền sản xuất của
nước nhà dần theo kịp các nước trong khu vực và thế giới, là bước đệm tạo tiền đề
cho xuất khẩu hàng hoá dịch vụ trong tương lai.
Thực tế kinh doanh nhập khẩu hàng hoá của các công ty Việt Nam hiện nay
chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn. Có nhiều vướng mức xuất phát từ
bản thân doanh nghiệp và nhà nước cần phải khắc phục kịp thời.
Nhận thấy được vai trò của hoạt động nhập khẩu nên trong thời gian thực tập
ở công ty MESCO tôi đã lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt
động nhập khẩu của Công ty MESCO" với kiến thức và sự hiểu biết còn hạn hẹp
nhưng tôi cũng xin mạnh dạn đưa ra ý kiến đóng góp của mình với mong muốn hoạt
động nhập khẩu của công ty ngày càng được hoàn thiện, hoạt động có hiệu quả đạt
được mục tiêu của công ty hoàn thành kế hoạch Bộ đã giao cho.
Trang 1
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
1. Khái niệm
Thương mại quốc tế là một trong những hình thức chủ yếu của hoạt động
kinh doanh quốc tế. Đó là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ vượt qua
biên giới của một quốc gia. Nó gồm có hai bộ phận cơ bản cấu thành là nhập khẩu
và xuất khẩu. Hai bộ phận này có mối quan hệ mật thiết bổ sung lẫn nhau nhờ sự
phối hợp nhịp nhàng giữa chúng mà thương mại quốc tế mở ra những cơ hội mới
cho tất cả các doanh nghiệp và người tiêu dùng trên toàn thế giới. Người tiêu dùng

chúng ta xoá bỏ nền kinh tế tự cung tự cấp để tiến tới nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, nhập khẩu giúp các nước nâng cao được trình độ khoa học công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến của các nước công nghiệp trên thế giới. Vì nhập khẩu
thường xảy ra đối với các nước kém phát triển có trình độ khoa học kỹ thuật thấp
kém, không có khả năng sản xuất được các mặt hàng có hàm lượng chất xám cao,
hoặc do trình độ thiết bị máy móc lạc hậu nên sản xuất với chi phí cao. Trước thực
trạng đó họ phải tiến hành nhập khẩu. Thông qua hoạt động nhập khẩu máy móc
thiết bị hiện đại, các sáng kiến kỹ thuật được chuyển giao giữa các quốc gia nhờ vậy
mà các nước kém phát triển có thể bắt kịp trình độ công nghệ tiên tiến trên thế giới
góp phần vào hoạt động sản xuất trong nước phát triển.
Thứ tư, nhập khẩu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Thông qua hoạt động nhập
khẩu các máy móc thiết bị hiện đại được nhập về, các nguyên liệu có chi phí thấp.
Các yếu tố này góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ
giá thành sản phẩm qua đó tăng ưu thế cạnh tranh không những trên thị trường nội
địa mà còn ảnh hưởng tới thị trường xuất khẩu. Đặc biệt là đối với các nước kém
phát triển có giá nhân công rẻ như Việt Nam đây là một lợi thế lớn.
Thứ năm, nhập khẩu nó thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của một nước
diễn ra nhanh hơn. Vì nhập khẩu sẽ làm cho môi trường cạnh tranh diễn ra gay gắt,
các chủ thể kinh tế phải luôn tự đổi mới hoàn thiện mình mới mong đứng vững trên
thị trường. Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể yếu kém sẽ bị loại khỏi cuộc chơi,
Trang 3
chỉ có chủ thể mạnh áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến mới tồn tại được điều này
nó kéo theo sự phát triển của xã hội.
Thứ sáu, thông qua hoạt động nhập khẩu các chủ thể kinh tế giữa các quốc
gia có cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm của nhau, tạo điều kiện cho quá trình
phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng phát triển đồng thời tận
dụng được lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều có lợi thế so sánh
nên hoạt động nhập khẩu nó tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên trên cơ sở hợp
tác hoá cùng có lợi.
Thứ bảy, nhập khẩu nó đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu

bên (bên nhập khẩu và bên xuất khẩu) trục tiếp giao dịch với nhau, việc mua bán
không ràng buộc lẫn nhau. Trong đó bên nhập khẩu phải:
- Phải chịu trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt động, phải tự nghiên cứu thị
trường, chịu mọi chi phí giao dịch, giao nhận, lưu kho, chi phí quảng cáo, chi phí
tiêu thụ hàng hoá và thuế giá trị gia tăng.
- Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp được tính hạn ngạch nhập khẩu và khi
tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu sẽ được tính vào doanh số và phải chịu thuế giá trị gia
tăng.
- Để tiến tới ký kết hợp đồng hai bên thường phải qua một quá trình giao
dịch, thương lượng với nhau về điều kiện giao dịch.
- Độ rủi ro của hoạt động nhập khẩu này thường cao hơn các hoạt động nhập
khẩu khác nhưng lợi nhuận lại cao hơn.
3.2. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu phải thông qua trung gian. Bên
trung gian nhận sự uỷ thác của doanh nghiệp tiến hành giao dịch, đàm phán với đối
tác nhập khẩu để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác. Nhập khẩu uỷ
thác có những đặc điểm chủ yếu sau:
Bên nhận uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải
nghiên cứu thị trường công việc này thuộc bên uỷ thác. Bên nhận sự uỷ thác chỉ
đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để tìm và giao dịch với bên đối tác nước ngoài, ký
kết hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng, thay mặt bên uỷ thác khiếu kiện, đòi bồi
thường với đối tác nước ngoài khi có sự vi phạm hợp đồng gây thiệt hại.
Trang 5
Quyền lợi mà bên nhận uỷ thác có được từ bên uỷ thác là phí uỷ thác. Thông
thường doanh nghiệp nhận uỷ thác được hưởng một khoản thù lao trị giá 0,5% đến
1,5% tổng giá trị hợp đồng và phải nộp thuế thu nhập trên nguồn thu này, khi tiến
hành nhập khẩu doanh nghiệp nhận uỷ thác chỉ tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ
không tính vào doanh số và nộp thuế giá trị gia tăng.
Việc sử dụng trung gian giúp cho doanh nghiệp giảm được mức độ rủi ro do
những người trung gian thường hiểu biết về thị trường, pháp luật và tập quán địa

song được giải quyết linh hoạt ở các nước khác nhau.
3.4. Nhập khẩu đối lưu
Nhập khẩu đối lưu là phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó nhập
khẩu gắn liền với xuất khẩu. Thanh toán không bằng tiền mặt mà dùng hàng hoá có
giá trị tương đương để trao đổi hay còn gọi nhập khẩu theo phương thức hàng đổi
hàng.
Loại hình nhập khẩu này có những đặc điểm sau:
- Trong mỗi hợp đồng có những điều kiện ràng buộc lẫn nhau khiến cho
người nhập khẩu cũng đồng thời là người xuất khẩu.
- Điều kiện cân bằng phải cân bằng về mặt hàng, về giá cả, cân bằng về mặt
tổng giá trị hàng giao cho nhau và cân bằng về điều kiện giao hàng.
- Người nhập khẩu cùng một lúc thu lãi từ hai hoạt động: nhập khẩu và xuất
khẩu điều này làm lợi cho cả hai bên.
- Trong quá trình trao đổi hàng hoá dịch vụ hai bên phải quy định thống nhất
lấy một đồng tiền làm vật ngang giá chung cho quá trình trao đổi.
3.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động mua hàng hoá từ nước ngoài về nhưng mục
đích không phải để tiêu dùng trong nước mà xuất khẩu sang nước thứ ba nhằm thu
một khoản ngoại tệ lớn hơn. Mặt hàng này chưa qua chế biến ở nước mình mà được
xuất khẩu trực tiếp sang nước thứ ba. Như vậy, hoạt động nhập khẩu tái xuất luôn
thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
Đặc điểm của hoạt động tái xuất:
- Người kinh doanh tái xuất phải ký hai hợp đồng một hợp đồng nhập khẩu
và một hợp đồng xuất khẩu không chịu thuế XNK
- Hàng hoá có thể chở thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu nhưng
nước tái xuất nhận tioền từ nước nhập khẩu và thanh toán tiền cho nước xuất khẩu.
Trang 7
- Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tái xuất quy định dùng phương thức thư
tín dụng giáp lưng. Kinh doanh theo hình thức này đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị
trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong hợp đồng mua bán.

được, nó thuộc bản thân doanh nghiệp. Các nhân tó này có tác động tích cực hay
tiêu cực đến hoạt động kinh doanh, hoạt động nhập khẩu điều này phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: vốn, nguồn nhân lực, về xây dựng thể chiế chính sách phát triển
thị trường, về kết cấu hạn tầng thương mại, về hình thành kênh phân phối lưu thông,
hoạt động sản xuất kinh doanh và về tổ chức doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần phải tự đánh giá đùng khả năng của mình để đề ra những
mục tiêu phù hợp cần đạt tới và cách thức để mục tiêu đó. Một kế hoạch chiến lược
được thiết lập và phát triển cho toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp nói chung
và hoạt động nhập khẩu nói riêng.
Cơ cấu tổ chức bộ máy là cơ sở đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
có hiệu quả. Sự phối hợp giữa các bộ phận sẽ diễn ra nhịp nhàng thông suốt nếu bộ
máy tổ chức có cơ cấu hợp lý. Trong đó yếu tố con người đóng vai trò quan trọng
đối với sự thành bại của một doanh nghiệp. Một đội ngũ cán bộ có trình độ có kỷ
luật nghiệp vụ thành thạo, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động xuất nhập khẩu
giúp cho doanh nghiệp tránh được nhiều thiếu sót trong quá trình tiến hành thủ tục
nhập khẩu, dự kiến trước được tình hình biến đổi trên thị trường xuất nhập khẩu để
đề ra biên pháp, chính sách xuất nhập khẩu phù hợp.
Một hệ thống kênh phân phối tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi
phí, hàng hoá tiệu thụ nhanh và kịp thời đến khách hàng. Điều này ảnh hưởng tới
tình hình nhập khẩu của doanh nghiệp. Vì khi hàng hoá tiêu thụ mạnh có nghĩa là
sản xuất sẽ được mở rộng doanh nghiệp vì vậy mà nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho
sản xuất tiêu dùng tốt hơn.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều cần đến vốn.
Nguồn vốn mà doanh nghiệp có được bằng nhiều cách: vốn tự có, vốn góp và vốn
vay hoặc lợi nhuận tái đầu tư. Quy mô sản xuất kinh doanh ít nhiều phụ thuộc vào
nguồn vốn mà doanh nghiệp có được nó là cơ sở để đảm bảo khả năng thanh toán
đối với lượng hàng hoá nhập khẩu.
Kết cấu hạ tầng thương mại đảm bảo cho hàng hoá giữ được phẩm chất. Nếu
doanh nghiệp có kết cấu hạ tầng thương mại tố sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được
Trang 9

Trang 10
Doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh phải đối mặt với nhiều đói thủ cạnh
tranh trong và ngoài nước. Cùng với sự lớn mạnh của nền sản xuất trong nước
khoảng cách giữa các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp, nhiều sản phẩm, ngành lĩnh
vực có chất lượng cao có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước,
hàng hoá trong nước có khả năng thay thế hàng ngoại nhập. Trước thực trạng đó
doanh nghiệp phải tính đến đến sự lớn mạnh của sản xuất trong nước để xem xét
khả năng nhập khẩu chủng loại hàng hoá đó có thực sự cạnh tranh với hàng hoá
trong nước hay không. Không phải mặt hàng nào nhập khẩu đều có thể chiếm ưu thế
cạnh tranh với hàng nội. ở Việt Nam tính từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng trưởng
của nhập khẩu thấp hơn tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu, nếu so sánh trên cùng
một mặt hàng của một số mặt chủ yếu thì tốc độ xuất khẩu thành phẩm cao hơn tốc
độ xuất khẩu nguyên liệu bán thành phẩm, nếu loại trừ mặt hàng tạo nên tăng đột
biến kim ngạch nhập khẩu thì nhập khẩu tăng 18,6% thấp hơn so với tăng xuất khẩu
là 27,3% còn nếu lại bỏ yếu tố biến động giá cả bất thường thì kim ngạch nhập khẩu
tăng 11,9% thấp 2 lần so với tốc độ tăng nhập khẩu. Tất cả các yếu tố trên đây phản
ánh nội lực kinh tế đất nước ngày càng phát triển.
* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế trước hế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung
về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cầu vùng. Tình hình đó tạo nên sự hấp dẫn về thị
trường đối với các thị trường khác nhau. Nhập khẩu thực tế của doanh nghiệp có thể
bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong nước và quốc tế. Khi nền kinh tế ở vào giai
đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cũng như thuế kháo tăng buộc các doanh nghiệp
phải đắn đo khi đưa ra các quyết định nhập khẩu hay không vì nó sẽ ảnh hưởng đến
yếu tố đầu ra, có thể sẽ làm tăng giá thành sản phẩm tác động tiêu cực đến khả năng
cạnh tranh. Tình hình sẽ trái ngược lại khi mà nền kinh tế trở lại thời kỳ phục hồi và
tăng trưởng.
* Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều
mặt tới nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự

khác nhau. Theo quan điểm của kinh tế học thì thị trường là tổng thể cung và cầu
đối với 1 lại hàng hoá nhất định trong một thời gian và không gian cụ thể. Theo định
Trang 12
nghĩa này giả thiết cơ sở là tổng cung và cầu về 1 loại hàng hoá trên thị trường vận
động theo những quy luạt riêng và điều tiết thị trường thông qua quy luật cung cầu.
Nếu đứng trên giác độ quản lý 1 doanh nghiệp, khái niệm thị trường phải được gần
với các tác nhân kinh tế tham gia vào thị trường như người mua, người bán, người
phân phối… Với những hành vi cụ thể của họ. Vậy so sánh hai khái niệm trên đây
thì khái niệm trên mang nặng tính lý thuyết còn khái niệm dưới giác độ doanh
nghiệp không phải bao giời cũng tuân theo quy luật cứng nhắc dựa trên lý thuyết vì
hành vi của người mua và người bán chịu tác động của yếu tố tâm lý và điều kiện
giao dịch. Vậy đứng trên giác độ doanh nghiệp thì "thị trường là tập hợp những
khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp".
Từ khái niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm thị trường quốc tế của doanh
nghiệp "thị trường quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước
ngoài tiềm năng của doanh nghiệp đó". Theo khái niệm này thì số lượng và cơ cấu
nhu cầu của khách hàng nước ngoài đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũng nhưng
sự biến động của các yếu tố đó theo không gian và thời gian là đặc trưng cơ bản của
thị trường quốc tế của doanh nghiệp. Số lượng và cơ cấu nhu cầu chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, vĩ mô và vi mô đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải nghiên cứu một cách tỷ mỉ. Thị trường quốc tế nó phức tạp hơn nhiều so với thị
trường nội địa do có sự khác biệt về hệ thống chính trị - văn hoá- luật pháp và các
yếu tố do môi trường địa lý quy định do đó nó chứa định rủi ro cao hơn đối với hoạt
động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, vì vậy đòi hỏi doanh
nghiệp phải am hiểu luật pháp, văn hoá và hệ thống chính trị nhằm hạn chế những
thiệt hại có thể gặp phải.
Doanh nghiệp tiến hành kinh doanh hàng hoá XNK ngoài phải nghiên cứu thị
trường nội địa cần phải nghiên cứu thị trường nước ngoài. Vì vậy nội dung nghiên
cứu thị trường gồm có thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
1.1. Nghiên cứu thị trường nội địa

- Luôn theo dõi sát sao các động thái kinh doanh của đối thủ nhằm có sách
lược đối phó kịp thời với những thay đổi đó của đối thủ, biết được họ đang kinh
doanh ở thị trường nào?
1.2. Nghiên cứu thị trường nước ngoài
Trang 14
Thị trường nước ngoài phức tạp hơn nhiều đối với thị trường nội địa do có sự
khác biệt về hệ thống kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội - luật pháp và phong tục
tập quán. Điều này đòi hỏi những người làm công tác nghiên cứu thị trường phải
hiểu sâu sắc về các yếu tố trên điều quan trọng là phải thông thạo nghiệp vụ. Thông
thường khi nghiên cứu thị trường nước ngoài thường tập trung vào các vấn đề trọng
tâm sau:
* Nghiên cứu khả năng cung ứng của thị trường nước ngoài: Đây là chỉ tiêu
quan trọg tác động đến sự ổn định kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình kinh
doanh. Mỗi nhà cung ứng nước ngoài không bao giời là một nhà cung ứng thuần
nhất doanh nghiệp không nên lựa chọn 1 nhà cung ứng duy nhất mà nên tìm nhiều
nhà cung ứng nhằm phân tác rủi ro trong quá trình nhập khẩu, đa dạng hoá nguồn
nguyên liệu đầu vào đảm bảo khả năng cung ứng nguồn đầu vào ổn định phục vụ
cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thông suốt không bị gián đoạn. Một khía
cạnh quan trọng cần được nghiên cứu là sự biến động theo thời gian của các nhà
cung ứng biểu hiện qua số lượng tăng giảm, giá cả hàng hoá nk của hàng hoá đó. Nó
đã phản ánh triển vọng phát triển của các nhà cung ứng trong tương lai để doanh
nghiệp có thể xác định sự thích ứng trong lượng cung cấp và các chính sách thương
mại hợp lý.
* Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường kinh tế - chính trị - luật pháp -
văn hoá và phong tục tập quán của mỗi quốc gia
Khi nghiên cứu thị trường của các nhà cung ứng nước ngoài doanh nghiệp
phải tiến hành nghiên cứu các nhân tố trên. Vì mỗi nước có luật pháp, hệ thống văn
hoá kinh tế chính trị riêng áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu nhằm khuyến khích
hay hạn chế hàng hoá xuất khẩu đó nó ảnh hưởng đến quan hệ giao dịch giữa các
bên.

hiếm sẽ đẩy mức giá lên cao theo quy luật cung cầu.
- Cạnh tranh: Trạng thái cạnh tranh trên thị trường cung ứng giúp cho việc
xác định mức giá, nó ảnh hưởng đến lượng bán của nhà cung ứng vì vậy tuỳ theo
mức độ cạnh tranh đến đâu mà giá cả sẽ được quy định.
- Trong điều kiện địa lý khác nhau, đồng tiền thanh toán khác nhau và
phương thức thanh toán khác nhau… đều ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá. Đặc biệt
là sự suy yếu của một số ngoại tệ mạnh như USD làm ảnh hưởng tới mậu dịch toàn
cầu.
Trang 16
- Lạm phát: Lạm phát ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá của một quốc gia thể
hiện sự mất giá của đồng tiền quốc gia đó.
- Luật pháp và chính trị: Một số quốc gia nhằm khuyến khích xuất khẩu hàng
hoá ra nước ngài họ sẽ tiến hành hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nước. Khi chính phủ
can thiệp vào thị trường tiền tệ thì tình hình cạnh tranh cũng thay đổi mặt khác biểu
thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ khác nhau giữa các quốc gia điều này ảnh hưởng đến
giá cả hàng hoá sản phẩm giữa các nước.
Nói tóm lại doanh nghiệp khi nghiên cứu giá cả hàng hoá quốc tế cần phải
biết kết hợp các nhân tố của thị trường quốc tế và mục tiêu của doanh nghiệp nhằm
tìm ra một mức giá tối ưu đối với loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ đó.
2. Lập phương án kinh doanh
Sau khi đã tiến hành nghiên cứu thị trường trong nước và thị trường quốc tế
doanh nghiệp đã nắm được tình hình thực tế của thị trường và bản thân doanh
nghiệp trên cơ sở đó lập ra phương án kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu kinh
doanh của mình. Để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp cần lập ra phương án
tối ưu nhất để đạt được trạng thái mong muốn.
Công việc cần làm trong khâu này là:
+ Phân tích đánh giá tình hình thị trường và nhà cung ứng nước ngoài. Mục
tiêu của bước này là thông qua so sánh nhiều thị trường nhà cung ứng để chọn ra
một số nhà cung ứng hấp dẫn đối với doanh nghiệp. Trước hết để tiết kiệm thời gian
và chi phí cần giới hạn việc đánh giá bằng cách loại bỏ ngay một số thị trường hiển

- Phải đo lường được có nghĩa là quy mô và hiệu quả của thị trường phải đo
lường được tính khả thi,
- Doanh nghiệp phải nhận biết và phục vụ đoạn thị trường đã phân chia theo
tiêu thức nhất định.
* Xác định giá giao dịch
Giá cả hàng hoá nhập khẩu do hai bên tự thoả thuận. Nhưng bên nhập khẩu
phải căn cứ vào các yếu tố sau đây để đưa ra mức giá tối thiểu nhằm tối đa hoá lợi
ích:
- Phân tích giá hàng hoá cùng chủng loại trên thị trường trong nước và quốc
tế tại thời điểm hiện tại hoặc giá cả có thể tham khảo của đối thủ cạnh tranh đã nhập
về.
Trang 18
- Giá phải đảm bảo được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra như: mục tiêu lợi
nhuận đạt được sau khi trừ các khoản chi phí, thuế…
* Đánh giá hiệu quả mang lại và khắc phục những hạn chế làm giảm hiệu quả
kinh doanh
Hàng hoá nhập về kinh doanh trên thị trường kết quả thu được có thể lỗ hoặc
lãi do có nhiều yếu tố phát sinh trong quá trình kinh doanh. Sau khi tiêu thụ hàng
hoá cuối kỳ cần tổng kết đánh giá hiệu quả kinh doanh, tìm ra những nguyên nhân
ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để đề ra các biện pháp khắc
phục.
3. Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hoá
3.1. Giao dịch và đàm phán
Về vấn đề giao dịch doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức giao dịch cao
cho phù hợp với khả năng của chính bản thân doanh nghiệp. Trong hoạt động ngoại
thương các doanh nghiệp thường áp dụng các phương thức giao dịch sau đây:
* Giao dịch thông thường: Tức là những phương thức bán phổ biến nhất,
thường thấy nhất. Được chia làm hai loại trực tiếp và qua trung gian.
- Giao dịch trực tiếp: Bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc
mua và việc bán không ràng buộc lẫn nhau.

hoặc một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật…
b) Đàm phán
Đàm phán là một cuộc đối thoại giữa 2 hoặc nhiều bên về một vấn đề liên
quan đến các bên cả quyền lợi và nghĩa vụ đạt đến sự nhất trí giữa các bên. Doanh
nghiệp có thể lựa chọn một trong các hình thức đàm phán sau:
- Đàm phán qua thư tín
- Đàm phán qua điện thoại
- Đàm phán trực tiếp
Khi tiến hành đàm phán thông thường các doanh nghiệp phải trải qua các giai
đoạn sau:
- Giai đoạn chuẩn bị: giai đoạn này có vai trò hết sức quan trọng nó quyết
định quá nửa của cuộc đàm phán. Các công việc phải làm là:
+ Chuẩn bị mục đích
+ Chia các mục tiêu ra các mục tiêu bộ phận
+ Lựa chọn địa điểm đàm phán, thời gian
Trang 20
+ Dự kiến được chương trình đàm phán
+ Đưa ra các kịch bản khác nhau
+ Tìm hiểu điểm mạnh điểm yếu của đối phương
+ Lựa chọn thành viên của đoàn đàm phán
- Giai đoạn thảo luận
Đây là giai đoạn các bên trao đổi ý kiến với nhau về vấn đề quan tâm. Giai
đoạn này gồm các công việc sau:
+ Bố trí chỗ ngồi đàm phán
+ Tóm tắt lý do và trao đổi ý đồ
+ Tìm hiểu ý đồ và mục tieu của đối phương
+ Cần xác định người có thực quyền trong đàm phán
+ Trình bày yêu cầu để đối tác hiểu và ghi lại nội dung cuộc đàm phán
- Giai đoạn đề xuất
Đây là giai đoạn các bên đưa ra đề xuất theo mục tiêu của cuộc đàm phán.

nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đúng như các điều khoản quy định trong hợp đồng.
Xét dưới góc độ là người nhập khẩu doanh nghiệp phải tiến hành các bước sau:
* Xin giấy phép nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu là biện pháp để nhà nước quản lý hàng nhập khẩu. Vì
thế sau khi ký kết hợp đồng doanh nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu chuyến để
thực hiện hợp đồng đó. Mỗi giấy phép chỉ cấp cho một chủ hàng kinh doanh nhập
khẩu một số hàng nhất định. Đơn xin phép phải được chuyển đến phòng cấp giấy
phép của Bộ Thương mại.
* Tiến hành thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C. Hành vi này phải được thực
hiện phù hợp với hợp đồng đã quy định và trước thời hạn giao hàng khoảng 15 ngày
đến 20 ngày, đảm bảo L/C đến tay người bán kịp thời và tạo điều kiện cho người
bán có thời gian tiến hành làm thủ tục giao hàng.
* Thuê tàu lưu cước: Việc thuê tàu lưu cước được tiến hành dựa vào 3 căn cứ
sau:
- Những điều khoản của hợp đồng.
- Đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải
Việc thuê tàu lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình
hình thị trường và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy, các công ty thường uỷ
Trang 22
thác việc thuê tàu lưu cước cho một công ty hàng hải. Nếu nghĩa vụ thuê tàu thuộc
bên nhập khẩu thì phải căn cứ vào khả năng thực tế để thuê tàu đảm bảo tàu đến địa
điểm bốc hàng đúng giờ quy định.
* Mua bảo hiểm
Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì vậy
doanh nghiệp nên cân nhắc tới việc mua bảo hiểm hàng hoá nhằm ngăn ngừa việc
phải gánh chịu rủi ro trong quá trình vận chuyển. Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần
nắm vững các điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm A
Điều kiện bảo hiểm B
Điều kiện bảo hiểm C
- Làm thủ tục hải quan

để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại.
Đối tượng khiếu nại là người xuất khẩu, bên vận tải, công ty bảo hiểm hàng
hoá đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất, hoá đơn, vận
đơn đường biển, đơn bảo hiểm.
Trang 24
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN VẬT TƯ THIẾT BỊ (MESCO)
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY MESCO
1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của công ty
* Công ty Vật tư thiết bị và xây dựng là doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ
Thuỷ lợi cũ nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập ngày
9/11/1974. Thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, ngày
7/3/2000 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ký quyết định số
22/2000/QĐ/BNN-TCCB về việc chuyển công ty vật tư thiết bị và xây dựng thành
Công ty cổ phần xây dựng và vật tư thiết bị. Với gần 30 năm xây dựng và phát triển
đến nay công ty đã có những trưởng thành vượt bậc trong lĩnh vực xây dựng và kinh
doanh với những ngành nghề đa dạng như thi công xây dựng các công trình thuỷ lợi,
công trình giao thông, công trình dân dụng, công trình cấp thoát nước, điện chiếu
sáng, công trình kỹ thuật hạ tầng công nghiệp và chuyên cung cấp vật tư, lắp đặt các
thiết bị phục vụ các công trình thuỷ lợi cho toàn ngành. Công ty có đội ngũ cán bộ
công nhân có tay nghề cao.
* Địa chỉ, điện thoại:
- Địa chỉ : số 3B Thể Giao - quận Hai Bà Trưng
- Số điện thoại: 04-9780048; 04-9744906; 04-9740.548
- Số Fax : 84-4-9760548
- Email:
- Webste : www.mesco.vn.com
* Nước và năm thành lập: - Nước sở tại: Việt Nam
- Năm thành lập: 1974


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status