LUẬN VĂN: Tổ chức công tác kế toán lao động, tiền lương - Pdf 11



LUẬN VĂN:
Tổ chức công tác kế toán lao
động, tiền lương Lời nói đầu

Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, các doanh nghiệp
muốn tồn tại và phát triển, đòi hỏi người quản lý doanh nghiệp phải nang động, sáng
tạo, vận dụng những khả năng sẵn có của mình và nắm bắt được cơ chế thị trường một
cách linh hoạt, kịp thời để hạch toán linh hoạt, kịp thời để hạch toán kinh doanh. Bởi
hạch toán kế toán là công cụ sắc bén không thể thiếu được trong quản lý kinh tế tài
chính của các đơn vị cũng như trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở nước ta
hiện nay.
Thực hiện phương châm đào tạo "học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tế,
nhà trường gắn với xã hội". Chính vì vậy mà trường "Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp I"
cho học sinh, sinh viên đi thực tập tại các đơn vị sản xuất kinh doanh. Mục đích là giúp
cho sinh viên nắm bắt và tìm hiểu thêm về thực tế dựa trên lý thuyết đã được học ở nhà
trường. Đồng thời tạo sự nhuần nhuyễn thêm một cách có logic và có kiến thức được
vững chắc để khi trở thành một nhân viên, một cán bộ kế toán sẽ không còn bỡ ngỡ với
công việc được giao.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này. Sau khi dời ghế nhà trường, kết
thúc phần lý thuyết để bước vào thời gian thực tập em đã chọn cho mình một chuyên đề

sản xuất nông nghiệp, là doanh nghiệp quốc doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về
tài chính được nhà nước cấp vốn và vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Có trụ
sở ở thị trấn Tế Tiêu với ngành nghè kinh doanh chính là vận hành toàn bộ hệ thống
công trình thuỷ lợi tưới tiêu nước cho nông nghiệp và cung cấp nước cho cơ sở kinh tế
khác trong huyện theo hợp đồng dùng nước giữa công ty với HTX nông nghiệp.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức nằm ở thị trấn Tế Tiêu về danh
giới địa chính của công ty là:
+ Phía Bắc giáp đường 73 và huyện Chương Mỹ/
+ Phía Đông và phía nam giáp sông Đáy và tỉnh Hà Nam.
+ Phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình.
Toàn huyện Mỹ Đức có 22 xã và một thị trrấn với tổng diện tích là 22.100ha, bao
gồm sông ngòi, đồi, núi, trong đó có 9.455 ha đất, dân số 163.000 người. Có tới 90%
sống bằng nghề nông nghiệp, ngoài ra còn có ngành nghề thủ công như dệt, trồng dâu
nuôi tằm.
- Quá trình phát triển của công ty
+ Quá trình hoạt động và phát triển của công ty

Từ năm 1974 trở về trước huyện Mỹ Đức gồm có 2 hồ chứa nước, đó là hồ Tuy
Lai và hồ Quan Sơn (xây dựng từ năm 1959 với khả năng tưới 600ha và hai trạm bơm
dầu Đức Môn và Kim Bôi) khả năng tưới 500 ha và tiêu chủ yếu nước là tự tiêu ra sông
đáy bằng các cống Đoan nữ (An Mỹ), cống gánh (Phù Lưu Tế), cống đồng dầy (Đốc
Tín) không có trạm bơm tiêu. Việc quản lý công trình và điều hành do phòng thuỷ lợi
đảm nhiệm.
Từ năm 1974 trở lại đây, được nhà nước đầu tư vốn mở rộng Hồ Quan Sơn và
Hồ Tuy Lai đồng thời xây dựng hồ mới Vĩnh An với tổng diện tích cả 3 hồ theo thiết kế
là: 11.410 m
3
nước. Năng lực tưới cho diện tích 1880ha. Một số trạm bơm đầu trở thành
trạm bơm điện. Và xây dựng trạm bơm Tân Độ, trạm bơm Bạch Tuyết, trạm bơm Hoà
Lạc…

loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa lại là công ty của nhà nước cộng với vốn
đi vay của công ty được tổ chức dưới dạng độc lập.
* Hình thức sở hữu vốn của công ty là: Hình thức sở hữu vốn của nhà nước.
* Công ty thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh là phục vụ sản xuất nông nghiệp,
mặt hàng chủ yếu là dịch vụ tưới tiêu.
3. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty khai thác
công trình thuỷ lợi Mỹ Đức
a. Về lao động và thu nhập
* Về lao động
Để đáp ứng nhu cầu của công ty đồng thời hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch
của đơn vị, công ty đã có một số lượng lao động là 135 công nhân (43 là nữ). Trong đó
có:
+ Kỹ sư : 8 người
+ Cao đẳng : 5 người
+ Trung cấp : 5 người
+ Công nhân : 110 người
+ Nhân viên : 2 người
+ Đại học : 5 người.
Là công ty nhà nước hoạt động công ích, để đứng vững trong nền kinh tế thị
trường hiện nay. Công ty rất cố gắng tìm tòi, học hỏi cũng như vận dụng những kinh
nghiệm của mình để phát triển công ty và đạt kết quả tốt đã được tỉnh tặng bằng, giấy
khen nhiều năm đạt danh hiệu thi đua xuất sắc (kể từ 1991 đến nay).

* Về thu nhập lao động
Năm

Chỉ tiêu
1998 1999 2000 2001 2002
T
ổng quỹ


Nhận xét:
Từ các số liệu tổ hợp qua bảng chỉ tiêu kinh tế của công ty ta thấy:
- Tổng quỹ lương của công ty tăng dần theo năm, vì theo chế độ quy định của
nhà nước là tăng mức lương theo hệ số tối thiểu từ 140.000đ lên 180.000đ và lên tới
210.000đ.
- Tiền lương bình quân thể hiện quy mô của công ty được mở rộng. Tiền lương
bình quân tăng, từ 471.700đ (1998) lên tới 604.500đ (2002). Mặc dù công ty luôn bị lỗ
nhưng thường xuyên được nhà nước cấp bổ xung để đảm bảo mức lương tối thiểu cho
người lao động với hệ số là 1,1.
Đến nay công ty đã hoàn thành quy mô khai thác tài nguyên nước để phục vụ sản
xuất nông nghiệp, dân sinh và môi trường.
Trong những năm thực hiện cơ chế mới, đời sống cán bộ công nhân viên ngày
một ổn định và nâng lên, người lao động ngày càng gắn bó với công ty. Mức thu nhập
bình quân của năm 2000 là 481.821 đồng/tháng/người; năm 2001 là 629.500
đồng/tháng/người; năm 2002 là 604.500 đồng/tháng/người.
Tổng thu nhập của công ty tăng, giảm không ổn định: năm 1998-1999 là tăng từ
2.610.237.900 đồng (1998) lên 2.638.256.200 đồng (1999), đến năm 2001-2002 lại
giảm xuống từ 2.332.783.980 đồng (2000) xuống 2.235.253.480 đ (2001).

Như vậy nguyên nhân sự tăng giảm không ổn định này là do năm 1998 bị lũ lụt,
đến năm 1999 bị hạn hán kéo dài và năm 2000, 2001 lại bị mất mùa.
- Thu nhập bình quân lúc tăng, lúc giảm, không ổn định là do mức giá quy định
của nhà nước có sự thay đổi. Năm 1998 quy định giá thu thủy lợi phí là 1.600đ/kg thóc,
năm 2001 là 1400đ/1kg thóc, năm 2002 là 1800đ/1kg thóc.
b. Về cơ cấu ban giám đốc, phòng ban và các bộ phận sản xuất kinh doanh
của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức - Hà Tây.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập
theo nguyên tắc tự chủ về tài chính được nhà nước cấp vốn và cho vay vốn ngân sách
để hoạt động sản xuất kinh doanh. Nên việc tổ chức quản lý và phân cấp quản lý theo

hỏng, toàn bộ máy móc tổ chức quản lý của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi.
Các bộ phận sản xuất kinh doanh gồm 20 bộ phận
+ Trạm bơm Phú Yên
+ Trạm bơm Hùng Tiến
+ Trạm bơm Hội Xá
+ Trạm bơm Đốc Tín
+ Trạm bơm Bạch Tuyết
+ Trạm bơm Kim Bôi
+ Trạm bơm An Phú
+ Trạm bơm Hoà Lạc
+ Trạm bơm La Làng
+ Trạm bơm Cống Đắm
+ Trạm bơm Bãi Giữa
+ Trạm bơm Phù Lưu Tế
+ Trạm bơm Xuy Xá
+ Trạm bơm Tân Độ
+ Trạm bơm An Mỹ
+ Trạm bơm áng Thượng
+ Trạm bơm Mỹ Thành
+ Trạm bơm Đức Môn
+ Trạm bơm Đỗ Mơ
+ Trạm bơm Phúc Lâm.

Nhiệm vụ của các bộ phận này là cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông
nghiệp trên phạm vi toàn huyện. c. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán của công ty
- Tổ chức hạch toán tạo ra mối quan hệ có định hướng theo một trình tự xác định
có giữa biện pháp thông qua nhân tố con người, nhằm đảm bảo điều kiện thực hiện các


2 Tổng lợi tức trước thuế 10.427.126.093

13.256.728.590

16.560.241.938

3 Số thuế phải nộp 2.459.381.258

3.260.816.267

4.589.721.8564 Lợi nhuận sau thuế 7.967.744.835

9.995.912.323

11.970.520.082

5 Thu nhập bình quân của ngư
ời
lao động
1.600 1.800 1.600

Tình hình sản xuất kinh doanh từ năm 2000 đến 2002 có xu ưhớng tăng dần cụ
thể:
* Tổng doanh thu
- Tổng doanh thu năm 2002 so với năm 2001 tăng 8.713.799.589đ hay tăng
24,78%

Chương II
Tình hình quản lý Phân tích về quản lý lao động, tiền lương tại Công ty khai thác
công trình thuỷ lợi Mỹ Đức

I. Tình hình quản lý lao động, tiền lương của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi
Mỹ Đức
* Lao động ở Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức
- Lao động: Là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nó là những con người tham gia trực tiếp vào vận hành máy
móc, thiết bị mà cụ thể là: vận hành máy bơm chống úng, chống hạn, để biến nguồn
nước trở thành hàng hoá có ích cho người nông dân, đó là yếu tố mang tính chất quyết
định mà đối với công ty không thể thiếu được, với 135 lao động thì khoản chi phí về lao
động là yếu tố tạo nên giá trị sản phẩm, sản xuất. Chính vì vậy công ty sử dụng từng lao
động rất hợp lý và tiết kiệm làm giảm chi phí về lao động góp phần tăng lợi nhuận cho
công ty, cải thiện nâng cao đời sống vật chất, trình độ và trách nhiệm của mỗi cá nhân
gắn bó với công ty hơn.
* Tiền lương ở Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức
- Tiền lương là phần thù lao trả cho người lao động trên cơ sở thời gian làm việc
và khối lượng công việc mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình hoạt động của công
ty trên cơ sở chính sách chế độ và trên cơ sở hợp đồng kinh tế lao động mà người lao
động đã ký.
Ngoài tiền lương là khoản thu nhập chủ yếu của công nhân viên thì họ có thể
được hưởng một khoản trợ cấp trong thời gian nghỉ việc như nghỉ ốm đau, nghỉ thai
sản, nghỉ tai nạn lao động, khoản trợ cấp này là trợ cấp BHXH, nhằm giúp đỡ người lao
động trong lúc khó khăn không làm được, nó thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với
người lao động, ngoài ra ngưoiừ lao động được hưởng khoản tiền khác như tiền thưởng
thi đua, thưởng năng suất lao động…
* Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức tiền lương có đặc
điểm sau:
- Tiền lương gắn liền với người lao động và nền sản xuất của người nông dân.

* Phương pháp tính lương
1. Phương pháp tính lương và trả lương

 Phương pháp tính lương:
Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc tính và trả lương được thực hiện ở hai hình
thức sau:
+ Tiền lương thời gian:
Được xác định trên cơ sở số ngày làm việc trong tháng, đơn giá, lương thời gian.
Cụ thể việc tính lương thời gian ở Công ty khai thác công trình thuỷ lợi theo công thức
sau:
Tiền lương;(thời gian)
=
Mức lương tối thiểu;theo quy định
x Hệ số lương +
Phụ cấp
+ Lương trực tiếp
Là tiền lương trực tiếp trả cho những người tham gia sản xuất kinh doanh như
công nhân vận hành máy móc, trong mỗi doanh nghiệp khác nhau thì lương trực tiếp trả
cho người lao động khác nhau.
+ Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi thì tiền lương trực tiếp trả cho
người lao động được tính theo thời gian làm việc và mức lương tối thiểu, hệ số cấp bậc
của từng người.
Cụ thể lương trực tiếp của 1 công nhân vận hành máy móc như sau:
Tiền lương trực tiếp =
290.000 x 3
28;22
= 951.200 đ
* Tiền lương sản phẩm: là việc tính lương trả cho người lao động căn cứ vào số
lượng, chất lượng lao động mà họ làm ra hoặc sản phẩm sản xuất hoàn thành hoặc có
thể tính theo doanh thu thực hiện được trong kỳ.

2. Phó GĐ
- Hệ số
- Mức lương6,03 - 6,34
1085,4 -
1141,2

4,25 - 5,26
891,0-
9216,8

4,32 - 4,60
777,6 -
828,0

3,66 - 3,94
658,8 -
709,2

3,04 - 3,32
547,2 -
597,6

Phân tích sự biến động của tổng quỹ lương ở các năm từ 1998 đến 2002 là không
ổn định là do hai nhân tố:
+ Tiền lương bình quân
+ Số lượng người làm việc
Về tiền lương bình quân (các nhân tố ảnh hưởng)

Năm 2002 công ty đã sử dụng số lao động khá đông, có trình độ chuyên môn
cao, làm tăng năng suất lao động rõ rệt, đã làm cho lợi nhuận, doanh thu của công ty
tăng lên. Hàng năm công ty đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, tăng tích luỹ
nội bộ. Đời sống cơ bản của công nhân viên ngày được nâng cao.
Tuy nhiên công ty vẫn còn nhiều tồn tại trong công tác quản lý lao động tiền
lương đó là: phân công lao động chưa chặt chẽ, tiền lương được trả cho CNV chưa hợp
lý dẫn đến năng suất lao động chưa cao.
Thực tế cho thấy doanh thu năm 2002 đạt trên 40 tỷ đồng nhưng lợi nhuận thu về
chỉ gần 100 triệu đồng, một con số rất thấp chứng tỏ chi phí cho quản lý lao động tiền
lương là không thấp.
2. Với nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng như hiện nay công ty muốn tồn
tại và phát triển nhất thiết phải có biện pháp khắc phục kịp thơì trong việc quản lý lao
động tiền lương chưa hiệu quả.
II. Những giải pháp nhằm nâng cao quản lý lao động, tiền lương tại công ty
- Trong những năm gần đây ta thấy kết quả kinh doanh của công ty có sự chuyển
biến tích cực. Doanh thu và lợi nhuận của năm sau luôn cao hơn năm trước, hàng năm
đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Bên cạnh những thành quả đạt được

công ty cần quản lý lao động và tiền lương phải tốt hơn nữa nhằm nâng cao năng suất
lao động  nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh. Từ thực tế phân tích ở phần 2
(chương 2) em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
lao động tiền lương ở công ty như sau:
* Về lao động
- Nâng cấp đổi mới máy móc thiết bị để người lao động đưa nước từ sông ngòi
vào đồng ruộng và quay ngược lại từ đồng ruộng ra sông ngòi một cách nhanh nhất và
có hiệu quả, nhất thiết doanh nghiệp phải có một đội ngũ công nhân lành nghề, nhiệt
tình trong công việc.
- Công ty nên phân cấp quản lý lao động đến từng bộ phận, từng tổ đội sản xuất
nhằm nâng cao tình thần trách nhiệm của mỗi người lao động.
- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, khen thưởng và kỷ luật đối với mỗi công

- Nâng cao trình độ của những người lao động bằng cách đẩy mạnh công tác đào
toạ - học hỏi công nghệ khoa học kỹ thuật.
- Tổ chức phân bổ lại số lao động trong công ty cho phù hợp với trình độ và
chuyên môn, phải cân đối lại số lao động có chuyên môn kỹ thuật giữa cơ cấu đào tạo
đại học, cao đẳng, THCN và công nhân kỹ thuật để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
bằng nhiều biện pháp cần nhanh chóng nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên, phấn đấu
nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay là 18-20% sau 5 năm nâng lên 30%.
II. Những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục trong công tác quản lý
lao động, tiền lương
1. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý lao động tiền lương.
- Nhờ có công tác quản lý lao động một cách hợp lý mà công ty đã hoàn thành
xuất sắc những kế hoạch, chỉ tiêu đã đặt ra.
+ Xây dựng được nhiều trạm bơm vừa và nhỏ.
+ Đưa nước tưới, tiêu kịp thời vụ.
+ Thu hút nhiều công nhân làm việc nhiệt tình, tăng năng xuất lao động.
+ Việc tính và trả lương ở công ty đã thực hiện đúng nguyên tắc phân bố theo
lao động. Đây là bước quan trọng để tạo ra sự cân bằng trong xã hội nói chung và ở
công ty thuỷ lợi nói riêng.
+ Việc thanh toán lương ở công ty tiến hành kịp thời đã tạo ra đòn bẩy quan
trọng trong việc tăng năng xuất lao động.

2. Những tồn tại cần khắc phục trong công tác quản lý lao động tiền lương .
- Việc tổ chức công tác quản lý lao động, tiền lương ở công ty không có gì đáng
băn khoăn. Song công ty còn lưu ý về vấn đề phát huy hơn nữa vai trò phản ánh giám
đốc của quản lý trong công tác quản lý, nhằm không ngừng tăng năng xuất lao động,
tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho công ty. Đó chính là vai
trò quan trọng của quản lý trong việc điều hành và quản lý kinh doanh.
Trên đây là một số giải pháp đưa ra nhằm góp phần thực hiện công tác quản lý
lao động và tiền lương được tốt hơn song những giải pháp đưa ra ở đây chủ yếu chỉ tập
trung vào các mặt yếu kém của công tác quản lý tiền lương thì đi vào một số giải pháp

việc của công ty cũng không nhận được mức thù lao cao hơn, đây là điều bất hợp lý
trong cách trả lương của công ty.
* Định hướng của doanh nghiệp trong thời gian tới.
- Nguồn lao động.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm tới là đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy mà công ty KTCTTL- Mỹ Đức đang
xây dựng một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn hoá cao. Vì nhận biết được tầm
quan trọng của đội ngũ lao động là lực lượng cơ bản trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.
Dự tính đến năm 2005 số công nhân của công ty sẽ tăng gấp đôi so với số công
nhân hiện nay là 135 người. Số lượng lao động tăng phải quan tâm đến chất lượng
nguồn lao động, cơ cấu quy mô, chất lượng đào tạo thời gian lao động, năng xuất lao
động …. để thực hiện tốt những vấn đề này thì công ty cần đẩy mạnh công tác giáo dục
đào tạo người lao động giữ vai trò quyết định năng xuất hoạt động kinh doanh của công
ty.
- Việc đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo phải đi đôi với nhu cầu phát triển của
doanh nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế xã hội.
Tóm lại: Mục tiêu chiến lược trong thời gian tốt của công ty là đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng một nền tảng vững chắc cho công ty.
Do đó: Việc đào tạo và sử dụng nguồn lao động là một đòi hỏi tất yếu khách
quan, không có con đường nào khác là phải đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động ngay từ
bây giờ. Cần tạo cơ hội cho công nhân viên trong công ty có việc làm ổn định, có năng
suất, chất lượng, nâng cao thể chất và mức sống của người lao động, đồng thời giúp cho

người lao động nắm bắt được những thành tựu về khoa học, công nghệ và tri thức để
vận dụng vào sản xuất góp phần phát triển và tồn tại của công ty.
- Trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay tiền lương là giá cả, sức lao động
hay giá trị sức lao động, được biểu hiện bằng tiền đó là những chi phí để tái sản xuất
sức lao động.
- Để tiền lương đảm bảo tái sản xuất sức lao động cần thiết phải tính toán đầy đủ


Đảng uỷ
Công đoàn

Đoàn thanh
niên

Giám đ
ốc

Phó giám đốc
phụ trách kỹ
thu
ật

Phó giám đốc
phụ trách
hành chính

Cụm thuỷ
nông Quan
Sơn

Cụm thuỷ
nông Bạch
Tuy
ết

Cụm thuỷ
nông An Mỹ

ạm b
ơm áng
Thư
ợng

Tr
ạm b
ơm An M


Tr
ạm b
ơm Tân Đ


Tr
ạm b
ơm Xuy Xá

Tr
ạm b
ơm Phù Lưu
t
ế

Tr
ạm b
ơm B
ãi
Gi

i
ến

Trạm bơm Phú Yên
Tr
ạm b
ơm Đ
ốc Tín

Tr
ạm b
ơm H
ội Xá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status