LUẬN VĂN:
Thực trạng và những giải pháp cơ
bản để phát triển KTTT định
hướng XHCN
Lời nói đầu
Sau hơn 30 năm xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao
cấp, nền kinh tế nước ta đã rơi vào tình trạng trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân vô
cùng khó khăn. Từ thực tiễn đó Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng nền kinh tế
vận hành theo định hướng XHCN, gọi tắt là KTTT định hướng XHCN. Trong hơn 15
năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đời
sống của nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt. Trong lịch sử hàng nghìn năm của
mình, nước ta chưa bao giờ có bước phát triển nhảy vọt về kinh tế như vậy. Bên cạnh
những thành tựu to lớn ấy, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những vấn đề không
1.2. KTTT nói chung có những đặc điểm sau:
chịu sự chi phối của những quy luật vốn có của nền KTHH và những
phạm trù của nó vẫn phát huy tác dụng như: quy luật cung cầu; quy luật
giá trị; quy luật cạnh tranh ; hàng hoá ; tiên tệ,…
Các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao.
Giá cả thị trường do thị trường quy định là chủ yếu.
1.3. Lịch sử đã chứng minh KTTT hình thành và phát triển dưới CNTB:
Trong lịch sử phát triển loài người, sản xuất hàng hoá ra đời từ khi tan rã chế
độ công xã nguyên thuỷ, nó tồn tại và phát triển trong xã hội nông nô, trong xã hội
phong kiến và đạt đỉnh cao trong xã hội TBCN. Nhờ sử dụng các yếu tố kích thích
của nền KTTT mà CNTB đã đạt được những thành tựu cả về năng suất, chất
lượng hiệu quả và một số mặt về xã hội. Mặc dù còn nhiều khuyết tật, song CNTB
đã thật sự đạt được trình độ cao về kinh tế, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, cần
nhận thức rõ ràng rằng, KTTT là một trong những yếu tố của quá trình phát triển
xã hội, chứ không phải là cái gì đó riêng có của CNTB.
KTTT sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền không phải là vấn đề
hoàn toàn mới và càng không phải là xét lại chủ nghĩa Mác–LêNin. C.Mác đã viết: “ Cái xã hội mà chúng ta nói đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã
phát triển trên cơ sở của chính nó, mà trái lại nó là một xã hội cộng sản vừa thoát
thai từ xã hội TBCN, do đó là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức,
tinh thần – còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”. Chính V.I.Lê-
nin đã nhấn mạnh yêu cầu học tập phương thức kinh doanh TBCN. Người cho
rằng: “Chúng ta không hình dung một thứ chủ nghĩa xã hội nào khác hơn là chủ
nghĩa xã hội dựa trên cơ sở tất cả những bài học mà nền văn minh lớn của CNTB
thu được”. Một trong những bài học quan trọng nhất mà CNTB đã đạt được là
phát triển KTTT .
2.Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Phát triển KTTT là một sự lựa chọn đúng đắn.
KTTT không phải là sản phẩm riêng có của CNTB mà nó chỉ phát triển cao
dưới CNTB và nó vẫn tồn tại sau CNTB mà cơ sở của nó là :
Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản
xuất hàng hoá chẳng những không mất đi, mà trái lại còn được
phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Phân công lao động
trong từng khu vực, từng địa phương cũng càng ngày phát triển.
Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong
phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra
trao đổi trên thị trường .
Do sự tách biệt nhất định về kinh tế giữa các chủ thể kinh tế mà
biểu hiện là còn nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất. Đó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở
hữu hỗn hợp. Do đó các chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích riêng, nên
quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng
hoá - tiền tệ.
Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa
trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất , nhưng các đơn vị kinh
tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có
sự khác nhau về trình độ kỹ thuật – công nghệ, về trình độ tổ
chức quản lý, nên chi phí và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.
Quan hệ hàng hoá - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối
ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang
phát triển ngày càng sâu sắc, vì mỗi nước là một quốc gia riêng
biệt, là người chủ sở hữu đối với các hàng hoá đưa ra trao đổi
trên thị trường thế giới. Sự trao đổi ở đây phải theo nguyên tắc
ngang giá.
Như vậy, phát triển KTTT ở nước ta là một tồn tại tất yếu, khách quan, thì
đặc trưng bản chất sau:
1. Về mục tiêu phát triển KTTT :
Mục tiêu hàng đầu của phát triển KTTT ở nước ta là giải phóng sức sản xuất,
động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH , nâng cao hiệu quả kinh tế – xã
hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ
và công bằng xã hội, khuyến khích làm giầu hợp pháp, gắn liền với xoá đói giảm
nghèo. Hay nói cách khác, mục đích của phát triển KTTT là làm cho dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
2. Nền KTTT gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo.
KTTT TBCN luôn hoạt động trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, trong đó các công ty tư bản độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế. KTTT theo định hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường
của sự đa dạng các quan hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền
tảng của nền kinh tế quốc dân, với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Trong nền kinh tế nước ta tồn tại ba loại hình sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân ( gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư
nhân tư bản). Từ ba loại hình sở hữu cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh
tế, nhiều tổ chức sản xuất kinh doanh. Các thành phần kinh tế đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể , kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư
bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế nói trên tồn tại một cách khách quan và là
những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy,
phát triển nền KTTT nhiều thành phần là một tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như
vậy chúng ta mới khai thác được mọi nguồn lực kinh tế, nâng cao được hiệu quả
kinh tế, phát huy được tiềm năng của các thành phần kinh tế vào phát triển chung
nền kinh tế của các nước nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng lên của nhân
KTTT TBCN. Chúng ta lấy phát triển KTTT là phương tiện để đạt được mục tiêu
cơ bản xây dựng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Vì vậy, mỗi bước tăng trưởng kinh tế
ở nước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng
xã hội. Việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể có ý nghĩa
quan trọng để thực hiện mục tiêu đó.
4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà nước
XHCN.
KTTT luôn có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Về mặt tích cực, đó là cơ chế tự
điều tiết nền kinh tế rất linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển; nó có tác dụng kích
thích mạnh và nhanh sự quan tâm thường xuyên đến đổi mới công nghệ, công
nghệ quản lý, đến nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng; nó có tác dụng lớn trong
tuyển chọn các doanh nghiệp và cá nhân quản lý kinh doanh giỏi. Trên cơ sở đó,
KTTT kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển…. Về mặt tiêu cực,
trên thị trường chứa đựng tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối.
Vì chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất, kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả
xấu: môi trường bị huỷ hoại, khai thác cạn tài nguyên, tình trạng cạnh tranh không
lành mạnh, phá sản, thất nghiệp, phân hoá xã hội cao, lợi ích công cộng bị coi
nhẹ, các vấn đề công bằng xã hội không được đảm bảo, tệ nạn xã hội gia tăng,
thậm chí có người làm ăn bất hợp pháp, trốn lậu thuế, làm hàng giả. Cũng vì mục
tiêu lợi nhuận mà các nhà sản xuất, kinh doanh không đầu tư vào những ngành nghề có lãi ít. Để hạn chế những khuyết tật đó, đòi hỏi nhà nước phải quản lý nền
KTHH, KTTT.
Trong cơ chế thị trường TBCN , sự can thiệp của nhà nước luôn mang tính chất
tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm bảo đảm môi
trường kinh tế – xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền
vững của chế độ bóc lột TBCN . Trong cơ chế thị trường ở nước ta thì sự quản lý
đã lựa chọn.
5. Mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội
Trong sự phát triển của KTHH TBCN, vấn đề công bằng xã hội chỉ được đặt ra
khi mặt trái của cơ chế thị trường đẵ làm gay gắt các vấn đề xã hội, tạo ra nguy cơ
bùng nổ xã hội, đe dọa sự tồn tại của CNTB. Song, vấn đề đó không bao giờ và
không thể giải quyết được triệt để trong chế độ tư bản. Mục đích giải quyết các
vấn đề xã hội của các chính phủ tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ TBCN, chỉ
được xem là phương tiện để duy trì chế độ TBCN. Còn trong nền KTTT định
hướng XHCN ở Việt Nam, nhà nước chủ động giải quyết ngay từ đầu mối quan hệ
giữa tăng trưởng với công bằng xã hội. Sự tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công
bằng xã hội, khắc phục sự phân hoá xã hội thành hai cực đối lập. Vì vậy chúng ta
đang phấn đấu xoá đói giảm nghèo, khuyến khích làm giầu hợp pháp, thực hiện
phân phối công bằng: làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, xã hội phải tạo điều
kiện cho mọi người sử dụng hết khả năng lao động của mình. Tuy nhiên đây là
một quá trình phấn đấu lâu dài và đầy khó khăn.
6. Sự tăng trưởng kinh tế nước ta phải gắn liền với sự phát triển văn hoá và giáo
dục.
Phát triển KTHH gắn với nền kinh tế mở là tất yếu, nhưng trong quá trình đó,
bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, thì cũng có nguy cơ du nhập
những yếu tố văn hoá xa lạ với truyền thống, đặc điểm của dân tộc. Muốn giữ
được nền KTHH mang bản sắc văn hoá Việt Nam phải thực hiện có hiệu quả và
quản lý vĩ mô của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận lối
sống thực dụng và sự chi phối tất cả của đồng tiền, không chấp nhận hoạt động
thương mại hoá mọi hoạt động đời sống xã hội mà đề cao những chuẩn mực giá trị văn hoá và đạo đức, đồng thời đấu tranh xoá bỏ những tập tục và lối sống cổ hủ
lạc hậu. Kết hợp sự chọn lọc tinh hoa của văn minh nhân loại với sự giữ gìn những
yếu tố tinh tuý của văn hoá dân tộc, xây dựng những nhân tố văn hoá XHCN, làm
tăng nhanh sức sống nội sinh của dân tộc, biến yếu tố ngoại sinh thành nội sinh,
1.Thực trạng.
1.1 Trình độ phát triển nền KTTT ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai
Cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp, trong nhiều ngành kinh tế,
máy móc thì cũ kỹ, công nghệ lạc hậu. Theo UNDP, Việt Nam đang ở
trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2- 3
thế hệ. Lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động
xã hội. Do đó năng suất chất lượng, hiệu quả sản xuất còn rất thấp so với
khu vực và thế giới.
Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông bến cảng, hệ thống thông
tin liên lạc…còn lạc hậu kém phát triển.
Phân công lao động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm.
Nông nghiệp chiếm 70% lao động xã hội, nhưng chỉ sản xuất khoảng 26%
GDP, các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp.
Khả năng cạnh tranh kém, năng suất lao động thấp, khối lượng hàng hoá
ít, chủng loại nghèo nàn, chất lượng thấp,…
1.2. Thị trường chưa hình thành đồng bộ.
Hình thành đồng bộ các loại thị trường là yêu cầu khách quan của nền KTTT
định hướng XHCN. Đây là trung tâm của KTHH. Thực tiễn ở nước ta thời gian
qua cho thấy dù muốn hay không, một khi đã chấp nhận KTTT thì điều cốt lõi
nhất vẫn là phải có thị trường. Một khi đã chấp nhận sự hiện hữu của thị trường thì
phải có đầy đủ các loại thị trường. Tuy nhiên, trong nền KTTT ở nước ta thì thị
trường hình thành chưa đồng bộ và còn yếu kém:
- Thị trường chứng khoán: Vẫn còn quá non trẻ và nhỏ bé, nguồn cung ứng còn
rất hạn chế; tính chuyên nghiệp chưa cao, khung pháp lý còn thô sơ, thiếu
đồng bộ… - Thị trường lao động mới manh nha, nhiều người có sức lao động nhưng
không tìm được việc làm hay công việc không phù hợp với chuyên môn…
- Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp.
- Đến năm 2005 hình thành một bước thể chế KTTT định hướng XHCN
- Đến năm 2010 đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và chậm
phát triển.
- Đến năm 2020 KTTT định hướng XHCN được hình thành về cơ bản.
3. Những giải pháp cơ bản.
Để phát triển nền KTHH nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, cần phải thực hiện đồng bộ
nhiều gải pháp sau:
3.1. Thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần.
Đây là điều kiện cơ sở để thúc đẩy KTHH phát triển, nhờ đó mà sử dụng có
hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế, huy động những tiềm
năng to lớn còn bị phân tán của xã hội vào phát triển sản xuất. Để thực hiện tốt
chính sách này, một mặt phải thể chế hoá các quan điểm của Đảng thành pháp
luật, chính sách cụ thể để khẳng định sự phát triển KTHH nhiều thành phần là một
chính sách lâu dài, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta, để tạo môi trường pháp lý
cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế yên tâm làm lâu dài; mặt khác,
phải kiên quyết xử lý, ngăn chặn mọi hành vi lừa đảo, buôn lậu, làm hàng giả,…
nhằm bảo vệ sản xuất, kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp.
Trong những năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; phát
triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt;
khuyến khích kinh tế cá thể,tiểu chủ, phát triển ở cả thành thị và nông thôn.
3.2. Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Do đó, để phát triển KTHH phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Muốn vậy,
cần đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại. Phải gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại và tri thức mới, từng bước
phát triển kinh tế tri thức.
dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế , tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà
nước.
3.4. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển KTHH
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, mọi quốc gia muốn thúc đẩy phát
triển KHHH, KTTT phải hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Muốn vậy, phải đa
dạng hoá hình thức, đa phương hoá đối tác; phải quán triệt nguyên tắc đôi bên
cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và không phân biệt
chế độ chính trị – xã hội; phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của đất nước trong
quan hệ kinh tế quốc tế nhằm khai thác tiềm năng lao động, tài nguyên thiên
nhiên của đất nước, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý. Phải đẩy mạnh xuất
khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu
tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất. Đồng thời tăng tỷ lệ hàng
tinh, giảm tỷ lệ hàng thô, tăng hàm lượng chất xám trong hàng hoá.
3.5. Giữ vững hệ thống chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhan tố quan trọng đầu tiên để phát triển.
Nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm
đầu tư.Muốn giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay cần phải giữ và tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lý
của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý nền
KTHH nhiều thành phần. Nó tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế.
Buộc các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước.
3.6. Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản
lý kinh tế của Nhà nước.
Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, cần nâng cao năng
lực của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện cải cách nền hành
chính quốc gia. Nhà nước thực hiện định hướng sự phát triển kinh tế; có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho hoạt động kinh
(như đã đề cập) để phát triển nền kinh tế, đưa đất nước hội nhập vào khu vực và
thế giới.
Tài liệu tham khảo
1. GIáo trình kinh tế chính trị Mác- LêNin
2. Văn kiện đại hội Đảng lần thứ 9
3. Tạp chí Cộng Sản số 7(tháng5 năm 2004)
4. Giáo trình phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam – NXB Giáo Dục
5. Giáo trình phát triển các thành phần kinh tế – NXB Thống kê
6. Tạp chí phát triển kinh tế
7. Thời báo kinh tế các số năm 2004
8. Một số vấn đề về phát triển KTTT định hướng XHCN - NXB Thống kê.
Mục lục
Tiêu đề trang
2
4
6
7
7
89111212
13
13