LUẬN VĂN: Thực trạng cũng như những mặt được và chưa được của chương trình CPH ở nước ta trong thời gian vừa qua - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Thực trạng cũng như những mặt được và
chưa được của chương trình CPH ở nước
ta trong thời gian vừa qua

Lời nói đầu
Đại hội VI (năm 1986), tiếp đó là các Đại hội VII và VIII của Đảng đã đề ra
đường lối đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nước, trong đó đổi mới về kinh tế là nhiệm
vụ trọng tâm và đổi mới hệ thống doang nghiệp Nhà nước (DNNN) là khâu đột phá.

Nội dung
Phần 1: Một số vấn đề lý luận về Cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước

1.1. Sự ra đời và phát triển của Công ty Cổ phần trong Chủ nghĩa tư bản
Ngày nay trên thế giới khái niệm Công ty cổ phần không có gì là mới mẻ, nhưng
ở Việt nam không phải ai cũng hiểu thấu đáo được thế nào là một Công ty cổ phần. Để
góp phần làm sáng rõ khái niệm này chúng ta hãy cùng điểm qua vài nét về sự ra đời
và phát triển của Công ty cổ phần trong CNTB.
Hình thái sơ khai của Công ty cổ phần là doanh nghiệp có một chủ sở hữu tư
nhân độc lập. Đây là hình thái phổ biến thống trị trong nền sản xuất hàng hoá nhỏ và
trong giai đoạn đầu của CNTB cạnh tranh tự do. ở đó, sở hữu của người chủ tư nhân
được duy trì và phát triển bằng lao động của bản thân hoặc thuê mướn với vốn liếng
sẵn có và sự tính toán của người chủ sở hữu trên cơ sở những đòi hỏi của thị trường.
Mục đích phương thức kinh doang của những người sản xuất hàng hoá nhỏ chỉ là sự
duy trì và bảo toòn mối quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất như người chủ sở hữu.
Phương thức này có đặc điểm người sử hữu đồng thời là người lao động và người đó
chỉ có thể làm giàu bằng lao động của chính mình. Do vậy, sự phát triển sản xuất có
được rất chậm chạp, quy mô mở rộng từ từ tuỳ theo sự phát triển của thị trường của
từng địa phương và khu vực.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, lưu thông tiền tệ
cũng ngày càng phát triển cho phép đẩy nhanh và mở rộng quá trình trao đổi thanh
toán cũng như tích trữ tiền tệ như là hình thái và mục đích tự thân của sự vận động sở
hữu và điều đó góp phần làm thay đổi dần dần bản chất của phương thức kinh doanh
này. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa thì sự phân công lao động xã hội
ngày càng sâu sắc làm cho mối quan hệ giữa những người sản xuất ngày càng phụ
thuộc vào nhau. Trình độ phân công lao động xã hội phản ánh trình độ xã hội hoá sản

thành công ty cổ phần. Hợp tác xã (HTX) và Công ty chung vốn là 2 loại hình chủ yếu
của hình thái này.
Hợp tác xã là hình thái kinh doanh của những người sản xuất hàng hoá nhỏ nhằm
chống lại quá trình tan rã và phá sản của họ trước phương thức kinh doanh TBCN. Các
HTX chủ yếu là HTX tín dụng, HTX cung tiêu, HTX sản xuất từ chỗ thống nhất về
vốn liếng về mua và bán sản phẩm, dần dần loại hình HTX xâm nhập vào trong sản
xuất hình thành nên hình thái kinh doanh HTX như là sự thống nhất của quá trình tái
sản xuất: từ sản xuất đến lưu thông và huy động vốn. Trên cơ sở góp chung tư liệu sản
xuất, vốn liếng và sức lao động các HTX tiến hành kinh doanh theo nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng trong hưởng lợi và chịu rủi ro.
Do sự chi phối của chế độ tín dụng đang ngày càng phát triển thì hình thái kinh
doanh HTX ngày càng phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế TBCN. Hơn nữa, với tính
chất lỏng lẻo trong tổ chức, chỉ hoạt động trong 1 lĩnh vực nhất định, không chấp nhận
rủi ro nên không kinh doanh quy mô lớn. Do đó ít có cơ hội mở rộng sản xuất kinh
doanh nên bị thu hẹp về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Ngoài hình thái kinh doanh HTX của những người sản xuất nhỏ còn có hình thái
kinh doanh Công ty chung vốn của các nhà tư bản với mục đích giành chiến thắng
trong cạnh tranh, giảm sức ép của tín dụng ngân hàng và các hình thức vay mượn
khác. Đặc điểm chung của loại hình công ty này là góp vốn thiên về thân nhân, trách
nhiệm pháp lý vô hạn và cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản. Vì vậy, vào thời kỳ đầu
của sự phát triển phương thức sản xuất TBCN khi mà cạnh tranh còn đang thống trị thì
loại hình này rất được ưu chuộng, nó phản ánh một bước tiến của chế độ tín dụng. Tuy
nhiên sau này do trách nhiệm pháp lý không hạn chế trong lĩnh vực kinh doanh chung
vốn làm cho nó mang tính mạo hiểm quá cao, do đó rất khó khăn trong việc huy động
một số vốn lớn. Thêm nữa sự ràng buộc của nó hết sức lỏng lẻo có thể bị giải tán bất
cứ lúc nào nếu một người chung vốn muốn rút lui. Những hạn chế này làm cho hình
thái Công ty chung vốn cũng bị thu hẹp dần về những ngành kinh doanh nhỏ lẻ,
nhường chỗ cho các hình thức Công ty cổ phần ra đời.
Sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích
tụ và tập trung tư bản bằng việc đẩy nhanh quá trình tuần hoàn và chu chuyển các loại

nhân: còn các xí nghiệp của nó biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hội đối lập với những xí nghiệp tư nhân. Đó là sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân trong
khuân khổ của bản thân phương thức sản xuất TBCN”.
Công ty cổ phần mang những đặc điểm cho phép thích ứng với những đòi hỏi của
sự phát triển nền kinh tế thị trường mà các hình thái khác không thể đáp ứng được. Đó
là: xét về mặt pháp lý công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân
mà vốn do nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần, các cổ đông chỉ có trách
nhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong giới hạn số tiền mà họ đóng góp.
Trong trường hợp công ty bị phá sản thì họ chỉ mất số tiền đã đầu tư vào công ty mà
thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh doanh một chủ hoặc chung
vốn. Bằng cách bán cổ phiếu, trái phiếu cho những người có vốn muốn đầu tư để gia
tăng thu nhập, nó đã làm cho họ không e ngại những hậu quả tài chính sẽ xảy ra với
gia sản của mình. Xét về mặt huy động vốn: nó cho phép huy động một số vốn lớn
trong xã hội bằng cách có thể định giá cổ phiếu thấp để khai thác được cả những số
tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong công chúng. Việc mua cổ phiếu không những mang lại lợi
tức cổ phần mà còn hứa hẹn những khoản thu nhờ việc gia tăng giá trị cổ phiếu khi
công ty làm ăn có hiệu quả. Ngoài ra các cổ đông có quyền được tham gia quản lý theo
điều lệ của công ty và được pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ
đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn, thêm nữa cổ đông có quyền được ưu đãi
trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành trước khi chúng được đem bán rộng rãi
cho công chúng.
Do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý mà những người đóng vai
trò sở hữu trong công ty cổ phầnkhông trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức
năng đó cho bộ máy quản lý của công ty. Bản thân công ty được pháp luật thừa nhân
như một pháp nhân độc lập tách rời với các cá nhân góp vốn và kiểm soát nó. Nhờ đó,
công ty cổ phần tiến hành tất cả các hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của chính
mình và nhận trách nhiệm đến cùng với các cam kết tài chính của công ty.
Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần có Đại hội cổ đông - có quyền quyết

DNNN thường làm ăn kém hiệu quả, không có lãi. Lúc đó Nhà nước buộc phải có
chính sách tài trợ, bao cấp. Tài trợ là một sách lược luôn luôn cần thiết nhằm đảm bảo
cho các DNNN hoạt động tốt theo chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ.
Còn bao cấp là một việc không đáng làm, nó chỉ làm cho các doanh nghiệp ngày càng ỷ lại, thiếu tinh thần trách nhiệm mà Nhà nước lại phải bù lỗ. Trong điều kiện ngân
sách luôn thiết hụt thì đây thực sự là một gánh nặng nếu doanh nghiệp này thực ra là
không cần phải duy trì hình thức quốc doanh. Theo báo cáo của Ban đổi mới doanh
nghiệp Trung ương, năm 1996 tổng số nợ là 174.797 tỉ đồng, năm 1999 lên tới
199.060 tỉ đồng. Trong đó nợ phải trả là 126.366 tỉ đồng và nợ phải thu là 72.644 tỉ
đồng. So với tổng số vốn toàn bộ doanh nghiệp, số nợ phải thu chiếm tới 62% và số nợ
phải trả là 109%, trong khi khả năng thanh toán rất thấp, nợ quá hạn hoặc khó đòi
chiếm tỉ lệ không nhỏ đang là gánh nặng đối với nhiều DNNN. Nhiều doanh nghiệp
còn phải dựa vào sự bao cấp rất lớn của Nhà nước. Ngoài phần vốn đầu tư ban đầu khi
thành lập, hàng năm các doanh nghiệp còn phải vay tới 85% vốn Nhà nước với lãi suất
ưu đãi. Tuy nhiên vẫn có một số ít DNNN làm ăn có hiệu quả, phát triển được nhưng
tốc độ tăng trưởng không đều giữa các ngành và chưa tạo ra sự liên kết phát triển bền
vững.
Thông thường các DNNN có quy mô nhỏ bé và dàn trải vè ngành nghề. Đến nay
cả nước có khoảng 5.280 doanh nghiệp, bình quân mỗi doanh nghiệp chỉ có 22 tỉ đồng
(khoảng 1,5 triệu USD). trong đo số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỉ đồng (khoảng 350
nghìn USD) chiếm tới 65,45%, số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỉ đồng (trên 700 nghìn
USD) chỉ chiếm dưới 21%. Đặc biệt số doanh nghiệp do địa phương trực tiếp quản lý
quy mô còn nhỏ bé hơn nhiều, trong đó số doanh nghiệp có vốn dưới 1tỉ đồng (khoảng
70 nghìn USD) còn chiếm hơn 30%. Nhiều doanh nghiệp cùng loại thì hoạt động trong
tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và trên cùng một địa bàn
tạo ra sự cạnh tranh khônh đáng có. Do dàn trải về ngành nghề từ sản xuất đến thương
mại và dịch vụ, manh mún về vốn trong khi vốn đầu tư của Nhà nước rất hạn chế đã
gây chi phối xé lẻ các nguồn lực kể cả hoạt động quản lý của Nhà nước, không tập

21/4/1998, trong đó đã đề ra chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện và
quyết tâm thông qua đợt sắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp hợp lý
mạnh mẽ được quản lý tốt. CPH là một trong 4 nội dung quan trọng của quá trình đổi
mới sắp xếp (bao gồm: Đổi mới cơ chế quản lý DNNN; tổ chức lại, củng cố và hoàn
thiện Tổng công ty Nhà nước; CPH DNNN và áp dụng các hình thức giao, bán, khoán,
cho thuê những DNNN có quy mô nhỏ). 1.3.2. Cổ phần hóa là gì?
Qua CPH hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu nhà nước duy
nhất sang sở hữu hỗn hợp, và chính từ đâydẫn đến những thay đổi quan trọng về hình
thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty. DNNN sau khi
cổ phần hóa sẽ trở thành Công ty Cổ phần và hoạt động theo Luật Công ty.
Việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên
tắc quản lý kinh tế, nâng cao quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản lý trong sản
xuất kinh doanh, nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng như óc sáng tạo của người lao
động và người lãnh đạo.
1.3.3. Mục tiêu của cổ phần hóa
Với mục tiêu nhất quán của CPH một bộ phận DNNN là huy động vốn của toàn
xã hội để đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, tạo điều kiện cho người lao động thực
sự làm chủ doanh nghiệp, tạo động lực bên trong thay đổi phương thức quản lý nhằm
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tài sản và
thay đổi cơ cấu doanh nghiệp, thì CPH đang được coi là yêu cầu cấp bách của cải cách
DNNN cần tiến hành liên tục, có hiệu quả.
1.4. Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số nước.
Tuy nhiên qua kinh nghiệm một số nước ta thấy rằng CPH là quá trình vô cùng
khó khăn, phức tạp không thể thực hiện ào ạt thiếu thận trọng. Từ đầu thập kỷ 90 đã
diễn ra một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang
kinh tế thị trường ở Đông âu, Liên Xô (cũ) và một số nước Châu á, mà song song với
nó là quá trình cải cách các doanh nghiệp, trong đó có CPH. Nhìn chung các nước này

đều gặp phải đó là:
- Quan điểm về sở hữu
- Hệ thống Pháp luật
- Các công việc có tính chất chuyên môn của CPH
- Công tác hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện CPH
Vì thế , dù CPH một số DNNN là rất cần thiết nhưng không thể nóng vội, lại
càng không thể áp đặt những ý muốn chủ quan mà phải kiên trì, từng bước và tạo ra các tiền đề cần thiết để tiến trình CPH diễn ra thông suốt. Sự nghiệp CPH các DNNN
phải tính đến hàng chục năm chứ không thể làm song trong mấy tháng, mấy năm.
Phần 2: Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt nam
và thực trạng Cổ phần hoá
2.1. Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam.
Sớm nhận thức được tầm quan trọng cũng như sự nan giải trong tiến trình thực
hiện, chủ trươngCPH một bộ phận DNNN đã được Đảng và Chính phủ đặt ra từ đầu
những năm 1990 và chính thức triển khai từ giữa năm 1992 với những văn bản:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
(tháng 11/1991)đã ghi: “chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành
công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí
điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích
hợp”.
- Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá 7 (tháng1/1994)
chỉ rõ CPH nhằm thu hút thêm vốn cho doanh nghiệp.
- Nghị quyết Bộ chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chỉ đạo của
DNNN (số 10 NQ/TW) đã chỉ rõ: tuỳ tính chất loại hình doanh nghiệp mà tiến hành
bán một tỷ lệ cổ phần cho cán bộ công nhân viên và bán cổ phần cho tổ chức và cá

công ty cổ phần;
1. Nhà máy Xà phòng Việt nam (Bộ Công nghiệp).
2. Nhà máy Diêm Thống Nhất (Bộ Công nghiệp).
3. Xí nghiệp nguyên vật liệu chế biến thức ăn gia súc Hà nội (Bộ nông nghiệp).
4. Xí nghiệp chế biến gỗ lạng Long Bình (Bộ Nông nghiệp).
5. Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng (Bộ Thương mại).
6. Xí nghiệp Dệt da may Legamex (TP HCM).
7. Xí nghiệp sản xuất bao bì (TP HN). Sau một htời gian làm thử, 7 DNNN được Chính phủ chọn thí điểm đều xin rút,
hoặc không đủ điều kiện để tiến hành CPH như Legamex, Nhà máy Xà phòng Việt
nam v.v
Hơn 30 doanh nghiệp đã ký với Bộ Tài chính để thí điểm thực hiện CPH và 3
DNNN xin chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn theo chỉ thị số 84/TTg. Sau 4
năm thực hiện Quyết định 202/CT có 5 doanh nghiệp chuyển sang công ty cổ phần;
1. Công ty Cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộc Bộ Giao thông).
2. Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (TP HCM).
3. Công ty cổ phần Giầy Hiệp An ( Bộ Công nghiệp).
4. Công ty Cổ phần Chế biến hàng xuất khẩu Long An (tỉnh Long An).
5. Công ty Chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp).
Trong đó, doanh nghiệp đi tiên phong trong chủ trương CPH là Công ty Cổ phần
Đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộc Tổng Công ty Hàng hải), tiếp sau là Công ty Cổ
phần Cơ điện lạnh TP HCM. Hai Công ty này đã hoàn thành vịệc CPH và chính thức
hoạt động theo hình thức Công ty Cổ phần từ ngày 1/10/1993. Hai DNNN chuyển
thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn là Công ty dịch vụ Thương mại tổng hợp quận
Hồng Bàng (Hải Phòng) và Công ty Gạch Bông Đức Tân (TP HCM).
Sau 4 năm thực hiện đã đúc rút được một số kinh nghiệm để bổ sung và sửa đổi
chế độ về CPH, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ra Nghị quyết số 28/CP thay cho Nghị
quyết số 202/CT với những quy định cụ thể rõ ràng hơn. Thực hiện Nghị định 28/CP

doanh nghiệp quan trọng Nhà nước cần nắm cổ phần chi phối, còn lại cơ bản các
doanh nghiệp nhà nước khác đều chuyển thành Công ty Cổ phần.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nghị định số 44/CPlần này có những điểm mới,
thông thoáng, với những quy định cụ thể, chặt chẽ sát với thực tế cuộc sống, giải quyể
những băn khoăn thắc mắc thường vấp phải của nhiều doanh nghiệp khi tiến hành
CPH. Chẳng hạn như:
- Về đối tượng huy động vốn cổ phần không chỉ bó khung trong công nhân v
iên chức mà theo hướng mở rộng “huy động vốn toàn xã hội”. - Về nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp và giá trị thực tế của tài sản
doanh nghiệp trước khi tiến hành CPH. Để thực hiện Nghị định 44/CP Bộ Tài chính đã
có Thông tư 104/1998/TT-BTC hướng dẫ cách tính toán cụ thể giá trị thực tế của tài
sản doanh nghiệp và xác định lợi thế của doanh nghiệp qua tỷ suất lợi nhuận tính trên
vốn kinh doanh bình quân 3 năm trước khi CPH (chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế
của doanh nghiệp).
- Về chính sách ưu đãi đối với người lao động khi DNNN chuyển sang Công ty
Cổ phần được xác định tương đối cụ thể và thỏa đáng: mỗi năm làm việc người lao
động được mua tối đa 10 cổ phần (trị giá 100.000đ/cổ phần) với mức ưu đãi giảm giá
30% (tổng giá trị ưu đãi cho tập thể ngươgi lao động không vượt qúa 20 % tổng giá trị
vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước có vốn tích luỹ
trên 40% giá trị doanh nghiệp thì tổng giá trị ưu đãi cho tập thể người lao động không
vượt quá 30%). Đối với lao động nghèo trong doanh nghiệp được mua cổ phần ưu đãi
giảm giá 30% và trả dần trong 10 năm không phải chịu lãi (số cổ phần dành cho
người lao động nghèo mua trả dần không được vượt quá 20% tổng số cổ phần Nhà
nước bán theo giá ưu đãi).
Có thể nói việc giải quyết quyền lợi của người lao động trong DNNN được CPH
theo quy định của Nghị định 44/CP là tương đối hợp lý, hợp tình có tác dụng thu hút
người lao động tham gia tích cực vào CPH doanh nghiệp nhà nước.
2.2. Những thành tựu đạt được.

Ngày 20/7/2000, một trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên đã được đưa vào
hoạt động tại 45-47 Bến Chương Dương-Quận I -TP HCM. Thông qua thị trường chứng
khoán, đã có 4 Công ty niêm yết cổ phiếu đều có thể huy động thêm vốn ở trong và ngoài
nước thông qua việc phát hành cổ phiếu của mình. Vai trò của thị trường chứng khoán là
rất to lớn trong việc huy động vốn dùng trong sản xuất kinh doanh cần được phát triển,
nhưng thực tế cho thấy thị trường này ở nước ta từ khi thành lập đến nay luôn ở trong tình
trạng cung không đủ cầu. Có quá ít các công ty giao bán cổ phiếu của mình, lý do có thể
là hoạt động này còn quá mới mẻ ở nước ta hoặc các công ty sợ rằng bọn đầu cơ cổ phiếu
có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên họ không dám
mạo hiểm. Điều này đã làm cho hoạt động của thị trường chứng khoán trở nên kém sôi
động, không hấp dẫn các nhà đầu tư. Chính vì thế mà vai trò của thị trường chứng khoán cũng bị lu mờ. Một số giải pháp cũng đã được đưa ra, trong đó có xem xét việc Chính phủ
bán cổ phiếu của mình hay không. Nhưng đây là một vấn đề nhạy cảm nên cần được cân
nhắc kỹ lưỡng và tiếp tục nghiên cứu tìm kiếm phương thức tối ưu.
- Về đổi mới phương thức quản lý kinh tế và hiệu quả sản xuất kinh
doanh:Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần do có Hội đồng Quản trị và cao hơn
là Đại hội Cổ đông nên hoạt động tài chính của doanh nghiệp thường xuyên được giám
sát. Lợi ích của doanh nghiệp được gắn chặt với lợi ích của cổ đông nên người lao
động trong doanh nghiệp là những chủ nhân thực sự. Cũng thông qua Đại hội Cổ đông
và Hội đồng Quản trị trí tuệ tập thể đã được phát huy, nhờ đó mà phương thức quản lý
kinh tế không ngừng được đổi mới cho phù hợp với tình hình biến động của nền kinh
tế xã hội.
Theo thống kê của Ban đổi mới quản lý Trung ương, các doanh nghiệp sau CPH đều
làm ăn có hiệu quả. Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, tích luỹ vốn đều tăng.
- Về doanh thu: bình quân các doanh nghiệp đều tăng gấp 2 lần so với trước khi
CPH. Điển hình là Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh đã phát triển vượt bậc trong năm
1999 doanh thu đạt 478 tỷ đồng, gấp gần 4 lần so với trước khi CPH là 46 tỷ đồng.
Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết năm 1999 đạt doanh số 86 tỷ đồng, gấp 1.5 lần so

chuyển đạt 4trđồng/người/tháng, gấp gần 3 lần so với trước khi CPH.
Được làm việc trong môi trường và cơ chế mới người lao động đã thực sự gắn lợi
ích của mình với lợi ích của doanh nghiệp; tự giác, tổ chức kỷ luật, chủ động, sáng tạo,
tiết kiệm đó chính là những yếu tố góp phần nâng cao hiệu qủa sản xuất, mang lại lợi
ích thiết thực cho bản thân, công ty, Nhà nước và xã hội.
2.3. Những mặt chưa được và nguyên nhân.
Tuy nhiên theo đánh giá chung thì việc triển khai thực hiện còn chậm và không
đồng đều giữa các ngành, các địa phương, các Tổng Công ty Nhà nước; kết quả dạt
được mặc dù có tính thuyết phục cao nhưng chưa tạo thành sứ bật lôi kéo phong trào
CPH đi lên. Tình hình trên có thể do nhiều nguyên nhân gây ra song một số nguyên
nhân chủ yếu thể hiện trên các vấn đề sau:
- Cổ phần hoá DNNN là công việc mới mẻ, phức tạp, vì vậy việc nghiên cứu các
cơ chế chính sách CPH còn chậm chạp. Các văn bản ban hành thiếu đồng bộ, quy trình triển khai phức tạp, còn nhiều mặt chưa hợp lý. Như các văn bản pháp quy về thực
hiện chủ trương khống chế tỷ lệ mua cổ phần của các cán bộ quản lý và cá nhân trong
lần mua đầu tiên đã làm giảm nhiệt tình và niềm tin của người lao động; thủ tục pháp
lý về nhà xưởng, đất đai, xác định giá trị doanh nghiệp còn rườm rà, mất nhiều thời
gian, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thuộc các Bộ, Tổng Công ty 91. Đồng thời,
trong thời gian dài chậm quy định phạm vi DNNN được CPH, chưa đề ra mục tiêu
CPH hàng năm để phấn đấu thực hiện.
- Chưa có môi trường thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Một số nơi coi
công ty cổ phần là doanh nghiệp ngoài quốc doanh nên không được ưu ái như DNNN.
Mặt khác, do Luật Công ty trước đây và Luật Doanh nghiệp Nhà nước đều chưa quy định
rõ vai trò quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp đa sở hữu có vốn nhà nước góp, nên
mỗi nơi vận dụng theo nhận thức riêng, khônh thống nhất.
- Về nhận thức: Do CPH đụng chạm đến lợi ích, bao gồm cả lợi ích cục bộ của
ngành, đơn vị và cả lợi ích cá nhân, thêm nữa là thói quen trì trệ thích yên ổn, ngại
thay đổi nên không ít Tổng Công ty ngần ngại chỉ đạo triển khai CPH vì e rằng khi

CPH.
Tiếp theo Quyết định số 51/2000/QĐ-TTg, ngày 7/7/2000, Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 80/2000/QĐ-TTg về giao chỉ tiêu CPH và đa dạng hoá hình thức
sở hữu doanh nghiệp năm 2000. Theo Quyết định, này năm 2000 sẽ có 692 DNNN
được chuyển hình thức sở hữu. Trong 3 năm từ năm 2000 - 2002 dự kiến sẽ CPH, đa
dạng hoá sở hữu 1.673 DNNN chiếm 73,7% trong tổng số 2.280 DNNN thuộc diện
phải sắp xếp lại trong thời gian này. Số lao động hiện đang làm việc trong các doanh
nghiệp dự kiến CPH trong 3 năm 2000 - 2002 là 311.977 người, bằng 72.7% tổng số
lao động trong các doanh nghiệp thuộc diện phải sặp xếp thời kỳ này và chỉ bằng 1.9%
tổng số lao động đang làm việc tại 5.280 DNNN hiện nay. Về qui mô, các doanh
nghịep thuộc diện sắp xếp nói chung cũng như thực hiện CPH, giao, bán, khoán, cho
thuê nói riêng đa phần là doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ. Số doanh nghiệp nhà nước
có vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 75% và thuộc những ngành Nhà nước không cần nắm
giữ. Qua đây, Đảng và Nhà nước đã khẳng định quan điểm CPH theo định hướng xã
hội là: CPH là sự kết hợp giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân chứ không phải là
tư nhân hoá hoàn toàn, hơn nữa Nhà nước vẫn duy trì hình thức quốc doanh đối với
một số doanh nghiệp đặc biệt có vai trò quan trọng. Để đảm bảo mục tiêu CPH như
mục tiêu đã định, trong thời gian tới chúng ta cần làm tốt một số việc sau đây:
- Do trong CPH cũng có tư nhân hoá nên việc bán cổ phần cho các cá nhân là tất
nhiên, do đó cần qui định tỷ lệ cổ phần bán cho người nước ngoài cho phù hợp để thu
hút tối đa nguồn lực cho phát triển kinh tế.
- Các cấp các ngành, các doanh nghiệp nhà nước cần quán triệt sâu sắc và có nhận
thức đầy đủ, đúng đắn về chủ trương, chính sách, các giải pháp đổi mới và phát triển
DNNN với tiến trình cụ thể cho từng năm của Chính phủ, từ đó triển khai thực hiện với
phương trâm tích cực, vững chắc, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt.
- Tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, trước hết là trong các DNNN về các chủ
trương CPH với những sửa đổi bổ sung về chế độ khuyến khích tạo sự quan tâm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status