LUẬN VĂN: Tổng quan thị trường chứng khoán cũng như tình hình thực tế CK của Việt Nam trong 2 năm qua - Pdf 11


LUẬN VĂN:
Tổng quan thị trường chứng khoán
cũng như tình hình thực tế CK của
Việt Nam trong 2 năm qua
Lời mở đầu
Một sự kiện kinh tế nổi bật mang nhiều ý nghĩa chính trị, xã hội diễn ra trên đất
nước ta sau hơn 10 năm đổi mới đó là việc vào tháng 7 năm 2000 bắt đầu sự vận hành
của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, với việc khai trương hoạt động của
trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) tại thành phố Hồ Chí Minh.

bTrái phiếu
Là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ (gốc và lãi) của tría chủ đối với người
phát hành (nó có thể dưới hình thức giấy tờ hay ghi trên hệ thống điện tử) do các công
ty, tổ chức hay chính phủ trung ương, địa phương phát hành.
c.So sánh cổ phiếu và trái phiếu
Một công ty có nhiều cách để huy động vốn, có thể vay vốn ngân hàng hoặc phát hành
cổ phiếu hay trái phiếu. Cổ phiếu hay trái phiếu có thể bao gồm nhiều loại khác nhau,
tuy nhiên những điểm khác nhau cơ bản giữa cổ phiếu và trái phiếu được phân biệt
như sau:
Xét về phía các nhà đầu tư: C
ổ phiếu

Trái phi
ếu

V
ốn gốc (giá trị ban
đ
ầu)

Không đư
ợc
đ
ảm bảo, giá
cả biến động
Nói chung đư
ợc

xác định vào lúc phát
hành
Quy
ền tham gia vào quản
V
ới mỗ
i c
ổ phần là một
Tr
ả khi công ty bị phá
lý kinh doanh

phi
ếu bầu, cổ
đông có th

tham gia vào các quyết
định của công ty tại Hội
đồng cổ đông
s
ản, không
đư
ợc tham gia
vào quản lý công ty
Xét về phía các nhà kinh doanh:

C

tham gia vào quản lý
công ty, tuy nhiên không
thể bỏ qua ý kiến của
người giữ trái phiếu (trên
thực tế)
Ho
ạt
đ
ộng kinh doanh

Của công ty
Ti
ền cổ tức do
đ
ại hội
đồng cổ đông quyết định.
Trương hợp hoạt động
của công ty không ổn
định, không nhất thiết
công ty phải chia tiền cổ
tức
Dù vi
ệc kinh doanh của
công ty như thế nào thì
vẫn phải trả lãi và vốn
gốc theo các điều kiện
được quy định khi phát
hành.
Theo mức độ giảm dần của khả năng thanh toán và mức độ tăng dần của rủi ro, trật tự
các loại chứng khoán được xếp như sau:

lượng cổ phiếu mà cổ đông nắm càng nhiều, quyền lợi sở hữu của anh ta trong công ty
càng lớn. Đôi khi, một công ty cổ phần có thể phát hành nhiều loại cổ phiếu thường
khác nhau như loại A và B. Hai loại này có một số điểm khác nhau. Một loại cổ phiếu
có thể nhận được cổ tức lớn hơn loại kia. Ngoài ra, nếu công ty bị thanh lý thì một loại
có thể nhận được phần tài sản nhiều hơn loại kia.
Các quyền của cổ đông có cổ phiếu thường: Người sở hữu cổ phiếu thường thông
thường được hưởng một số quyền lợi nhất định như sau:
Quyền bỏ phiếu bầu Hội đồng quản trị
Quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phiếu
Quyền bỏ phiếu cho các bấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ công ty
Quyền kiểm tra sổ sách của công ty
Quyền được chia tài sản khi công ty thanh lý hay giải thể
Mệnh giá của cổ phiếu thường: Hầu hết các công ty cổ phần ấn định mệnh giá
cho mỗi cổ phiếu thường và mệnh giá thường được in trên ác tờ cổ phiếu. Mệnh giá cổ
phiếu không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Mệnh giá thể hiện tầm quan
trọng duy nhất của nó vào thời điểm cổ phần đầu tiên được phát hành
Giá thị trường của cổ phiếu thường: Khi cổ phiếu bán ra công chúng, giá của
nó được xác định bởi giá mà các nhà đầu tư mua nó, giá này được gọi là giá thị trường,
nó phụ thuộc vào sự tin tưởng của nhà đầu tư với công ty phát hành.
Trên thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải là công ty ấn định và cũng
không phải do một người nào đó quyết định. Giá thị trường của cổ phiếu được xác
định bởi giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá cao nhất mà nguươì mua
sẵn sàng mua nó.
Cổ phiếu ưu đãi:
Cổ phiếu ưu đãi cũng thể hiện quyền lợi sở hữu trong một công ty. Nó được gọi
là cổ phiếu ưu đãi vì những cổ đông nắm loại cổ phiếu này được hưởng một số ưu đãi
hơn so với những cổ đông thường. Những cổ đông ưu đãi có thể có quyền nhận cổ tức

loại chứng khoán khác của chính công ty đó. Công thức để thực hiện việc chuyển đổi
cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi sang cổ phiếu thường do công ty quy định tại thời
điểm cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi được phát hành.
Chứng khoán ngân quỹ: Vì nhiều lý do, công ty mua về những cổ phần mà họ đã phát
hành mà hiện tại do công ty đó sở hữu được gọi là các chứng khoán ngân quỹ, nó
không có quyền bỏ phiếu và không được nhận cổ tức.
Chứng khoán trôi nổi: Là tổng số các chứng khoán đã được phát hành trừ đi số chứng
khoán đã được công ty mua lại (chứng khoán ngân quỹ). Các chứng khoán trôi nổi có
quyền nhận cổ tức và có quyền bỏ phiếu.
Trái phiếu:
Đặc điểm của trái phiếu:
Mệnh giá: trên bề mặt của trái phiếu, thường công bố số tiền mà người phát hành cam
kết trả cho người có trái phiếu. Số tiền này được gọi là mệnh giá của trái phiếu.
Ngày đáo hạn: ngày đáo hạn cũng được ghi trên bề mặt trái phiếu. đây là ngày người
phát hành trái phiếu sẽ thanh toán mệnh giá cho người có trái phiếu. Kỳ hạn của trái
phiếu rất đa dạng, có thể lên tới 30 năm hay hơn nữa.
Lãi suất: lãi suất được công ty công bố theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá trái phiếu.
Mặc dù lãi suất được tính theo hàng năm nhưng nó được thanh toán nữa một năm một
lần.
Phân biệt theo tiêu thức người phát hành. Có hai loại trái phiếu là trái phiếu công ty và
trái phiếu chính phủ:
Trái phiếu công ty:
Trái phiếu vô danh: Tên trái chủ của trái phiếu vô danh không được đăng khí tại công
ty phát hành. Trái phiếu này được thanh toán cho những ai mang nó, tức là người chủ
sở hữu trái phiếu đó. Trái phiếu vô danh có gắn các cuống phiếu trả lãi, trái chủ xé một
cuống phiếu vào ngày trả lãi và gửi cho đại lý của công ty cổ phần để thanh toán.
Trái phiếu ghi tên: Tên của trái chủ được đăng kí tại công ty phát hành. Người có trái

kho bạc nhà nước. Trái phiếu chính phủ có thể là ngắn hạn, trung và dài hạn.
Kì phiếu kho bạc ngắn hạn: Phổ biến nhất là các loại 3 tháng và 6 tháng, các kỳ phiếu
ngắn hạn là những công cụ chiết khấu và thường không có mức lãi suất cố định. Các kì
phiếu ngắn hạn thường được mua bằng một số tiền và người mua sẽ nhận được một số
tiền lớn hơn (bằng mệnh giá) khi đến hạn. khoản chênh lệch giữa hai số tiền trên gọi là
khoản chiết khấu, lãi suất thu được chính là lãi suất chiết khấu.
Trái phiếu kho bạc trung và dài hạn: Các trái phiếu kho bạc trung và dài hạn là các
công cụ có kỳ hạn dài hơn kỳ phiếu kho bạc. Trái phiếu trung hạn được phát hành với
thời gian đáo hạn từ một năm đến 10 năm. trái phiếu dài hạn được phát hành từ 10 đến
30 năm. Các trái phiếu trung và dài hạn có mức lãi suất cố định và được trả lãi trên cơ
sở nửa năm. những công cụ này được tính toán trên cơ sở 1 năm 365 ngày ( mà không
phải là 360 ngày như đối với các kì phiếu ngắn hạn và các công cụ khác)
Trái phiếu địa phương: Kì phiếu địa phương ngắn hạn: các chính quyền địa phương
phát hành những công cụ ngắn hạn để ứng trước nhu cầu về vốn. Những công cụ này
được gọi là kì phiếu, thường có kì hạn 6 tháng hoặc ít hơn. các kì phiếu được phát
hành trên cơ sở dự tính trước các khoản thuế gọi là kì phiếu ứng trước thuế. Các loại
phát hành dựa trên dự tính thu nhập tương lai gọi là kì phiếu ứng trước thu nhập. Các
kì phiếu ứng trước đợt phát hành trái phiếu mới gọi là kì phiếu ứng trước cho phát
hành trái phiếu. Trái phiếu địa phương trung và dài hạn thường có một số đặc điểm
sau:
Trái phiếu trách nhiệm chung: được bảo đảm bằng năng lực thu thuế của chính
quyền địa phương.
Trái phiếu bảo đảm bằng thuế cụ thể: được bảo đảm bằng một loại thuế nhất
định của địa phương.
Trái phiếu thu nhập: được bảo đảm bằng thu nhập từ dự án xây dựng bằng tiền
bán trái phiếu. thành các tổ chức phi lợi nhuận do các thành viên sở hữu. Tuy nhiên, hội đồng quản trị
của SGDCK, bên cạnh những thành viên do công ty thành viên cử ra vẫn có một số
thành viên do chính phủ đề cử.
Là thành một công ty cổ phần, do các công ty thành viên, các ngân hàng và cả các tổ
chức không phải là thành viên sở hữu.
Là một tổ chức do chính phủ sở hữu: Có một vài nước trong những giai đoạn
lịch sử nhất định, SDGCK do chính phủ sở hữu (như trường hợp của Hàn Quốc).
Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất. Hình thức này
cho phép SGDCK có quyền tự quản ở mức độ nhất định, tính hiệu quả và sự nhanh
nhạy trong vấn đề quản lý tốt hơn các hình thức khác. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng
yên tâm hơn so với hình thức do chính phủ sở hữu. Tuy nhiên trong những hoàn cảnh
lịch sử nhất định, việc chính phủ đứng ra sở hữu và quản lý SDG sẽ cho phép ngăn
ngừa sự lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở hữu thành viên chưa đựoc bảo vệ
bằng hệ thống pháp lý đầy đủ, rõ ràng.
Số lượng sở giao dịch chứng khoán:
Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước, số lượng các thị trường tập
trung có khác nhau:
Bảng dưới đây sẽ minh hoạ số lượng thị trường của một số nước:

ớc S
ố l
ư
ợng


8

1

0

Nh
ật

81

Hàn Qu
ốc

1

1 (1996)

1(9187)

H
ồng Kông

1

1


1

1

Xinggapo

11

Ba Lan

1
Trung Qu
ốc

21 (1991)

úc

1

2

họ có thể mua, bán chứng khoán với tư cách là người môi giới hoặc với tư cách chính
chủ. Với tư cách người tạo thị trường, công ty có thể bán cho khách hàng chứng khoán
dự trũ của họ hoặc mua chứng khoán từ khách hàng cho tài khoản của riêng họ. Với tư
cách là người môi giới, công ty có thể mua bán chứng khoán với một nhà tạo thị
trường khác. Dù hoạt động với tư cách nào đi nữa, nhà môi giới giao dịch cũng phải
nói rõ cho khách hàng biết họ đang thực hiện lệnh của khách hàng với tư cách gì.
Khi hoạt động với tư cách người môi giới hay đại diện, công ty phải công bố mức hoa
hồng mà họ đòi hỏi. Khi giao dịch cho mình, một nhà môi giới – giao dịch cố gằng thu
lợi nhuận bằng thao tác nâng giá (mark up) hay giảm giá (mark down). Mark up là
khoản chênh lệch giữa mức giá mà công ty trả để mua một chứng khoán và mức giá
mà công ty đòi ở khách hangf mua chứng khoán đó. Ngược lại, nếu khách hàng là
người bán của công ty và mức giá mà nó thực tế trả cho khách hàng.
3. Những ưu, nhược điểm của thị trường chứng khoán
a.Ưu điểm
Tất cả các nước trên thế giới đều ưu tiên vào việc tăng cường sức mạnh cho nền
kinh tế qua việc thúc đẩy vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán trong quá
trình này, và cũng không có nền kinh tế thị trường nào phát triển thịnh vượng mà
không có vai trò của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán cũng cho phép hoạt động đầu tư trực tiếp dài hạn qua
việc thị trường chứng khoán có thể thoả mãn các nhu cầu đối ngược nhau của các nhà
đầu tư bằng việc tạo khả năng thanh khoản coa. Hơn nữa sự tồn tại của thị trường
chứng khoán là yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì các nhà đầu tư
nước ngoài thường cân nhắc liệu thị trường chứng khoán nước đó hoạt động tốt hay
không như một yếu tố quan trọng để đưa ra quyết định đầu tư.
Thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện cho việc cổ phần hoá các doanh nghiệp
nhà nước bằng việc tạo ra cho chính phủ và các nhà đầu tư mức giá chuẩn của các cổ
phiếu được bán ra cho công chúng. Thị trường chứng khoán hỗ trợ định giá cổ phần

ngột nhằm mua bán hưởng lợi bất hợp pháp.
Một số người nói tằng thị trường chứng khoán như các sòng bạc. ý nghĩ này được xuất
phát có lẽ căn cứ vào mặt trái của thị trường chứng khoán. kho hệ thống pháp lý và hệ
thống giám sát không có hiệu quảm hệ thống kinh doanh kém và yếu sẽ là môi trường
cho việc đầu cơ, mua bán nội gián, Tuy nhiên, có thể nói thị trường chứng khoán
mang lại nhiều ưu điểm hơn nhược điểm.
II.Một số vấn đề chung về thị trường chứng khoán ở Việt Nam
1.Những thuận lợi cơ bản và thách thức trên con đường xây dựng và phát triển
thị trường chứng khoán ở nước ta
a.Những tiền đề và thuận lợi cơ bản.
Thuận lợi cơ bản đầu tiên là chúng trái phiếu có hệ thống chính trị ổn định. Sau nhiều
năm đổi mới Việt Nam đã thu được những thành quả hết sức phấn khởi. Thu nhập và
mức sống của mọi tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt.
Nền kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ cao: bình quan hơn 8 - 9 % trong
nhiều năm qua, theo dự báo mới nhất của ADB thì khả năng tăng trưởng kinh tế trong
2 năm tới của nước trái phiếu cũng sẽ cao nhất trong khối ASEAN. Đây là tiền đề
quan trọng để nảy sinh ra nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và đủ điều kiện để
phát hành chứng khoán.
Chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế của Đảng và
nhà nước đang giải phóng mọi năng lực sản xuất, kinh doanh, huy động mọi nguồn
vốn cho phát triển sản xuất và thị trường vốn theo đó mà phát triển và là tiền đề cơ bản
cho thị trường chứng khoán.
Đảng và chính phủ có quyết tâm rất cao trong việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước và thực hiện chính sách cổ phần hoá nói chung. Đây là việc làm vừa hợp ý Đảng
vừa hợp lòng dân và là điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy thị trường chứng khoán
phát triển. Tuy nhiên sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng là yếu tố quan
trọng đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá.

động kém hiệu quả của doanh nghiệp. Họ sợ mất quyền, mất vị trí. Bên cạnh đó, cơ
chế cổ phần hoá chưa đầy đủ và đồng bộ. Quy trình, định giá tài sản, chính sách ưu đãi
cho xí nghiệp cổ phần hoá, chế độ với người lao động chưa thoả đáng như vấn đề cấp
không cổ phần cho người lao động. Chúng ta cũng chưa có danh mục cụ thể cho ngưòi
lao động và các công ty cổ phần, chỉ chú trọng cổ phần hoá các doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ. Thông tin công khai của doanh nghiệp cổ phần cũng hạn chế, kém tin cậy,
chưa chiếm được lòng tin của người đầu tư.
Số công ty hội đủ các điều kiện để phát hành chứng khoán chưa nhiều: làm ăn
hiệu quả, ổn định, chấp nhận phát hành chứng khoán rộng rãi ra công chúng, chấp
nhận công khai hoá thông tin. Gần đây có một số ngân hàng thương mại có phát hành
trái phiếu nhưng vẫn không chịu công khai hoá thông tin. ít có các dự án lãi suất cao,
hấp dẫn người đầu tư. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, công ty Việt Nam
trên trường quốc tế chưa cao.
Thu nhập của đại bộ phận nhân dân lao động thấp nước trái phiếu vẫn là một trong
những nước có GDP bình quân đầu người thấp nhất thế giới, bởi vậy kho cổ phần hoá
doanh nghiệp ít có người có tiền để mua cổ phiếu.
Tập quán thanh toán bằng tiền mặt vẫn phổ biến trong dân chúng và ngay đối
với các doanh nghiệp. Hệ thống thanh toán qua các ngân hàng còn yếu.
Đội ngũ cán bộ quản lý điều hành thị trường chứng khoán còn non trẻ, thiếu cả về số
lượng, kinh nghiệm và kiến thức nghiệp vụ, chưa được huấn luyện nhiều.
Hệ thống pháp luật của trái phiếu còn thiếu, chưa đồng bộ và đang trong quá
trìnhphát triển và hoàn thiện dần. Chưa có khung pháp chế và biện pháp hữu hiệu để
bảo vệ người đầu tư.
Hệ thống kiểm toán, kế toán thống kê tuy đã có những tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu của thị trường chứng khoán cả về số lượng lẫn chất lượng, chưa xây
dựng được thành hệ thống có chuẩn mực quốc tế. Chất lượng thông tin chưa cao, độ
tin cậy thấp.

Hoạt động của các công ty niêm yết:
Hoạt động của các công ty kể từ khi niêm yết cổ phiếu trên TTGDCK Tp.HCM
cho thấy có những chuyển biến tốt. Do áp lực của cạnh tranh, công khai thông tin, nên
các công ty này đã có những tiến bộ trong việc điều hành quản lý mở rộng sản xuất,
kinh doanh. Các công ty niêm yết đều có tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu và lợi
nhuận. Doanh thu năm 2000 tăng 25 – 36%, lợi nhuận tăng 16%-20%. Các công ty
niêm yết bắt đàu làm quen với TTCK và bước đầu đã thực hiện được những quy định
công bố công khai thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh tế tài chính của
mình ra công chúng.
b.Giao dịch, đăng kí, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán khối lượng giao
dịch
Tính đến ngày 28/72001, TTGDCK Tp.HCM đã thực hiện được 151 phiên giao
dịch, với 14,2 triệu cổ phiếu và trên 500 nghìn trái phiếu, đạt tổng giá trị giao dịch 727
tỷ đồng, trong đó giao dịch cổ phiếu chiếm 90%. Thị trường cổ phiếu hoạt động sôi
động thu hút được đông đảo nhà đầu tư quan tâm. Nếu như giá trị giao dịch thời kì đầu
là 1 tỷ đồng/phiên, thì trong thời gian gần đây, giá trị giao dịch dao động trong khoảng
8 đến 15 tỷ đồng/phiên.
Đến nay có 5 loại trái phiếu chính phủ và 2 loại trái phiếu công ty được niêm yết và
giao dịch trên thị trường. Tổng khối lượng trái phiếu được giao dịch trong 1 năm tính
đến ngày 28/7/2001 là 593 nghìn trái phiếu, trong đó giao dịch thoả thuận chiếm
87,5% tổng giao dịch, giá trị giao dịch trên thị trường là 68,7 tỷ đồng.
Giá cả và giá thị trường:
Thị trường có xu hướng tăng giá liên tục do mất cân đối lớn về cung – cầu. Giá các
loại cổ phiếu tăng từ 4 đến 7 lần so với giá của phiên giao dịch đầu tiên. Trong đó cao
nhất là cổ phiếu TRANSIMEX tăng 7 lần và thấp nhất là cổ phiếu SACOM tăng 4 lần.
Chỉ số Vn-Index lên đỉnh cao 571 điểm. Giá trị thị trường của 6 loại cổ phiếu đạt
2.031 tỷ đồng (tính theo giá đóng cửa ngày 27/7/2001). Giá của các trái phiếu ít có sự

hiểu biết về lĩnh vực mới mẻ này.
c.Điều hành của TTGDCK Tp.HCM
Các hoạt động của TTGDCK Tp.HCM nhằm vào việc điều hành hoạt động giao dịch,
hoạt động lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ và giám sát hoạt động công bố thông
tin. Qua 151 phiên giao dịch, hệ thống giao dịch đã hoạt động trôi chảy, không có các
sự cố xảy ra. TTGDCK Tp.HCM đã đảm bảo đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ cho
các cổ đông, theo dõi tình hình mua bán và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của thành viên Hội
đồng quản trị và cổ đông lớn.
Trung tâm đã thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc tổ chức niêm yết nộp đầy đủ các báo
cáo định kỳ, báo cáo không định kỳ, yêu cầu tổ chức niêm yết lập qui trình công bố
thông tin nội bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin, chấn chỉnh các
thiếu sót trong hoạt động công bố thông tin của các tổ chức niêm yết. Đối với các
thành viên, TTGDCK Tp.HCM đã giám sát tình hình thay đổi nhân sự, nhân viên kinh
doanh thiếu giấy phép hành nghề, tình hình mở chi nhánh, đại lý nhận lệnh. Tuy nhiên,
trong công tác điều hành của TTGDCK Tp.HCM một số mặt còn lúng túng nhất là
khâu giám sát thị trường và hoạt động công bố thông tin.
d.Công ty chứng khoán và các định chế trung gian tài chính
Công ty chứng khoán
Cho đến nay đã có 8 công ty chứng khoán được UBCKNN cấp giấy phép hoạt
động đó là:CtyCP chứng khoán Bảo Việt, CtyTNHH chứng khoán Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam, CtyCP chứng khoán Sài Gòn, CtyCP chứng khoán Đệ Nhất,
CtyTNHH chứng khoán Thăng Long, Cty TNHH chứng khoán ABC, CtyTNHH
chứng khoán Ngân hàng Công thương và CtyTNHH chứng khoán Ngân hàng Nông
nghiệp.
Khi mới đi vào hoạt động các công ty còn gặp nhiều bỡ ngỡ, nhưng cho đến nay các
công ty này đều đã triển khai được cácc loại tình hình hoạt động, như môi giới, tự
doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư. tổng số tài khoản công ty chứng khoán mở

đến nay UBCKNN đã chấp thuận cho 6 công ty kiểm toán được kiểm toán cho các tổ
chức phát hành và kinh doanh chứng khoán.
e.Quản lý và giám sát thị trường
Xác định công tác quản lý, giám sát hoạt động thị trường đóng vai trò quan
trọng có tính quyết định đối với sự ổn định và phát triênr của TTCK, ngay từ khi thị
trường bắt đầu hoạt đông UBCKNN đã rất chú trọng công tác này.
Trong quá trình điều hành thị trường, UBCKNN đã chỉ đạo sát sao và thực hiện
một số biện pháp nhằm ổn định thị trường như sau:
Để đảm bảo cho thị trường phát triển ổn đinh, trong thời gian đầu UBCKNN
qui định biên độ giao dịch cổ phiếu là 2%, đồng thời quy định giá tham chiếu cổ phiếu
trong phiên giao dịch đầu tiên. trong quá trình diễn biến thị trường, do giá tăng liên
tục, nên ngày 13/6/2001 UBCKNN đã cho nới rộng biên độ giao dịch cổ phiếu lên 7%
và áp dụng biện pháp tình thế qui định mỗi lệnh đặt mua tối đa 2000 cổ phiếu. Đến
ngày 20/7/2001, giới hạn đặt mua 2000 cổ phiếu này được điều chỉnh lên 5000 cổ
phiếu. Các biện pháp này đã có tác động đến diễn biến của thị trường, người đầu tư đã
phải cân nhắc hơn khi quyết định đầu tư và nhận thức được phải tự chịu trách nhiệm
về rủi ro khi đầu tư vào thị trường.
Rà soát, sửa đổi và bổ sung các văn bản pháp quy cho phù hợp với tình hình
thực tế của thị trường hoạt động công khai, minh bạch, bảo vệ lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư, UBCKNN đã chỉ đạo, giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán, phát
hiện các hành vi vi phạm. Đồng thời đã tổ chức một số đoàn kiểm tra nắm tình hình
hoạt động của các công ty chứng khoán, công ty niêm yết, tình hình giao dịch tại
TTGDCK Tp.HCM. Nội dung kiểm tra bao gồm hoạt động tài chính, tình hình sản
xuất kinh doanh, cơ cấu cổ đông của các công ty niêm yết, tình hình giao dịch chứng
khoán, tình hình về lưu ký và đăng ký chứng khoán, khả năng thu nhập, tự doanh,
nghiệp vụ môi giới của các công ty chứng khoán đồng thời kiểm tra các giao dịch bất
thường có thể tác động đến thay đổi giá cả của các nhà đầu ư, qua kiểm tra đã nhắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status