LUẬN VĂN: Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam - Những đánh giá và kiến nghị pot - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt
Nam - Những đánh giá và kiến nghị Lời mở đầu

Mỗi quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền của riêng mình. Đồng tiền này chỉ có giá
trị thanh toán trong phạm vi quốc gia trừ một số đồng tiền có khả năng thanh toán
quốc tế. Cũng nhờ vào đồng tiền của nước mình mà mỗi quốc gia có thể kiểm soát
được tình hình tài chính, kinh tế. Trên thực tế, không có một quốc gia nào tồn tại mà
không có mối liên hệ với thế giới bên ngoài. Đặc biệt hiện nay, trong xu thế toàn cầu

các mặt kinh tế, chính trị, du lịch… Vì vậy những quan hệ thanh toán quốc tế nảy
sinh. Mặt khác đồng tiền của một nước có giá trị lưu thông trên nước đó. Do vậy để
thực hiện các thanh toán trên thì cần đổi tiền nước này ra tiền nước khác. Từ đó tỷ giá
hối đoái là cần thiết và quan trọng. Có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm
khác nhau về tỷ giá hối đoái. Các khái niệm phản ánh một số khía cạnh khác nhau của
tỷ giá:
- Samuelson: Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi
tiền của một nước này lấy tiền của một nước khác.
- Stayer: Nhà kinh tế học người Australia cho rằng Một đồng tiền của một nước
nào đó thì bằng giá trị của một số lượng đồng tiền khác.
- Chistopher Pass và Bryan Lowes: Người Anh cho rằng tỷ giá hối đoái là giá của
một loại tiền được biểu hiện bằng giá của một loại tiền khác.
Tuy nhiên, ta có khái niệm tổng quát như sau: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về
mặt giá cả giữa các đồng tiền của các quốc gia khác nhau.

1.2. Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái:
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp mà
Nhà nước sử dụng để điều chỉnh mức tỷ giá hối đoái giữa các đồng nội tệ và các đồng
ngoại tệ. Đồng thời tiến hành điều chỉnh các hoạt động giao dịch diễn ra trên thị
trường ngoại hối nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
trong một thời gian nhất định.

2. Cách biểu hiện tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái thường được yết giá theo hai phương pháp như sau: -Phương pháp yết giá trực tiếp: theo cách này, tại một nước nào đó, ngưới ta lấy ngoại
tệ làm đơn vị so sánh với đồng tiền trong nước.
Ví dụ: Tại Việt Nam, 1 USD = 15000 VND
- Phương pháp yết giá gián tiếp: Theo cách này, tại một nước nào đó, người ta lấy nội

- Tỷ giá bán : Là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra.

4. Tác động của tỷ giá hối đoái đến các quan hệ kinh tế quốc tế
Tỷ giá hối đoái được coi là công cụ mà dựa vào đó để chuyển đổi giá trị giữa các đồng
tiền. Vì vậy, trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là trong thanh toán quốc tế, tỷ giá hối
đoái giữ vai trò quan trọng. Cụ thể tỷ giá hối đoái có các tác động như sau:

4.1. Tác động đến thương mại quốc tế:
Để thanh toán được các hoạt động nảy sinh trong thương mại quốc tế, các chủ thể
thường phải dựa vào tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá thay đổi sẽ có tác động đến thương mại
quốc tế.
Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, có nghĩa là đồng nội tệ có giá trị giảm xuống so với đồng
ngoại tệ. Việc này sẽ có tác động thúc đẩy xuất khẩu nhưng lại hạn chế nhập khẩu. Vì
cùng một lượng nội tệ sẽ đổi được ít ngoại tệ hơn nên hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ cạnh
tranh hơn trên thị trường quốc tế. Trong khi đó, cùng một lượng ngoại tệ lại đổi ra
được nhiều nội tệ hơn nên hàng xuất khẩu đắt hơn.
Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm xuống sẽ có tác động hạn chế xuất khẩu và thúc
đẩy nhập khẩu. Từ đó gây nên tình trạng mất cân đối cán cân thanh toán.

4.2. Tác động đến hoạt động đầu tư quốc tế:
Hoạt động đầu tư quốc tế cũng liên quan đến việc chuyển đổi giá trị giữa các đồng tiền
nên nó cũng chịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá hối đoái.
Khi tỷ giá hối đoái tăng lên (đồng nội tệ giảm giá trị so với đồng ngoại tệ ), nó có tác
động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hạn chế sự đầu tư ra nước ngoài của các
nhà đầu tư trong nước. Vì các nhà đầu tư nước ngoài với cùng một lượng ngoại tệ sẽ
đổi được nhiều nội tệ hơn để phục vụ cho hoạt động đầu tư.
Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm xuống sẽ hạn chế thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài và thúc đẩy các nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài.

5. Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái:

thuộc vào nhận thức và bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Nhìn chung tỷ giá hối đoái gồm ba loại chính: Chế độ tỷ giá hối đoái cố định,
chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do, chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản lý của
Nhà nước.
6.1. Chế độ tỷ giá hối đoái cố định:
* Khái niệm:
Chế độ tỷ giá hối đoái cố định là một chế độ tỷ giá hối đoái, trong đó Nhà nước, mà cụ
thể là ngân hàng trung ương tuyên bố sẽ duy trì tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của
quốc gia mình với đồng tiền nào đó hoặc theo một rổ các đồng tiền nào đó ở một mức
cố định không đổi bằng cách thường xuyên can thiệp vào thị trường ngoại tệ để thực
hiện các hoạt động mua hay bán lượng dư cung hay cầu ngoại tệ với mức tỷ giá hối
đoái cố định mới công bố.
* Đặc trưng của chế độ tỷ giá hối đoái cố định :
- Tỷ giá hối đoái là cố định, những dự báo về sự thay đổi tỷ giá trên thị trường là
không có, trừ khi thị trường dự báo Chính phủ sẽ thay đổi mức tỷ giá cố định.
- Ngân hàng trung ương sẽ cam kết duy trì tỷ giá hối đoái ở một mức cố định nào đó.
Cung và cầu ngoại tệ vẫn tồn tại trên thị trường nhưng chúng sẽ bị chi phối. Nếu cung
trên thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ giá cố định thì ngân hàng trung ương sẽ đảm bảo
mua hết lượng dư cầu. Còn trong trường hợp ngược lại, nếu cung nhỏ hơn cầu ở mức
tỷ giá cố định thì ngân hàng trung ương sẽ đảm bảo cung cấp một lượng ngaọi tệ bằng
với lượng dư cầu. Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện hoạt động mua bán lượng dư
cung hay dư cầu đó với tư cách là người mua bán cuối cùng, người điều phối.
* Ưu điểm của chế độ tỷ giá hối đoái cố định:
- Do tỷ giá hối đoái là cố định nên hiện tượg đầu cơ không tồn tại, không gây bất ổn
đối với nền kinh tế.
- Cùng với việc cam kết cố định tỷ giá, Chính phủ sẽ phải đề ra những chính sách vĩ
mô hợp lý nhằm duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái. Việc này sẽ giúp tránh được
tình trạng phá giá cạnh tranh, đồng thời tạo một môi trường kinh doanh ổn định cho

thái cân bằng.
- Nền kinh tế có thể chống lại những cú sốc giá cả từ bên ngoài. Sự gia tăng của lạm
phát nước ngoài sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái thay đổi phù hợp với quy luật ngang giá
sức mua.
* Nhược điểm của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do:
- Tỷ giá hối đoái thả nổi phụ thuộc vào sự biến động của cung và cầu ngoại tệ. Do đó
trên thị trường này có rất nhiều rủi ro. Các nhà kinh doanh cũng như đầu tư sẽ gặp rủi ro do sự thay đổi tỷ giá. Chính vì vậy nó gây ra tâm lý e ngại khi tiến hành kinh doanh
cũng như đầu tư ở những nước áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do.
- Tỷ giá hối đoái còn phụ thuộc vào dự đoán của các nhà đầu cơ về mức tỷ giá trong
tương lai. Đôi khi những dự tính của họ không phù hợp với viễn cảnh tương lai. Vì
vậy việc đầu cơ một cách ồ ạt có thể làm cho tỷ giá hối đoái biến động mạnh, gây ảnh
hưởng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô cũng như sự ổn định của nền
kinh tế.
6.3. Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản lý của Nhà nước:
* Khái niệm:
Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản lý của Nhà nước là chế độ, trong đó, tỷ giá
hối đoái sẽ tự xác định trên thị trường cung cầu, chính phủ chỉ can thiệp vào thị trường
khi tỷ giá có những biến động mạnh.
* Đặc trưng của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản lý của Nhà nước:
- Cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ sẽ xác định tỷ giá hối đoái.
- Trong chế độ tỷ giá hối đoái này, Ngân hàng trung ương sẽ tuyên bố một mức tỷ giá
hối đoái chính thức và một biên độ dao động cho phép. Nếu tỷ giá trên thị trường vượt
quá biên độ cho phép này, thì Ngân hàng trung ương sẽ dùng những công cụ cần thiết
và phù hợp để duy trì sự dao dộng của tỷ giá hối đoái chỉ nằm trong biên độ cho phép.
- Tuy nhiên trong những điều kiện đặc biệt như khi tình hình kinh tế có những thay
đổi lớn thì Nhà nước sẽ xác định và công bố lại mức tỷ giá hối đoái cũng như biên độ
dao động cho phép.

mức tỷ giá hối đoái thực tế trên thị trường. Chính sách tỷ giá hối đoái cố định này đã
để lại hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chính vì vậy mong muốn của nước ta lúc
này là ổn định và phát triển nền kinh tế. Có rất nhiều chuyên gia với các quan điểm
khác nhau về chế độ tỷ giá hối đoái.
- Nhiều chuyên gia cho rằng cần áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Bởi với cơ
chế tỷ gía cố định sẽ tránh được những rủi ro kinh tế do sự biến động của tỷ giá gây ra,
cũng như tạo tâm lý an tâm cho các nhà đầu tư, kể cả các nàh đầu tư nước ngoài. Việc
áp dụng tỷ giá hối đoái cố định trong giai đoạn này là hợp lý. Tuy nhiên, do chúng ta
đã áp dụng chế độ này quá lâu làm cho nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa, chế độ tỷ giá hối đoái cố định làm cho đồng Việt Nam lên giá một cách giả
tạo, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nước ta và triệt tiêu lợi thế so sánh của nền
kinh tế. - Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý, cũng có nhiều chuyên gia cho rằng Việt
nam nên áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi. Bởi theo họ, chế độ tỷ giá hối đoái
mới này sẽ tạo ra một cú húych lớn cho nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và sản
xuất hàng hóa xuất khẩu. Từ đó sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm và thúc đẩy phát triển
nền kinh tế. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta lúc này đang chuyển sang
nền kinh tế thị trường. Mọi cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, đặc biệt là cơ chế
chính sách về tài chính tiền tệ. Chính vì vậy nếu áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái thả
nổi sẽ dẫn đến rối loạn hoặc khủng hoảng nền kinh tế.
- Đa số các chuyên gia cho rằng, Việt Nam nên áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái thả
nổi có sự quản lý của nhà nước. Việc áp dụng cơ chế tỷ giá hối đoái này, vừa phản ánh
đúng đòi hỏi của cơ chế thị trường vùa đảm bảo tính chủ động nhờ có bàn tay của nhà
nước can thiệp để giữ sự ổn định và phát triển vững chắc của nền kinh tế. Vì vậy, từ
tháng 3 năm 1989 nước ta đã thiết lập một hệ thống tỷ giá hối đoái theo tín hiệu thị
trường có sự can thiệp của chính phủ. Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam đã có
những chuyển biến rất căn bản. Đồng nội tệ phá giá rất mạnh, hệ thống tỷ giá cũ bị
xóa bỏ và được nhanh chóng thay bằng hệ thống tỷ giá mới.

USD mất giá kỷ lục so với hầu hết các loại ngoại tệ trên thị trường tài chính quốc tế
nhưng đồng USD lại lên giá so với đồng VND.
- Năm 2004, thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ trong nước chịu ảnh hưởng của
những biến động phức tạp trên thị trường thế giới. Đồng USD mất giá kỷ lục so với
Euro, JNP và một số ngoại tệ khác. Gía xăng dầu tăng cao, giá sắt thép, hóa chất,
nguyên liệu nhựa, gạo,…cũng tăng giá. Trong nước, dịch cúm xảy ra trên diện rộng,
giá thuốc chữa bệnh tăng cao…Tình hình trên dẫn đến chỉ số giá tăng cao, gây sức ép
điều hành chính sách tiền tệ. Để phù hợp với diễn biến của thị trường ngoại hối, cơ
chế điều hành tỷ giá có những chuyển biến quan trọng. Ngày 8/12/2004, Thống đốc
ngân hàng nhà nước ra quyết định số 1452/2004/ QĐ-NHNH về điều chỉnh giao dịch
hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thay thế quy định được ban hành
năm 1998. Quy chế mới thông thoáng hơn, nới lỏng những quy định về kiểm soát,
đồng thời cung cấp thêm cho thị trường hối đoái một công cụ phòng ngừa rủi ro về lãi
suất, về tỷ giá cho doanh nghiệp và các thành viên của thị trường ngoại hối.
Tính từ đầu tháng 1/2004 đến cuối tháng 12/ 2004, đồng Việt Nam mất giá gần 0,8%
so với USD; 5,51% so với JPI; 8,98% so với Euro…Theo số liệu ngân hàng nhà nước
Việt Nam, tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng chỉ tăng khoảng 0,63% so
với mức tăng tương tự là 1,52% của năm 2003. Nhưng nhìn chung trong năm 2004, tỷ giá VND/ USD khá ổn định. Đó là do USD mất giá trên thị trường thế giới, do nguồn
cung USD trong nước dồi dào và do chính sách điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối
được đổi mới linh hoạt, tôn trọng tính thị trường, ngân hàng nhà nước hầu như chỉ can
thiệp gián tiếp.
Nhìn chung trong giai đoạn qua, chúng ta đã có những chuyển biến đáng kể. Từ một
chính sách tỷ giá mang nặng tính bao cấp đã chuyển sang một chính sách tỷ giá vận
hành dựa trên cơ chế thị trường. Đặc biệt với cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản
lý của nhà nước, ngân hàng nhà nước góp phần điều tiết được thị
trường, hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của sự biến động tỷ giá hối đoái với
nền kinh tế.


2001

2002

2003

2004

2005*

Xuất khẩu

2404 5449 14483 15029 16705 20176 25000 29000
Nhập khẩu 2752 7256 15636 16218 19745 25246 32000
Nhập siêu -348 -1807

-1153 -1189 -3040 -5070 -7000

Máy, thiết
bị, phụ tùng
2096 4781 4949 5890 8175
Nguyên
nhiên vật
liệu
4821 9887 9981 12312 15437
Hàng tiêu
dùng
1237 968 1287 1553 1614


2001

2002

2003

2004

2005*

GDP năm 1994(
tỷ đồng)
228.892

441.
649
481.295 535.762 605.583 651.607 703.736
GDP năm 1994
(tỷ USD)
20,7 39,9 43,5 48,5 54,8 58,9 63,6
Dân số ( triệu
người)
71,5 77,6 78,6 79,7 80,0 82,1 83,2
GDP đầu người
theo giá USD
1994
289 514 553 607 684 717 764
Tổng đầu tư % 27,14 29,61 31,17 33,22 35,09 35,4 36,5
A, tài sản cố
định mới %

2.3. Tỷ giá tác động đến cán cân thương mại:
Có thể nói cán cân thương mại là chênh lệch giữa doanh số xuất khẩu và doanh số
nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định. Mà tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hóa, cho nên nó ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Cán cân
thương mại thặng dư khi doanh số xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và ngược lại là cán
cân thương mại thâm hụt. Cán cân thưong mại tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế.
Can cân thương mại thặng dư sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc
làm, tăng tích lũy quốc gia dưới dạng dự trữ ngoại hối, đồng thời tạo uy tín và tiền đồ
để đồng nội tệ được tự do chuyển đổi.
Khi tỷ giá thực danh nghĩa tăng có tác dụng kích thích xuất khẩu và hạn chế nhật
khẩu. Trong trường hợp ngược lại, khi tỷ gía thực danh nghĩa giảm, nó sẽ làm cho cán
cân thương mại trở nên xấu hơn. Cán cân vãng lai không đổi khi tỷ giá thực không
đổi.
Trong ngắn hạn, giá cả hàng hóa ít thay đổi. Việc phá giá đồng nội tệ làm cho tỷ giá
thực tăng. Khi tỷ giá thực tăng sẽ giúp cải thiện cán cân thương mại như đã nói ở trên.
Tỷ giá danh nghĩa đa biên NEER phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền với tất
cả các đồng ( hoặc là một rổ các đồng tiền đặc trưng). Tỷ giá NEER này được biểu
diễn dưới dạng chỉ số, và nó được xác định trên cơ sở NEER đã được điều chỉnh bởi
tỷ lệ lạm phát trong nước và ở các nước còn lại.

2.4. Tỷ giá hối đoái với vấn đề lạm phát: Khi nói nền kinh tế một nước đang có lạm phát, tức là đồng tiền nước đó bị mất giá.
Điều này có nghĩa là, giờ đây ta phải mất nhiều tiền hơn để mua được cùng một loại
hàng hóa so với trước khi xảy ra lạm phát.
Thời gian qua, nước ta xảy ra lạm phát cao. Ta có thể thấy qua bảng 3 Bảng 3: GDP trong bình quân đầu người tháng và chỉ số tăng giá hàng tiêu dung cuối

703.736

GDP năm
1994 ( tỷ
USD)

20,7 39,9 43,5 48,5 54,8 58,9 63,6
Dân số trung
bình ( ngàn
người)

70.824

71.995 77.635 78.685 79.727 80.902 82.100
GDP đầu
người/ tháng
theo giá
USD 1994
289 514 553 607 684 717 764
GDP đầu
người tháng
( ngàn đồng)
265 474 510 560 624 661
Chỉ số giá
hàng tiêu
dung cuối
năm so với
năm trước
112,7 99,4 100,8 104,0 103,0 109,5 107
Chỉ số giá

Ở Việt Nam, ngân hàng nhà nước đang thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt. Trong những
trường hợp cần thiết, ngân hàng nhà nước có thể dùng cả những công cụ trực tiếp hoặc
gián tiếp để sức mua đối ngoại của VND không bị biến động. Để ổn định tỷ giá hối
đoái, kìm chế sự gia tăng của chỉ số giá tiêu dùng thì phải chú ý đến tích lũy ngoại tệ.

2.5. Tỷ giá hối đoái tác động tới ổn định tiền tệ: Bất kỳ sự biến động nào của tỷ giá hối đoái đều tác động tới sự ổn định của tiền tệ, của
nền kinh tế.
Trong tình trạng nghiêm trọng của khủng hoảng ngoại hối khi mà sức mua của tiền tệ
giảm mạnh hoặc khi tỷ giá hối đoái biến động mạnh trong một thời gian dài thì việc
xác định lại tỷ giá là vô cùng cần thiết. Nhà nước co thể phá giá tiền tệ. Phá giá tiền tệ
là việc đánh tụt sức mua danh nghĩa của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ. Kết quả là
nó tác động trực tiếp đến tỷ giá hối đoái.
Khi một nước phá giá tiền tệ sẽ làm tăng giá của hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu.
Do vậy phần thuế xuất nhập khẩu sẽ tăng lên. Ngân sách nhà nước nhờ đó mà cũng
tăng lên. Tuy nhiên, độ lớn của tác động này phụ thuộc vào quy mô của thuế xuất
nhập khẩu trong tổng nguồn thu, độ co giãn về thuế.

Trong trường hợp, nếu chính phủ có nợ nước ngoài thì việc phá giá nội tệ sẽ làm cho
khoản nợ lớn hơn. Do chính phủ phải dùng nhiều nội tệ hơn để trả nợ. Điều này sẽ tạo
ra vòng luẩn quẩn, nợ nần chồng chất khiến cho nền kinh tế phải chịu một gánh nặng
không lường hết được.

3. Một số đánh giá về việc áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam:
 Thành công đạt được:
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác động vào cung cầu
ngoại tệ trên thị trường. Về cỏ bản chính sách tỷ giá hối đoái tập trung vào hai vấn đề
là lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Việt Nam lựa

tế nà giúp nân g cao mức dự trữ ngoại hối. Hiện nay, mức dự trữ ngoại hối của Việt
Nam vẫn còn ở mức thấp so với mức tiêu chuẩn của WB. Vì vậy Việt Nam cần có các
biệ pháp để có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để đối phó với những khoản nợ ngắn hạn phải
trả và có thể can thiệp vào cung ứng tiền tệ, giúp giữ ổn định tỷ giá.
III. Một số kiến nghị về chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam:
Để tỷ giá hối đoái thực sự linhhoạt và phù hợp với điều kiện thực tế. Tôi xin đưa ra
một số kiến nghị như sau:

1. Xác định mức tỷ giá hiện nay:
Tỷ giá chính thức được công bố hàn ngày trên cơ sở tỷ giá bình quân mua bán thực tế
trên thị trường liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trong đó và khống chế tỷ
giá giao dịch trên thị trường chính thức quá hẹp( tức là không vượt quá biên độ +(-)
0,1% so với mức tỷ giá chính thức). Ngân hàng nhà nước còn quy định quá chi tiết về
mức độ biên độ dao động. Phạm vi tỷ giá lệch khỏi ngang giá trung tâm càng lớn, tức
là khung càng rộng thì mức độ tự chủ của chính sách tiền tệ ngân hàng nhà nước trung
ương càng cao. Sự hữu ích của một chính sách tiền tệ tự chủ trong việc giảm thiểu tính
biến động lại tùy thuộc vào các công cụ ổn định khác, chẳng hạn như một chính sách
tài khóa linh hoạt và phụ thuộc vào nguồn gốc của cú sốc đó. Chính ngân hàng nhà
nước phải được chính phủ trao quyền hành rộng rãi hơn để thực thi một chính sách
tiền tệ linh hoạt.
Cơ sở cho nhận định trên là chính sách tài khóa nước ta bị giới hạn nghiêm ngặt, bằng
mọi giá không được vượt quá thâm hụt 3% trên GDP.
Bài học ở các nước khác chỉ ra rằng, trong điều kiện không tự chủ được chính sách tài
khóa thì chỉ còn một biện pháp duy nhất là tăng tính linh hoạt của chính sách tiền tệ
bằng cách mở rộng dải băng tỷ giá lên +(-) 0,3%, lên đến 0,5% và dần dần lên đến 1%.
Điều này cho phép ngân hàng trung ương niêm yết tỷ giá cạnh tranh hơn và đảm bảo
mức độ khách quan của tỷ giá. Chính phủ có thể sử dụng các biện pháp trực tiếp hoặc

khi có bất kì sự thay đổi nào của cung và cầu ngoại tệ. Để ổn định tỷ giá thì ngân hàng
nhà nước phải can thiệp bằng các công cụ của mình. Nếu cung ngoại tệ lớn hơn cầu
ngoại tệ, ngân hàng nhà nước phải tung VND để mua lượng ngoại tệ dư đó nhằm cân
bằng cung cầu ngoại tệ. Trong trường hợp ngược lại, khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung
ngoại tệ. Lúc này, ngân hàng nhà nước cần tung ngoại tệ ra để bán. Dự trữ ngoại tệ đủ
mạnh còn để sẵn sàng đối phó với hiện tượng đầu cơ trên thị trường. Nếu dự trữ ngaọi
tệ của ngân hàng nhà nước không đủ mạnh để can thiệp, thì có thể dẫn đến việc thả
nổi đồng tiền nước mình.
Quan điểm truyền thống về dự trữ ngoại hối pháp định nhấn mạnh vào tầm ảnh hưởng
của tài khoản vãng lai. Theo ngân hàng thế giới (World bank) thì dự trữ ngoại hối cần
phải có đủ mức tài trợ từ 3 đến 6 tháng nhập khẩu. Theo dự báo mới nhất của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì từ 2001 đến 2006 dự trữ ngoại hối của Việt Nam là 3,9 tỷ USD
vào năm 2002, và sẽ lên đến 6,3 tỷ vào năm 2006. Tuy nhiên dự trữ ngoại hối của
nước ta vẫn thấp hơn so với tiêu chuẩn của IMF. Còn theo những nghiên cứu của
Greenspan và Guiotti ( 1999) thì dự trữ ngoại hối ít nhất phải bằng dòng vốn nước
ngoài đến hạn có khả năng chảy ra nước ngoài trong vòng một năm.
Dự trữ quốc gia phải tính cho việc trả các khoản nợ nứơc ngoài đến hạn không thể
thương lượng được mà còn phải đủ để trang trải các khoản hở trong cán cân thanh
toán do thâm hụt tài khoản vãng lai. Theo Busierre và Mulder cho thấy mức dự trữ
tương đương với nợ ngắn hạn vận hành tốt trong việc hạn chế khủng hoảng nếu thặng
dư trong tài khoản vãng lai khoảng 2% GDP. Nếu tài khoản vãng lai chỉ ở mức cân
bằng, để chống đỡ khủng hoảng thì mức dự trữ ngoại tệ phải cao gấp đôi nợ ngắn hạn.
Còn nếu quốc gia thâm hụt tài khoản vãng lai, thì dự trữ quốc gia phải rất cao, ở mức
cấp số nhân. Cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam thâm hụt khoảng từ 1% đến
3%, như vậy đòi hỏi dự trữ pháp định phải rất cao. Dự trữ của nước ta đến năm 2006
chỉ đủ cho 2,5 tháng nhập khẩu, vẫn thâp hơn so với mức dự trữ ngoại hối mà WB đưa
ra.
Muốn có được nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào thì ngân hàng nhà nước phải sử dụng các

VND là một trong những đồng tiền có mệnh giá thấp trên thế giới, vì vậy ta cần từng
bước tăng mệnh giá VND. Để làm được điều trên cần tiếp tục khép dần chênh lệch
giữa lãi suất đi vay và lãi suất cho vay đồng nội tệ và lãi suất đồng ngoại tệ có sức hấp
dẫn để thu hút vốn của nước ta hiện nay. Theo đó, khi tỷ giá tăng lên, ngân hàng trung
ương có thể tăng lãi suất. Như vậy nhà nước có thể ngăn chặn xu hướng tăng lên của
tỷ giá mà không cần tốn lượng dự trữ ngoại tệ của mình.

4. Nhà nước cần hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối, cơ chế điều chỉnh tỷ giá
hối đoái và hoàn chỉnh thị trường:
 Nếu như dự trữ ngoại tệ được quản lý tốt thì sẽ làm tăng tích lũy ngoại tệ. Như
ta đã biết, với bất kỳ một quốc gia nào thì một lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn là cần thiết
để đối phó với những biến cố của nền kinh tế. Vì vậy cần tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ
nhập khẩu những hàng hóa thiết yếu và những thiết bị, nguyên liệu đầu vào cần thiết
cho quá trình sản xuất. Đồng thời cần nới lỏng việc quản lý ngoại hối, sử dụng linh
hoạt và hiệu quả các công cụ quản lý tỷ giá .
 Cần hoàn thiện thị trường ngoại hối để tạo điều kiện cho việc thực hiện chính
sách ngoại hối có hiệu quả. Việc này có thể thực hiện bằng cách mở rộng thị trường để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status