TIỂU LUẬN:
Quá trình hình thành và phát
triển của công ty trách nhiệm
hữu hạn Phú Bình
Phần 1. Khái quát quá trình hình thành và
phát triển của công ty
I. Khái quát quá trình hình thành của công ty
Công nghiệp là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Nó tiến hành
khai thác tài nguyên, chế biến chúng thành sản phẩm và sửa chữa các sản phẩm đó
trong quá trình sử dụng. Sự phát triển công nghiệp là thước đo trình độ phát triển
kinh tế của xã hội loài người.Trong tiến trình phát triển của lịch sử, công nghịêp và
dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng cao, tỷ trọng của nông nghiệp ngày càng giảm.
Bộ phận kinh doanh đặt trụ sở tại 217 Ngô Gia Tự – Gia Lâm – Hà Nội
II. Chức năng, nhiệm vụ của công ty.
1. Chức năng.
1.1. Quản lí và sử dụng các nguồn lực
Quản lí và sử dụng các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh
doanh
Được chuyển nhượng cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản
Được thế chấp quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lí, sử
dụngcủa công ty tại ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của
pháp luật
1.2. Tổ chức quản lí, tổ chức kinh doanh
Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng kí, đúng ngành nghề đã ghi trong chứng
nhận đăng kí sản xuất kinh doanh theo khả năng của công ty và nhu cầu của thị
trường.
Khai thác và mở rộng thị trường trong và ngoài nước, xuất khẩu, nhập khẩu theo
quy định của chính phủ.
Tuyển chọn, thuê mướn, bố trí, sử dụng hoặc cho thôi việc đối với những công
nhân viên chức của công ty trừ chức danh giám đốc.
Ban hành nội quy, quy chế trong công ty. Được chủ động nhượng bán, cho thuê, thanh lí tài sản theo quy định của nhà
nước.
Tự chủ động vốn, thay đổi cơ cấu vốn để đầu tư phát triển và hoạt động kinh
doanh.
2. Nhiệm vụ
2.1. Nghĩa vụ trong việc sử dụng các nguồn lực
Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn.
Phải hạch toán đầy đủ theo quy định của pháp luật.
trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật trong phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ được quy
định tại điều lệ.
Công ty hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước và các quy định khác của
pháp luật, chịu sự quản lí của nhà nước.
Vốn và các nguồn lực khác do công ty tự huy động
Con dấu theo quy định của nhà nước
Có tài khoản riêng
Bảng cân đối tài sản, các quỹ theo quy định của nhà nước
Có quyền tự chủ trong kinh doanh
Phần II. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty Phú Bình.
I. Đặc điểm lĩnh vực kinh doanh.
Công ty Phú Bình là một công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh, nên ta xét đặc
điểm lĩnh vực kinh doanh của nó trên hai khía cạnh: sản xuất và kinh doanh.
1. Sản xuất
Công ty Phú Bình tiến hành sản xuất sản phẩm liên quan đến lĩnh vực hoá chất.
Công ty có một bộ phận sản xuất đặt tại Lộc Hà - Đông Anh – Hà Nôi.Với khoảng
35 công nhân có tay nghề cao tiến hành sản xuất ở bộ phận này. Công ty sản xuất các hoá chất công nghiệp phân bón các loại phục vụ cho ngành
hoá chất như: Muối đồng Sunfat (C
u
SO
4
), kẽm Sunfat (Z
n
SO
4
4
). Phục vụ cho nông nghiệp, phan bón, thuốc bảo
vệ thực vật.
Chất tẩy rửa công nghiệp phục vụ cho việc tẩy rửa các chất bẩn, các vết bẩn.
Kẽm Sunfát (ZnSO4) cũng là một loại muối vô cơ, dùng cho trong ngành công
nghệp chế biến phân bón.
III. Đặc điểm thị trường khách hàng Vai trò to lớn của thị trường luôn được khẳng định trong quá trình kinh doanh.
Thị trường là sống còn đối với sản xuất kinh doanh hàng hoá. Còn thị trường thì còn
sản xuất kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ.
Đối với một công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh như công ty Phú Bình thì việc
chiếm lĩnh được thị trường đầu vào cũng như thị trường đầu ra là rất cần thiết.
Sản phẩm sản xuất ra của công ty phụ thuộc không nhỏ vào nguồn nguyên liệu
đầu vào. Chất lượng của nguyên liệu quyết định chất lượng sản phẩm mà công ty
sản xuất. Chính vì vậy mà việc lựa chọn nguồn cung cấp của công ty được quan tâm
rất lớn. Công ty luôn phải nhập các nguyên liệu tốt từ các nhà cung cấp có uy tín
trên thị trường, những nhà cung cấp có quan hệ tốt lâu đời đối với công ty. Bên cạnh
việc nhập nguyên liệu để tiếnh hành sản xuất, công ty còn nhập các loại thành phẩm
để bán. Các sản phẩm mà cont y nhập về phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của Nhà
nước, của các tổ chức kiểm định chất lượng. Đầu vào của công ty thường được nhập
từ các công ty hoá chất trong nước như: Công ty hoá chất Việt Trì, Super phốt phát
Lâm Thao, bên cạnh đó công ty còn nhập khẩu các mặt hàng hoá chất từ nước ngoài.
Do vị trí của thị trường đầu vào trên thị trường là không có tính quyết định như
thị trường đầu ra, nên việc lựa chọn của công ty là tương đối thuận lợi. Còn thị
trường đầu ra liên quan trực tiếp tới vấn đề tiêu thụ sản phẩm của công ty, mà hiệu
quả kinh doanh của công ty phụ thuộc rất lớn vào tình hình bán được hàng của công
ty. Do đó để chiếm lĩnh được thị trường đầu ra trong điều kiện mà nền kinh tế người
bán nhiều hơn người mua là một quá trình đầy gian khó mà công ty phải vượt qua.
khác nhau, từ doanh nghiệp Nhà nước tới các doanh nghiệp tư nhân. Công ty Phú
Bình là một công ty TNHH, phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp
khác trong nước bởi mỗi sản phẩm công ty sản xuất ra đều có những sản phẩm cạnh
tranh khác có cùng tác dụng. Giá cả và chất lượng sản phẩm quyết định tới khả năng cạnh tranh của mỗi sản phẩm. Để cạnh tranh với các doanh nghiệp hoá chất khác,
công ty phải tiến hành nghiên cứu để nâng cao chất lượng của sản phẩm sản xuất ra
đồng thời hạ giá thành của sản phẩm. Trong nền kinh tế mà người bán nhiều hơn
người mua thì sự cạnh tranh diễn ra thật khốc liệt. Để tồn tại và phát triển đòi hỏi
mỗi công ty phải tự tìm cho mình hướng đi thật phù hợp và có hiệu quả.
Bên cạnh việc cạnh tranh với các sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước,
công ty còn phải đối phó với các mặt hàng nhập về từ Trung Quốc trên thị trường
nước ta. Như chúng ta đều biết hoá chất của Trung Quốc có rất nhiều chủng loại với
giá cả rẻ hơn nhiều so với các sản phẩm của nước ta. Đây là thách thức rất lớn đối
với không chỉ công ty Phú Bình mà còn là của các công ty trong nước. Trung Quốc
ngày càng chiếm một thị phần hoá chất khá lớn ở nước ta. Tình hình đó yêu cầu
công ty phải tìm mọi biện pháp để nhằm làm giảm chi phí từ đó có cơ hội giảm giá
thành sản xuất, có điều kiện cạnh tranh với hoá chất Trung Quốc. Điều này đòi hỏi
sự nỗ lực phấn đấu của cả công ty trong quá trình phát triển.
V. Đặc điểm nội tại của công ty.
1. Cơ cấu tổ chức của công ty.
Giám đốc :
Giám đốc công ty là người là người có quyền điều hành cao nhất trong công ty và
có nghĩa vụ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của công ty.
Giám đốc phải có các tính chất và điều kiện sau:
- Nắm vững pháp luật, có ý thức chấp hành pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt,
trung thực, liêm khiết, có sức khoẻ.
- Có trình độ học vấn bậc đại học.
- Có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lí.
Sơ đồ tổ chức của công ty.
1. Đặc điểm về nhân lực.
Công ty Phú Bình có khoảng 50 cán bộ công nhân viên, hoạt động ở hai bộ phận
sản xuất và kinh doanh.
Bộ phận sản xuất có 35 người trong đó có:
1 phó giám đốc, chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất của công ty.
2 kĩ sư phụ trách về mặt kĩ thuật.
1 kế toán viên, chịu trách nhiệm hạch toán của bộ phận này.
30 công nhân có trình độ trực tiếp sản xuất.
2 bảo vệ phụ trách bảo vệ kho vật tư hàng hoá.
Bộ phận kinh doanh gồm có 15 người trong đó:
1 phó giám đốc chịu trách nhiệm kinh doanh.
1 kế toán trưởng phụ trách công tác của công ty.
1 kế toán viên.
Nhân viên kinh doanh.
Nhân viên bán hàng.
là một ngôi nhà lớn nằm ở 217 Ngô Gia Tự – Gia Lâm – Hà Nội, đựơc trang bị đầy
đủ các thiết bị cho hoạt động kinh doanh như bàn ghế để làm việc và các thiết bị cần
thiết khác…
Phần III. Kết quả kinh doanh và tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh
của công ty.
I. Khái quát tình hình phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty trong mấy năm gần đây.
1. Tình hình sản xuất.
Bảng 2: Tình hình sản xuất của công ty qua 3 năm từ năm 2000 đến năm 2002.
(Xem trang sau)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy sản lượng sản xuất của công ty:
Năm 2001 có sự giảm so với năm 2000 về một số mặt hàng như: Đồng Sunfát,
giảm so với năm 2000 là 12 tấn; hoa quả chế biến là 200 tấn. Nguyên nhân là do
công ty thu mua nguyên liệu gặp phải khó khăn do tình trạng khan hiếm các loại hoa
quả; mặt hàng đồng do công ty thu mua năm đó không đảm bảo đủ chất lượng nên
sản lượng sản xuất ra bị giảm sút.
Năm 2002, rút kinh nghiệm năm trước công ty đã tổ chức thu gom nguyên liệu
ngay từ đầu mùa vụ nên đã tăng được sản lượng trong sản xuất đối với các mặt hàng
đồng Sunfát, hoa quả chế biến so với năm 2001. Nhưng mặt hàng tinh chế nhựa
thông thì sản lượng lại giảm đi 45 tấn. Nguyên nhân là do năm 2001 mặt hàng vẫn
còn tồn kho.
Tên sản phẩm Đơn vị Năm 2000 Năm 2001 Năm2002
Đ
ồng Sunfát
T
Sản xuất
Tiêu thụ
Sản xuất
Tiêu thụ
Sản xuất
Tiêu thụ
Đồng Sunfát 197 190 185 185 245 233
Tinh chế nhựa thông 290 278 345 298 300 327
Kẽm Sunfát 389 350 400 387 400 367 Chất tẩy công nghiệp 6000 5967 6780 6500 7000 6868
Hoa qu
ả chế biến
1400
1400
1200
1200
1495
50
Thu nh
ập
Tri
ệu
đ
ồng
700
720
800 Qua biểu đồ trên ta thấy doanh thu của công ty năm 2001 giảm so với năm 2000
là 877,5 triệu đồng, tức là giảm 5,53 %. Nhưng đến năm 2002 thì doanh thu của
công ty là 16816,38 triệu đồng, tăng 1816,38 triệu đồng, tăng 12,11 %.
Nguyên nhân là do năm 2001 tình hình sản xuất của công ty không thuận lợi, bên
cạnh đó thị trường tiêu thụ giảm mạnh, công ty phải cạnh tranh với rất nhiều các
doanh nhiệp khác trên thị trường.
Mặc dù là doanh thu của công ty giảm đi nhưng lương của công nhân không
giảm đi mà lại tăng hơn so với năm 2000 là 20000đồng/tháng/1 công nhân, điều này
chứng tỏ lợi nhuận của công ty không giảm.
II. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ của doanh nghiệp.
1. Công tác kế hoạch.
Kế hoạch là hoạt động có hướng đích của Chính phủ, của các doanh nghiệp hay
KH
TT
KH
TT
Giá trị sản xuất. 12616 12305,7 11932,8 11549 13697,3 13630,68
Doanh thu
16240,9
1587
7,5
15699,3
15000
17190,7
16816,38 Qua biểu đồ trên ta có thể nói công ty luôn không hoàn thành kế hoạch . Nguyên
nhân dẫn tới tình trạng này là:
Mức độ cạnh tranh cao do sản phẩm cùng loại trên thị trường nhiều, đa dạng, giá
thành chênh lệch khác nhau, sản phẩm nhập từ nước ngoài nhiều, đặc biệt là nhập từ
Trung Quốc, giá thành rẻ.
1200
1500
1495
Đồng(C
u
) Tấn 200 200 245 200 250 250
K
ẽm(Z
n
)
T
ấn
50
50
55
55
50
50
Axít HCl Lít 6500 6000 7500 7000 7500 7500
so sánh thị trường. Mục đích của việc này là trên cơ sở giới hạn một số thị trường có
ảnh hưởng lớn tới việc của công ty để tiến hành so sánh và phân loại thị trường. Từ
đó xác định thị trường triển vọng nhất của công ty để có thể đưa sản phẩm vào tiêu
thụ.
Bộ phận kinh doanh đã lập bảng sau:
Bảng 7: Đánh giá tiềm năng của thị trường đối với công ty
Tiêu chu
ẩn
đánh giá
B
ắc
Trung
Nam
1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4
Vị trí các thị trường * * *
Giá c
ả của thị tr
ư
ờng
*Phản ứng của khách hàng * * *
Chi phí đ
ầu t
ư
*
** Chú giải: 1: Điều kiện không thuận lợi
2: Điều kiện bình thường
3: Điều kiện thuận lợi
4: Điều kiện rất thuận lợi
Thông qua bảng trên ta thấy đối với công ty Phú Bình thì thị trường miền Bắc là
phụ
B
ổ sung
dự trữ
Sản
xuất
sản
phẩm Nghiên
cứu
khoa
học kĩ
thuật
Sữa
chữa
định
kì
Sản
xuất
các
phụ
trợ
cần
thiết
của khách hàng. Chính vì thế mà bên cạnh việc bán sản phẩm do công ty sản xuất ra
thì công ty còn nhập các mặt hàng hoá chất khác để kinh doanh. Trên lĩnh vực này
thì mục đích mua hàng của công ty là mua để bán chứ không phải mua cho mình sử
dụng. Vì vậy mà công ty phải xác định nhu cầu cụ thể của khách hàng về khối
lượng, cơ cấu mặt hàng, quy cách chủng loại, thời gian và giá cả mà khách hàng có
thể chấp nhận được. Nhu cầu này của khách hàng đã được xác định thông qua hoạt
động nghiên cứu thị trường. Bên cạnh đó công ty phải tìm hiểu khả năng sản xuất
trong nước và thị trường nước ngoài, bởi mỗi mặt hàng đều có từ nguồn sản xuất
trong nước, tại các đơn vị sản xuất thuộc ngành hóa chất và từ thị trường nước
ngoài. Vì vậy phải nghiên cứu lựa chọn nguồn hàng và người cung ứng cho phù hợp
với công ty.
Tình hình mua hàng của công ty trong một vài năm qua được thể hiện trong bảng
sau: Bảng 8: Tình hình mua hàng của doanh nghiệp qua một số năm
Tên m
ặt hàng
Đơn v
ị
Năm 2000
Năm 2001
Năm 2002
Xút(NaOH) Tấn 47 45 50
Na
là một trong những yếu tố quan trọng có thể dẫn tới thất bại của công ty. Hệ thống tổ
chức cần đảm bảo khả năng thích ứng tốt với các xu hướng vận động tăng trưởng
hay suy thoái trong kinh doanh. Trong suốt những năm hoạt động của mình công ty
đã có những thay đổi trong hệ thống tổ chức, đặc biệt là trình độ năng lực của các bộ
công nhân viên. Công ty đã có các hoạt động tiến hành để bồi dưỡng đào tạo nâng
cao công tác nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên: cử nhân viên đi học các khoá
huấn luyện của ngành, mời các chuyên gia về giảng tại công ty trong một vài ngày
kiểu như hội thảo.
Cán bộ công nhân viên của công ty có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, đều đã
qua các lớp đào tạo chuyên môn .
Một số kết quả công ty đã đạt được:
Chế độ làm việc: liên quan đến những yêu cầu đặt racủa cong ty đối với
nhân viên.
Thời gian làm việc: 8
h
/ ngày. Điều kiện làm việc: an toàn, thuận lợi, đảm bảo cho sức khoẻ cho người lao động
được trang bị các loại bảo hộ lao động; được bố trí khám sức khoẻ định kì.
Chế độ đãi ngộ: liên quan đến quyền lợi của người lao động khi tham
gia vào hoạt động của công ty. Ngoài tiền lương hàng tháng, vào các dịp ngày lễ
công nhân cũng được nhận tiền thưởng.
Trong quá trình hoạt động và phát triển tiền lương tiền lương bình quân hàng
tháng của công nhân viên cũng đã tăng lên.
Năm 1996 : 500000 đồng /1 công nhân/1 tháng
Năm 2000: 700000 đồng /1 công nhân/1 tháng
Năm 2001: 720000 đồng /1 công nhân/1 tháng
Năm 2002: 800000 đồng / 1 công nhân/1 tháng
5. Tình hình tiêu thụ của công ty
vị
Tên loại sản
phẩm
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Số
lượng
So với
1999(%)
S
ố
lượng
So với
2000(%)
Số
lượng
So với
2001(%)
Tấn Đồng Sunfát 190
95
185
97,3684
233
125,9459
107,1942
327
109,7315
Lít Chất tẩy rửa
công nghiệp
5967
101,65247
6500
108,9324
6868
105,6615
Tấn Kẽm Sunfát 350
97,22222
387
110,5714
367
Tấn Xút 40
93,02325
45
112,5
48
106,66666
T
ấn
Axít H
3
PO
4
9
90
11
122,22
9
(triệu
đồng)
Tỷ trọng
(%)
S
ố tiền
(triệu
đồng)
Tỷ trọng
(%)
S
ố tiền
(triệu
đồng)
Tỷ trọng
(%)
Bán buôn 7289,74
45,91239
7050
47
7491,5782
44,54929
15877,5
100
15000
100
16816,38
100 Qua biểu đồ ta thấy doanh thu của công ty qua bán buôn chiếm tỷ trọng cao nhất,
sau đó tới xuất khẩu.
Năm 2000, bán buôn chiếm 45,91239% của doanh thu bán hàng, xuất khẩu
chiếm 44, 08755% doanh thu bán hàng, bán lẻ chỉ chiếm 10% của doanh số bán.
Năm 2001, tỷ trọng bán buôn trong các hình thức tiêu thụ của doanh nghiệp vẫn
chiếm cao nhất và tăng hơn so với năm ngoái, chiếm tới 47% doanh thu của công ty
trong năm đó, doanh thu của bán lẻ cũng tăng lên chiếm 13% tổng doanh thu của
toàn công ty, nhưng doanh thu từ xuất khẩu lại giảm đi chỉ chiếm 40% tổng doanh
thu của toàn công ty trong năm đó.
Năm 2002, tổng doanh thu của toàn công ty là 16816,38 triệu đồng, trong đó thu
từ bán buôn là 7491,5782 triệu đồng chiếm 44,54929%; thu từ xuất khẩu là 7475
triệu đồng chiếm 44,45%; còn lại là từ bán lẻ.
phát triển để tồn tại. Hai mặt này luôn gắn bó với nhau. Trong quá trình hoạt động
của mình, công ty phải tìm ra các hướng đi cụ thể cho chính mình.