TIỂU LUẬN:
Thực trạng công tác quản lý
thu thuế khu vực NQD
Lời mở đầu
Năm 2001 là năm chuyển giao thiên niên kỷ, năm đầu triển khai thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng IX và nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 2001-2005 đặt ra
trách nhiệm lớn cho cơ quan thuế các cấp.
Mặc dù có nhiều yếu tố không thuận lợi, do tình hình xuất khẩu hàng hoá
gặp nhiều khó khăn, thiên tai lớn xảy ra ở một số tỉnh ĐBSCL và miền Trung
nhưng được sự chỉ đạo của Đảng, của Chính phủ, sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ tài
chính, sự phối hợp tích cực của các ngành, các cấp, toàn ngành thuế đã nỗ lực phấn
đấu liên tục, chủ động khai thác nguồn thu, tăng cường các biện pháp chống thất
thu, chống nợ đọng đối với các sắc thuế, các khu vực trong phạm vi cả nước. Để
góp phần thực hiện các luật thuế mới, đặc biệt là luật thuế GTGT và luật thuế
TNDN, công tác chỉ đạo và quản lý thu theo quy trình mới đã có nhiều chuyển biến
tạp. Phạm vi đề tài chỉ tập trung vào những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
thu đối với hai luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
đối với khu vực NQD trên địa bàn quản lý của Cục thuế Hà nội.
Về nội dung của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận có ba phần chính:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu thuế khu vực NQD.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực NQD.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế khu vực NQD.
Chương I: Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu thuế ngoài quốc
doanh:
I. Một số vấn đề chung về kinh tế ngoài quốc doanh:
Trong định hướng xã hội chủ nghĩa về việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần, báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định yêu cầu:
- Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần. Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong
và bên ngoài cho CNH - HĐH, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời
sống nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành
phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh doanh.
- Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước, kinh
tế hợp tác. Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần
kinh tế quốc doanh (chủ yếu thực hiện chức năng dịch vụ công cộng vì mục tiêu là
lợi ích chung của toàn xã hội) và kinh tế ngoài quốc doanh (chủ yếu làm chức năng
kinh doanh vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận). Trong cơ cấu sản xuất xã hội,
KTNQD được coi là một thực thể khách quan, gồm các thành phần kinh tế được xác
định tuỳ theo đặc điểm kinh tế xã hội và quan điểm chính trị của mỗi quốc gia trong
từng giai đoạn khác nhau. Tại Việt nam, khu vực KTNQD tồn tại dưới các hình
thức: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phàn, hợp tác xã, tổ sản
xuất, hộ kinh doanh cá thể Từ năm 1986 đến nay, khu vực KTNQD đã tạo ra
khoảng 50% tổng sản phẩm trong nước, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp mỗi năm.
Khu vực này bộc lộ nhiều vai trò không thể phủ nhận, nhất là trong tình hình kinh tế
hiện nay:
- Thứ nhất, khu vực KTNQD góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của
nền kinh tế. Cùng với khu vực KTQD, KTNQD là cộng sự đắc lực đào xới những
mảnh đất màu mỡ của nền kinh tế chưa được sử dụng đến. Các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay
những ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lượng tri thức như công nghệ thông tin cũng
như có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh không cần nhiều vốn và có mức lợi nhuận thấp mà các nhá đầu tư lớn ít quan
tâm tới.
- Thứ hai, khu vực KTNQD là cầu nối quan trọng để nền kinh tế nước ta
từng bước hoà nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới bởi lẽ đây là khu
vực năng động và hiệu quả cao.
- Thứ ba, khu vực KTNQD góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nền
kinh tế, vấn đề thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối trong cơ cấu nền kinh tế.
Trung bình ở nước ta mỗi năm khu vực này đem lại việc làm cho hơn một triệu
người lao động.
- Thứ tư, KTNQD giải phóng năng lực sản xuất của người lao động, tạo ra
KTNQD thường tự phát và khó quản lý, không ít cơ sở kinh doanh trái phép, kinh
doanh không kê khai nộp thuế, trốn thuế, lợi dụng hoá đơn chứng từ xin hoàn thuế
sai quy định.
- Thứ ba, tổ chức các cơ sở KTNQD phần lớn là quy mô nhỏ do vốn ít, cơ
cấu gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường
kinh doanh. Nhân viên thường đảm nhận công việc theo kiểu đa năng, chi phí nhân
công thấp.
Với những vai trò và đặc điểm trên, khu vực KTNQD ngày càng được
khuyến khích và đảm bảo môi trường thuận lợi để phát triển. Tuy vậy, khuyến khích
phát triển khu vực này không đồng nghĩa với việc buông lỏng quản lý, do vậy, hệ
thống pháp luật phải được thể chế hoá đầy đủ, rõ ràng cả tầm vĩ mô và vi mô để có
thể phát huy tối đa mặt tíc cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực của
KTNQD trong cơ chế thị trường.
I.3. Các sắc thuế chủ yếu đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh:
Từ ngày 1/1/1999 thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, hệ thống
thuế của Nhà nước ta bao gồm 10 sắc thuế, trong đó có 4 sắc thuế chủ yếu áp dụng
đối với khu vực KTNQD.
A. Thuế môn bài:
Thuế môn bài mang tính chất là thuế trực thu, động viên sự đóng góp trực
tiếp của cơ sở kinh doanh, tạo được một nguồn thu quan trọng cho nhu cầu chi tiêu
của NSNN ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều. Thuế môn bài
có tác dụng kiểm kê, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, có căn cứ phân loại quy mô
doanh thu lớn, vừa, nhỏ để áp dụng biện pháp quản lý thu thuế thích hợp.
Thuế môn bài áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có thực tế kinh doanh.
Thuế thu mỗi năm một lần và chủ yếu thu vào đầu năm. những cơ sở kinh doanh
hoạt động trong sáu tháng đầu năm phải nộp mức thuế môn bài cả năm. Nếu bắt đầu
hoạt động trong sáu tháng cuối năm thì nộp 50% mức thuế cả năm.
đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ, các cơ sở kinh
doanh mua bán vàng, bạc, đá quý.
C. Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB):
Thuế TTĐB mang tính chất là thuế gián thu áp dụng đối với 8 loại hàng hoá
và 4 hình thức dịch vụ (quy định trong luật thuế TTĐB) được sản xuất trong nước
và nhập khẩukhông thuộc loại thật cần thiết cho nhu cầu đời sống thiết yếu nhằm
động viên sự đóng góp của người tiêu dùng cho NSNN, hạn chế sản xuất, nhập
khẩu và tiêu dùng nhiều các mặt hàng này.
Những cơ sở sản xuất mặt hàng chịu thuế TTĐB phải nộp thuế TTĐB và
không phải nộp thuế GTGT. Thuế TTĐB chỉ nộp một lần tại khâu sản xuất (đối với
hàng hoá sản xuất trong nước), khâu nhập khấu (đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc ở
khâu cung ứng dịch vụ (đối với dịch vụ chịu thuế).
Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hoá dịch vụ chịu thuế và
thuế suất. Theo quy định hiện hành, biểu thuế TTĐB có mức thuế suất cao gồm 12
mức thuế suất khác nhau từ 15% đến 100% được phân theo loại hàng hoá và dịch
vụ. Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB, thuế suất thuế TTĐB không phân
biệt hàng hoá nhập khẩu hay hàng hoá sản xuất trong nước.
Thuế TTĐB được xét miến giảm và hoàn thuế trong một số trường hợp cụ
thể được quy định trong luật thuế.
D. Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):
Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các
đối tượng nộp thuế, các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có
thu nhập chịu thuế.
Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Mức thuế suất
chung là 32%, ngoài ra có một số trường hợp đặc biệt mức thuế suất có thể thấp hơn
hoặc cao hơn được quy định cụ thể trong luật thuế TNDN.
II. Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh:
trị, kinh tế tổng hợp liên quan đến mọi thành phần kinh tế trong xã hội, là cuộc đấu
tranh gay gắt giữa lợi ích cá nhân cục bộ với lợi ích quốc gia, giữa quyền lợi và
nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy
không thể tách công tác quản lý thu thuế của ngành thuế ra khỏi sự chỉ đạo của
chính quyền các cấp. Phải coi việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thuế là nhiệm vụ trọng
tâm thường xuyên của địa phương. Các ngành nội chính cũng cần xác định mối
quan hệ với cơ quan thuế, vừa là phối hợp hỗ trợ, vừa là trách nhiệm cùng cơ quan
thuế thực hiện các luật thuế có hiệu quả.
Thứ hai là quan điểm đảm bảo bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế. Trong cơ chế
thị trường, mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật để cạnh tranh
trong sản xuất kinh doanh. Do đó, hệ thống thuế cũng phải được thực hiện thống
nhất nhằm đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp cho NSNN giữa các doanh
nghiệp, tầng lớp dân cư. Về lâu dài cần nghiên cứu, thu hẹp tiến tới xoá bỏ mọi
phân biệt đối xử tràn lan về nghĩa vụ nộp thuế để đảm bảo sự bình đăngr và cạnh
tranh lành mạnh.
Thứ ba là giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích Nhà nước với người
nộp thuế . Do đó phải xác định rõ chức năng của từng sắc thuế và của cả hệ thống
thuế. Mỗi sắc thuế chỉ nên đảm nhận một số chức năng chủ yếu nhất định, đảm bảo
cho sắc thuế đó đơn giản, có thể thực hiện đầy đủ, có hiệu quả cao. Một chính sách
thuế được coi là hoàn hảo khi nó đạt được các mục tiêu về mặt tài chính (đưa lại số
thu quan trọng cho ngân sách); về mặt xã hội (đảm bảo công bằng và hợp lý); về
mặt kinh tế (có tác dụng khuyến khích và thúc đẩy hoạt động sản xuất); về mặt
nghiệp vụ (đơn giản, dễ hiểu, dễ làm). Trong cơ chế thị trường, nền kinh tế phát
triển do nhiều yếu tố khách quan, đặc biệt là quy luật cung cầu và quy luật giá trị,
do đó thuế có vai trò quan trọng trong điều tiết vĩ mô chỉ nên tác động ở mức độ
vừa phải, góp phần, không phải là công cụ độc nhất. Chính sách và biện pháp quản
lý về thuế không can thiệp quá sâu vào mọi khía cạnh hoạt động tích cực hay tiêu
Thứ ba, phẩm chất cách mạng và năng lực toàn diện của cán bộ quản ly thu
thuế phải được nâng cao về trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, về trình độ tổ chức
quản lý phù hợp với điều kiện mở rộng kinh doanh của tát cả các thành phần kinh tế
và thực hiện một chính sách thuế bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Thứ tư, quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp chính quyềnphải được xác lập
rõ ràng, có sự phân công cụ thể, hợp lý trong tổ chức chỉ đạo và thực hiện công tác
thuế. Chủ tịch UBND các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác thuế trên địa
bàn lãnh thổ.
II.2.2. Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của công tác quản lý:
Để phát huy tác dụng tích cực của các luật thuế mới đối với nền kinh tế và
thực hiện tốt quy trình quản lý mới, công tác quản lý cần thực hiện các mục tiêu
sau:
- Đảm bảo công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp, hộ kinh
doanh trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, tạo
điều kiện đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, thúc đẩy công tác hạch toán kế toán
trong các doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trong nước cũng như trên thị
trường quốc tế.
- Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, khai thác, phát hiện và khơi thông các
nguồn thu còn tiềm ẩn, hạn chế tình trạng nợ đọng thuế.
- Khuyến khích mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu để giải quyết việc làm cho
người lao động.
- Nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các
doanh nghiệp cũng như các tầng lớp dân chúng trong xã hội.
Để đạt được các mục tiêu trên, công tác quản lý thu thuế có những chức năng
cơ bản sau:
- Hướng dẫn đối tượng nộp thuế thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế, chẳng
hạn: các thủ tục về kê khai, đăng ký nộp thuế, quyết toán hoàn thuế
tư nước ngoài, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, các cơ sở
kinh tế tập thể, hợp tác xã, các đơn vị sự nghiệp kinh tế, nhà khách, nhà nghỉ và các
tổ chức kinh tế khác của các cơ quan Nhà nước, Đảng, Đoàn thể, hội, đơn vị lực
lượng vũ trang nhân dân trung ương và địa phương, các hộ cá thể sản xuất kinh
doanh đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế. Nội dung:
II.2.4.1. Nhiệm vụ và chức năng của các bộ phận chính trong quá trình quản lý thu:
Phòng quản lý thu:
- Quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi tình hình biến động về đối tượng nộp
thuế trên địa bàn quản lý. Phân tích tình hình thu nộp, tham gia việc lập dự toán thu,
khai thác các nguồn thu trong lĩnh vực được giao quản lý. Tham mưu đề xuất với
lãnh đạo Cục các biện pháp quản lý thuế.
- Hướng dẫn đối tượng nộp thuế các thủ tục kê khai đăng ký thuế, kê khai
thuế, lập hồ sơ miễn giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán thuế giải đáp thắc mắc
của đối tượng nộp thuế liên quan tới việc tính thuế, thu nộp thuế. Lập và tổ chức lưu
giữ hồ sơ các doanh nghiệp.
- Thực hiện kiểm tra các chỉ tiêu kê khai trên các tờ khai, hồ sơ của doanh
nghiệp. Liên hệ với đối tượng nộp thuế để chỉnh sửa theo đúng quy định.
- Đề xuất và tham mưu cho lãnh đạo Cục giải quyết các trường hợp đề nghị
miễn giảm thuế, hoàn thuế. Lập các thủ tục xét miễn, giảm, hoàn thuế, kiểm tra hồ
sơ quyết toán thuế. Cung cấp thông tin về kết quả xét miễn, giảm, hoàn thuế và
quyết toán thuế cho bộ phận tính thuế.
- Thực hiện việc ấn định thuế cho các đối tượng nộp thuế không nộp hoặc
nộp chậm tờ khai thuế. Xác định các đối tượng nộp thuế cần phát hành lệnh thu
hoặc phạt hành chính thuế.
- Theo dõi tình hình nộp thuế. Phối hợp với phòng TT-XLTT thực hiện kiểm
tra sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ mua bán của các đối tượng có hiện tượng
khai man thuế, trốn lậu thuế
thuế.
- Kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý thu và tính thuế của các
bộ phận quản lý thu và bộ phận tính thuế để kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong
công tác quản lý thu thuế.
II.2.4.2. Nội dung quy trình:
II.2.4.2.1. Quy trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế.
Doanh nghiệp ra kinh doanh phải liên hệ với Cục thuế (bộ phận ấn chỉ thuế)
để nhận và kê khai tờ khai đăng ký thuế theo mẫu quy định. Sau đó doanh nghiệp
gửi tờ khai đăng ký thuế kèm theo bản sao có công chứng quyết định thành lập và
giấy phép kinh doanh tới cơ quan thuế để được cấp mã số thuế.
Phòng hành chính sẽ nhận tờ khai đăng ký thuê của doanh nghiệp và nhận
các tệp tờ đăng ký từ các Chi cục gửi lên và ghi sổ nhận đăng ký thuế. Phân loại tờ
khai theo từng phòng quản lý thu để chuyển cho phòng quản lý thu và chuyển các
tệp đăng ký thuế của các Chi cục cho phòng KH-KT-TK (MT).
Phòng quản lý thu tiến hành kiểm tra các tờ khai đăng ký thuế, tiến hành sửa
đổi nếu có sai sót và chuyển tờ khai đăng ký thuế đã kiểm tra cho phòng KH-TK-
KT (MT). Phòng này nhận các tệp tờ khai và các tờ khai từ Chi cục và phòng quản
lý thu, thực hiện nhập các thông tin vào máy tính. Máy tính sẽ gán mã số thuế cho
đối tượng nộp thuế. Cán bộ thuế nhập đăng ký thuế sẽ ghi lại mã số cho đối tượng
nộp thuế vào tờ khai đăng ký. Phòng KH-TK-KT (MT) truyền dữ liệu đăng ký thuế
về Tổng cục để kiểm tra tránh sự trùng lắp mã số trên toàn quốc. Sau khi kiểm tra
Tổng cục sẽ gửi trả kết quả cho Cục thuế và phòng KH-KT-TK (MT) tiến hành in
giấy chứng nhận đăng ký thuế và bảng kê danh sách mã số đối tượng nộp thuế
chuyển cho các phòng quản lý thu và các Chi cục để gửi tới đối tượng nộp thuế.
II.2.4.2.2. Quy trình xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế.
Phòng hành chính nhận tờ khai thuế, ghi sổ theo dõi và chuyển tờ khai cho
các phòng quản lý thu. Phòng quản lý thu nhận tờ khai và tiến hành kiểm tra phát
hoàn thuế cho doanh nghiệp. Thời gian cơ quan thuế nhận xử lý hồ sơ hoàn thuế và
ra quyết định hoàn thuế chỉ được kéo dài tôí đa không quá 30 ngày. Trong thời gian
5 ngày kể từ khi nhận được quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế, kho bạc thực
hiện thủ tục hoàn thuế, lập chứng từ hoàn thuế và gửi 1 liên chứng từ hoàn thuế cho
cơ quan thuế.
II.2.4.2.4. Quy trình xử lý miễn thuế, giảm thuế, tạm giảm thuế.
Đối tượng nộp thuế thuộc diện được miễn, giảm, tạm giảm thuế theo luật
thuế phải lập hồ sơ đề nghị được miễn, giảm, tạm giảm thuế theo quy định để gửi cơ
quan thuế. Phòng quản lý thu có nhiệm vụ hướng dẫn, giải thích các thủ tục lập hồ
sơ để nghị miễn, giảm, tạm giảm thuế cho các đối tượng nộp thuế.
Phòng hành chính nhận hồ sơ đề nghi và ghi vào sổ nhận hồ sơ theo mẫu,
đóng dấu ngày nhận vào đơn đề nghị và chuyển tới các phòng quản lý thu.
Phòng quản lý thu nhận hồ sơ tiến hành kiểm tra thủ tục hồ sơ để xác định số
thuế được miễn, giảm, tạm giảm. Sau đó trình lãnh đạo duyệt. Phòng hành chính
nhận được quyết định miễn, giảm, tạm giảm sao thành 3 bản: 1 bản lưu tại phòng
hành chính, 1 bản cho phòng quản lý thu, 1 bản cho đối tượng nộp thuế.
Phòng quản lý thu căc cứ vào quyết định miễn, gảm, tạm giảm thuế để lập
danh sách kết quả miễn, giảm, tạm giảm theo mẫu.
Phòng KH-TK-KT (MT) nhận danh sách quyết định nhập số thuế được miễn,
giảm, tạm giảm để điều chỉnh số thuế phải nộp từng kỳ của đối tượng nộp thuế.
II.2.4.2.5. Quy trình xử lý quyết toán thuế.
Đối tượng nộp thuế trong thời hạn 60 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch
phải lập và gửi quyết toán thuế cho cơ quan thuế. Đối với đối tượng nộp thuế chia,
tách, sát nhập, giải thể trong thời hạn 45 ngày kể từ khi có quyết định sát nhập, chia
tách, giải thể
Phòng hành chính nhận quyết toán thuế, ghi vào sổ theo mẫu và đóng dấu
ngày nhận vào rồi chuyển tới các phòng quản lý thu. Phòng quản lý thu có trách
nền kinh tế hàng hoá phát triển nhanh chóng và đúng hướng; thúc đẩy các cơ sở
thực hiện hạch toán kinh doanh, huy động triệt để các nguồn vốn ngày càng có hiệu
quả, sử dụng nguồn lao động, thiết bị tốt hơn.
Công tác thuế góp phần quan trọng phát huy mặt tốt của nền kinh tế thị
trường và hạn chế mặt trái của nó. Một trong những “trục trặc” của cơ chế thị
trường là sự phân hoá thu nhập giữa người giàu và người nghèo, dễ phát sinh tệ nạn
tham nhũng làm tha hoá bản chất đạo đức do kinh doanh chạy theo lợi nhuận bất
chấp cả luật pháp. Hoạt động thu thuế góp phần điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội và tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa
các chủ thể kinh doanh.
Công tác quản lý thu thuế NQD có vai trò giáo dục ý thức và trách nhiệm của
công dân trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Thông qua công tác tuyên
truyền pháp luật thuế của ngành thuế đã làm cho mọi người biết và hiểu các quy
định của Nhà nước để chấp hành. đối tượng nộp thuế thuộc khu vực KTNQD rất đa
dạng và phức tạp, nhiều nơi có trình độ dân trí chưa cao, ý thức chấp hành luật pháp
của nhân dân chưa nghiêm, sự hiểu biết về pháp luật và nhận thức về trách nhiệm
nghĩa vụ của công dân chưa đầy đủ, thông qua công tác quản lý thu thuế cán bộ thuế
đã truyền đạt chính sách pháp luật của đảng và Nhà nước, giới thiệu, giải thích
chính sách thuế cho đối tượng nộp thuế để họ hiểu và tự giác thực hiện nghĩa vụ của
mình. Từ đó, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách.
III. Kinh nghiệm về quản lý thu thuế ở các nước trên thế giới:
Thứ nhất, về chế độ kê khai, đăng ký và cấp mã số thuế:
Trước khi bắt đầu hoạt động, các cơ sở kinh doanh phải kê khai, đăng ký
thuế và nhận một mã số thuế riêng cho đơn vị , được ghi vào máy tính. Mọi hoạt
động kinh doanh đều phải được thường xuyên bổ sung vào hồ sơ theo mã số hoá
của đơn vị, thuận tiện cho việc tra cứu và xác định căn cứ tính thuế. Định kỳ theo
quy định của cơ quan thuế đối tượng nộp thuế phải lập tờ khai theo mẫu và trực tiếp
Cơ quan thuế phải được trang bị đầy đủ về phương tiện làm việc: trụ sở,
phương tiện đi lại, mạng vi tính
Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh ở Cục thuế Hà
nội.
I. Khái quát chung về Cục thuế Hà nội:
I.1. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục thuế Hà nội:
Cục thuế Hà nội là một trong 61 Cục thuế trong cả nước được thành lập theo
Quyết định số 314TC/QĐ-TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ trưởng Bộ tài chính về
việc thành lập Cục thuế Nhà nước. Cục thuế Hà nội ngoài đặc điểm là thực hiện
nguyên tắc song trùng lãnh đạo (vừa được sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng cục thuế
về nghiệp vụ cũng như về chỉ tiêu được giao thực hiện trong năm, vừa được sự lãnh
đạo về nhiều mặt của UBND tỉnh, thành phố nơi Cục thuế đóng trụ sở), còn có đặc
điểm riêng là đóng trên địa bàn Hà nội-thủ đô của cả nước, nơi có nhiều cơ quan
trung ương đóng. Do vậy, Cục thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chịu nhiều
yếu tố tác động từ bên ngoài.
Về tổ chức bộ máy hành thu: Cục thuế Hà nội bao gồm 18 phòng (1800
người), trong đó có 10 phòng quản lý thu và 8 phòng thực hiện các chức năng khác,
ngoài ra có 12 chi cục thuế quận, huyện ở khắp trên địa bàn Hà nội.
Phòng
thu
ế
đ
ầu
Phòng
thu
ế
Phòng
thu
ế
Phòng
thu
ế v
ăn
Phòng
Phòng
Máy tính
Phòng
TCCB
Phòng
Hành
Phòng
TT
-
XL
-
TT
Phòng
ấn chỉ
Phòng
Tài v
ụ
Chi cục
thu
ế
Chi cục
thu
ế