THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC
DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH.
2.1 Khái quát về các Doanh nghiệp nhà nước( DNNN) trên địa bàn tỉnh Nam Định.
2.1.1Số lượng doanh nghiệp và lực lượng lao động của các DNNN trên địa bàn tỉnh
Nam Định.
Theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/2004, trên địa bàn tỉnh Nam Định có
214 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có tới 137 DNNN còn mại là các loại hình
doanh nghiệp khác. Trong số các DNNN thì có 94 doanh nghiệp do trung ương quản
lý và có 43 doanh nghiệp do địa phương quản lý.
Qua số liệu thống kê trên ta thấy DNNN là loại hình doanh nghiệp hoạt động chủ
yếu trên địa bàn tỉnh Nam Định: số lượng DNNN chiêm tới 64,02% trong tổng số
doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn. Không những chiếm lệ lớn về số lượng mà lực
lượng lao đông lam việc trong các DNNN cung chiêm đa số trong tổng số lao động
đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn cụ thể là: số lượng lao động đang làm
việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn là 124.000 lao động thì trong đó có tới 83.000
lao động đang làm việc tại các DNNN, với tỷ trọng là 66,93% trong tổng số lao động
đang làm việc tai các doanh nghiệp trên địa bàn.
Như vậy DNNN là một loại hình doanh nghiệp có quy mô rất lớn trên địa bàn
tỉnh Nam Định: với số lượng lao động ngày càng đông đảo, số vốn đầu tư vào đây
ngày càng nhiều đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của DNNN đối với giá
trị sản xuất kinh tế trên địa bàn tỉnh Nam Định, bên cạnh đó việc cổ phần hoá các
DNNN tại Nam Định đang diễn ra rất mạnh mẽ, những doanh nghiệp đang làm ăn
thua lỗ sau khi có thêm vốn do cổ phần hoá thì cũng đã thoát khỏi tình trạng khó khăn,
ngày càng ổn định trong sản xuất kinh doanh.
Những năm qua là thời gian mà các DNNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Nam
Định đã thay đổi rất nhiều từ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trong thời gian dài,
ngày càng thu hẹp sản xuất, lực lượng lao động bị thất nghiệp rất lớn, đến nay thì nhìn
chung các DNNN này đã ổn định được sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế,
tạo nhiều việc làm cho người lao động, và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với
NSNN cụ thể như : công ty Dệt Nam Định ở năm 1994 làm ăn thua lỗ, người lao động
trên địa bàn cũng như nhiệm vụ và vai trò của nó trong việc thúc đẩy nền kinh tế của toàn
tỉnh đi lên.
Nhưng qua đây ta cũng biết được thực tế của việc gía trị sản xuất của khu vực kinh
tế nước ngoài còn rất thấp. Như vậy tỉnh Nam Định vẫn chưa thu hút được nhiều vốn đầu
tư nước ngoài.
Như vậy tuy chưa phải là một tỉnh có giá trị sản xuất lớn, có đóng góp nhiều vào
NSNN, cũng không phải là trung tâm kinh tế như Hà Nội, Hải Phòng…
Nhưng những năm qua kinh tế tỉnh Nam Định đã đạt được những thành công đáng
ghi nhận, giá trị sản xuât đạt được khá cao đặc biệt là giá trị sản xuất của các DNNN trên
địa bàn là rất lớn. Với một lực lượng lao động rất đông đảo về số lượng và cao về chất
lượng, với doanh thu lớn và đóng góp vào NSNN một phần không nhỏ. Vì vậy Nam Định
cần tiếp tục phát huy tốt những thành quả đã đạt được và ngày càng quản lý tốt các khu
vực kinh tế trong tỉnh, cũng như công tác quản lý thuế TNDN ở các DNNN. Để ngày càng
phát huy được tiềm năng của tỉnh Nam Định.
2.2 Khái quát kêt quả của việc quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại Cục thuế Nam
Định.
2.2.1 Kết quả của việc quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại Cục thuế Nam Định.
Trong những năm qua nganh thuế Nam Định đã thực hiện thành công nhiệm vụ trọng
tâm đó là tổ chức chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN. Tổng thu NSNN tăng đều theo
các năm, năm sau cao hơn năm trước.
Bảng 2:Tình hình thu thuế của Cục thuế Nam Định trong 3 năm gần đây.
STT Loại thuế 2002 2003 2004
1 Thuế GTGT 28.541.671.352 29.862.731.642 29.942.332.567
2 Thuế TNDN 37.707.034.463 40.404.003.396 47.757.189.703
3 Thuế TTĐB 1.832.642.323 1.952.541.327 1.982.562.732
4 Thuế Môn Bài 5.345.532.721 5.425.231.798 5.896.214.721
5 Lệ phí trước bạ và thu
khác
6.260.425.530 6.524.435.584 7.057.474.542
Trên bảng 2 là tình hình số thu thuế của một số loại thuế chủ yếu tại cục thuế Nam
nhiều hình thức phong phú đa dạng. Ngành thuế Nam Định đã phối hợp với nhiều
ngành khác đặc biệt là ngành thông tin, tư pháp các cơ quan làm công tác tuyên truyền
văn hoá tư tưởng cùng các cơ quan thông tin đại chúng, báo đài truyền hình để kịp thời
thông tin các tin tức cần thiết,các văn bản luật mới ban hành và với khẩu hiệu là “ nộp
thuế để xây dựng đất nước”. Bản thân Cục thuế Nam Định cũng đã tổ chức tập huấn,
phổ biến cho các đơn vị về các văn bản, thông tư mới về thuế để các doanh nghiệp
tránh khỏi những bỡ ngỡ ban đầu khi thực hiện.
2.2.2 Việc quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại phòng Quản lý DN số1- tại Cục
thuế Nam Định.
Phòng quản lý doanh nghiệp (QLDN) số1- Cục thuế Nam Định là một phòng chức
năng có nhiêm vụ quản lý thu thuế đối với các DNNN và một số doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài( trong đó có 137 DNNN và 5 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài). Trong những năm qua phòng đã thực hiện được tốt nhiệm vụ của mình với số
thu khá lớn, năm sau cao hơn năm trước.
2.2.2.1Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định.
Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1 được cụ thể là.
Bảng 3- Số thu thuế của một số loại thuế tại phòng QLDN sô1.
STT Loại thuế 2002 2003 2004
1 Thuế TNDN 28.641.670.531 29.862.732.641 30.056.247.580
2 Thuế GTGT 15.684.550.712 15.986.005.660 16.146.798.340
3 Thuế môn bài 2.695.534.751 2.954.347.230 3.246.754.694
4 Thuế TTĐB 964.346.763 1.026.396.450 1.285.585.735
Qua số thu về thuế của một số loại thuế chủ yếu của phòng QLDN số1 đối với các
DNNN ta thấy số thu về thuế TNDN chiếm tỷ trọng lớn nhất ( trong suốt 3 năm). Điều
quan trọng nữa là số thu vê tât cả các loại thuế đều tăng dần, năm sau cao hơn năm
trước và điển hình là số thu thuế TNDN đối với các DNNN tăng khá rõ qua 3 năm, nếu
năm 2002 chỉ thu được 28.641.676.531 đồng thì đến năm 2003 là 29.862.732.641 đồng
và đến cuối năm 2004 con số này là 30.056.247.580 đồng.
Những số liệu nói trên đã thể hiện được thành tích đáng khích lệ mà phòng QLDN số1
nói riêng và toàn Cục thuế Nam Định nói chung đã đạt được trong công tác quản lý
quản lý thuế TNDN trước hết chúng ta cần đi sâu vào xen xét thực trạng của công tác
quản lý thu thuế TNDN đối với các DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định tại Cục thuế
Nam Định.
2.3Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN của các DNNN trên địa bàn tỉnh
Nam Định- tại Cục thuế Nam Định.
2.3.1 Vấn đề quản lý đối tượng nộp thuế của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định.
Tính đến hết năm 2004 phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định quản lý thu thuế đối
với 142 đơn vị trong đó gồm:
+ Có 137 đơn vị là doanh nghiệp Nhà nước
+ Có 5 đơn vị là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Vì đối tượng nộp thuế do phòng QLDN số1 quản lý đa số là các DNNN ( với 137
doanh nghiệp) nên số đơn vị đăng ký thuế qua các năm là tương đối ổn định, tăng giảm
không đáng kể. Nếu có tăng hoặc giảm chủ yếu do các công ty ở các tỉnh khác đăt thêm
chi nhánh cơ sở sản xuất tại Nam Định. Vì vậy các đối tượng nộp thuế do phòng quản
lý đều chấp hành tương đối đầy đủ các quy định về đăng ký thuế. Nhờ đó mà công tác
cấp mã số thuế được tiến hành khẩn trương, thuận lợi.
Thực tế cho thấy trong số các đối tượng nộp thuế là các DNNN có một bộ phận
không nhỏ là các chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị hạch toán phụ thuộc. Nên theo
pháp luật thuế TNDN, số đối tượng có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế
TNDN mà phòng QLDN số1 quản lý chỉ chiếm khoảng 80% trong tổng số đơn vị mà
phòng quản lý. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét việc chấp hành các quy định về thời hạn
nộp tờ khai, chất lượng tờ khai và phân tích nguyên nhân của tình hình đó.
- Về thời hạn nộp tờ khai.
Theo quy định của pháp luật thuế TNDN, cơ sở kinh doanh có trách nhiệm kê khai và
nộp tờ khai thuế TNDN theo mẫu có sẵn( mẫu mới nhất là mẫu số 04/TNDN-
31/12/2004) và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất vào ngày 25/01 hàng
năm.
Theo thống kê cho thấy nếu như năm 2002 chỉ có 90% đối tượng nộp thuế nộp tờ khai
cho cơ quan thuế thì đến năm 2003 và 2004 gần như hầu hết các đối tượng nộp thuế
đều nộp tờ khai cho cơ quan thuế, tuy vẫn còn một số trường hợp nộp tờ khai chậm hơn
hiện đúng pháp luật thuế và thu đủ cho NSNN. Nhưng cũng cần phảI sửa đổi bổ sung
một số vấn đề trong luật cho phù hợp cho phù hợp với thực tế để hạn chế sai sót trong
quá trình kê khai.
2.3.2 Về quản lý doanh thu tính thuế thu nhập.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến việc xác
định thu nhập chịu thuế và số thuế phải nộp. Doanh thu của các đối tượng nộp thuế có
thể nhận được từ nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, từ nhiều chủ thể, từ nhiều địa
bàn khác nhau…do đó cơ quan thuế rất khó theo dõi, kiểm soát. Để đảm bảo tính đúng
số thuế TNDN mà đơn vị phải nộp, cơ quan thuế phải lưu ý tới rất nhiều vấn đề trong
đó đặc biệt phải quan tâm quản lý chặt chẽ doanh thu tính thuế.
Trong những năm gần đây, các DNNN trên địa bàn Nam Định đang từng bước hoạt
động có hiệu quả, khai thác được những thế mạnh của mình, có nhiều biện pháp thúc
đẩy phát triển sản xuất, mở rộng quy mô, đa dạng hoá ngành nghề và nâng cao chất
lượng sản phẩm…Do đó các doanh nghiệp này ngày càng có khả năng cạnh tranh cao,
nâng cao uy tín của doanh nghiệp, doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng, xuất hiện nhiều
hình thức doanh thu mới. Từ thực tế mới đặt ra những nhiệm vụ nặng nề cho công tác
quản lý thuế TNDN của phòng QLDN số1. Có quản lý tốt doanh thu tính thuế thì mới
đảm bảo xác định đúng thu nhập chịu thuế của đơn vị từ đó tính đúng và thu đúng thuế
TNDN cho NSNN.
Theo quy trình quản lý thu thuế TNDN hiện nay, khi lập tờ khai thuế TNDN đối tượng
nộp thuế phải ước tính tổng doanh thu thực hiện trong năm, các khoản chi phí hợp lý và
kê khai theo mẫu quy định. Kết thúc năm tài chính, đối tượng nộp thuế lập quyết toán
thuế TNDN kèm theo tờ khai chi tiết doanh thu, chi phí, thu nhập khác trên cơ sở hoạt
động thực tế diễn ra trong năm của đơn vị rồi gửi tới cơ quan thuế.
Xét trên góc độ nào đó thì việc tự kê khai tính thuế đã có tác dụng đề cao ý thức và sự
tự giác của đối tượng nộp thuế, vì đối tượng nộp thuế hoàn toàn chịu trách nhiệm về
hoá đơn, doanh thu của chi nhánh báo về không chính xác… Tuy nhiên điều mà cán bộ
thuế cần quan tâm hơn cả là hiện tượng kê khai thiếu doanh thu của các đối tượng nộp
thuế dẫn đến giảm số thuế TNDN phải nộp. Căn cứ vào biên bản kiểm tra quyết toán
thuế năm 2003 của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định, có thể kể một số đơn vị kê
Doanh thu khai thiếu 4 40% 28.834.740 30.484.765 1.650.025
Trong tổng số doanh thu khai thiếu của 4 đơn vị là 1.650.025 (1000đ), doanh thu khai
thừa của một đơn vị là 484.874 (1000đ), như vậy qua công tác kiểm tra đã phát hiện và
bổ xung vào doanh thu tính thuế là 1.165.151 (1000đ). Đây là một vấn đề chứng tỏ ý
thức của đối tượng nộp thuế vẫn chưa cao và công tác quản lý thu cũng chưa thật hiệu
quả. Ta thấy mới có 50% số đơn vị được thanh tra, kiểm tra là khai đúng doanh thu để
tính nộp thuế, còn lại là 40% doanh nghiệp đã kê khai thiếu doanh thu. Những đơn vị
có doanh thu thực tế nhỏ hơn hoặc lớn hơn doanh thu kê khai chủ yếu xuất phát từ một
số nguyên nhân thường gặp là: hạch toán trùng, hoá đơn đã báo huỷ vẫn kê khai, bỏ sót
doanh thu, do đó đã làm giảm doanh thu và thu nhập chịu thuế của năm 2003, vi dụ:
+ Công ty chế biến kinh doanh than Hà Nam Ninh khai thiếu doanh thu là 708996987
đồng.
+ Xí nghiệp may Nam Hải là 1.090.581.799 đồng
+Nhà máy đóng tầu Nam Hà 528.766.989 đồng.
Đi vào tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của vấn đề, có thể nhận thấy việc đơn vị hạch toán
sai doanh thu trong kỳ để làm giảm thu nhập chịu thuế trong năm, phân bổ một phần số
thuế phải nộp cho năm kế tiếp, thực chất là một cách nhằm trì hoãn việc nộp thuế, giảm
bớt căng thẳng về vốn cho đơn vị, cán bộ thuế cần sớm tìm ra biện pháp để khắc phục
nó.
+ Treo tài khoản công nợ.
Treo tài khoản công nợ là việc hàng bán đã chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị vẫn
treo ở tài khoản công nợ 131 chưa ghi vào tài khoản doanh thu bán hàng 511.
Hiện tượng trên có thể do các cán bộ kế toán của đơn vị có trình độ hạn chế dẫn đến áp
dụng sai chế độ kế toán hiện hành, do cố tình áp dụng sai để trốn thuế. Muốn loại bỏ
hiện tượng này, cách tốt nhất là phải xử phạt nghiêm minh các đơn vị cố tình làm sai và
tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế TNDN để đối tượng nộp thuế không thể tìm ra kẽ hở
có thể giúp họ có thể lẩn tránh trách nhiệm của mình.
+ áp dụng sai tỷ giá quy đổi.
Trong trương hợp những cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ có doanh thu bằng ngoại tệ
thì theo luật thuế TNDN quy định: phải có sự quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo