Lời nói đầu
Để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ,
khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của
người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước, Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) được
Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11(từ ngày 02 tháng 4 năm 1997 đến
ngày 10 tháng 5 năm 1997), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 1999. Sau
gần 8 năm thực hiện, Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã đi vào cuộc sống, phát
huy tác dụng tích cực trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hội như: khuyến khích
phát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu và đầu tư; thúc đẩy hạch
toán kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN;
tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế; góp phần tăng cường quản
lý hoạt động SXKD của doanh nghiệp nói chung và quản lý thuế nói riêng. Trong
quá trình thực hiện, Luật thuế GTGT đã được UBTVQH, Chính phủ, Bộ tài chính
sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm khắc phục những tồn tại, đảm bảo Luật
thuế GTGT phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn những vướng
mắc cần điều chỉnh. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XI (từ ngày 03
tháng 5 năm 2003 đến ngày 18 tháng 6 năm 2003) đã thông qua luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1
năm 2004.
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, Luật thuế GTGT cũng bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập như hệ thống thuế chưa đồng bộ và thường xuyên chỉnh sửa đã tạo
nhiều kẽ hở cho các đối tượng chịu thuế có cơ hội luồn lách, trốn lậu thuế, nảy
sinh nghi ngờ cho đối tượng chịu thuế về chính sách của Nhà nước. Đó chính là
những nguyên nhân gây thất thoát một phần lớn NSNN. Những hạn chế đó cần
phải có những biện pháp khắc phục để thuế GTGT phát huy hết vai trò của nó
trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
cũng như trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Trong thời gian thực tập tại chi cục thuế Hiệp Hoà - tỉnh Bắc Giang, cá nhân
tôi nhận thấy việc quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh tại địa bàn còn nhiều vấn đề nổi cộm cần giải quyết. Trong khi đó, đây lại là
khu vực đóng góp một phần không nhỏ số thu thuế GTGT của tỉnh. Với những
Bắc Giang, tháng 09 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Tuyến
2
CHƯƠNG I
THUẾ GTGT VÀ HIỆU QUẢ THU THUẾ GTGT
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu
quả quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.1.1.Vị trí, vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh (NQD)
trong nền kinh tế quốc dân:
1.1.1.1.Vị trí, vai trò của doanh nghiệp NQD:
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), với chủ trương đổi mới nền kinh tế,
Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát tiển nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn
tại, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Sau đó, tại các Đại hội Đảng lần
thứ VII và VIII, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
với nhiều thành phần kinh tế tiếp tục được khẳng định. Từ đó, các thành phần kinh
tế thuộc khu vực kinh tế dân doanh bao gồm: kinh tế hợp tác, kinh tế hộ kinh
doanh phát triển mạnh. Ngoài ra còn xuất hiện thêm thành phần kinh tế tư bản tư
nhân với các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân.
Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm 2005, khu vực kinh tế dân doanh
bao gồm khoảng 250.000 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân;
25.000 HTX hoạt động dịch vụ, sản xuất thương mại và khoảng 2,7 triệu hộ sản
xuất kinh doanh cá thể, thu hút trên 6 triệu lao động, đóng góp gần 40% tổng sản
phẩm quốc nội và nộp ngân sách khoảng từ 10% - 11% trên tổng số thu, chiếm
13% - 14% trên tổng số thu nội địa, trừ dầu và các loại thuế xuất nhập khẩu, thuế
nhà đất, phí, lệ phí...
Kinh tế dân doanh phát triển, đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp phát
triển mạnh đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách
hay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt động
SXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nước cùng
tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý. Tuy nhiên, xét về góc độ quản lý,
đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, có những đặc điểm riêng của các doanh
4
nghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế, thường là những thách thức nhiều
hơn là những thuận lợi.
Thứ nhất là đặc điểm về sở hữu: Đây là đặc điểm khác biệt nhất, đối với khu
vực kinh tế dân doanh (trừ khối hợp tác), toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc
sở hữu tư nhân. Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu SXKD chịu trách nhiệm toàn
bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân
phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối
nào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý, do vậy họ luôn
tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế.
Thứ hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp
vụ: So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế đầu tư
nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ văn
hoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ
chuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả
SXKD của các doanh nghiệp NQD còn thấp, số đông các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có mục đích chính là mua đi, bán lại để kiếm
chênh lệch giá; còn một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì trình độ
công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao, do đó năng suất lao động và chất
lượng hàng hoá đạt được là không cao.
Thứ ba là đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn
hạn chế nêu trên, cho nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có trình độ nhận thức về
pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, biểu hiện rõ nhất là số
đông các cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định.
Thứ tư là đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các cơ sở kinh
doanh rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế,
công tác quản lý thuế phức tạp và gặp nhiều khó khăn.
6
- Do các cơ chế quản lý khác chưa đồng bộ, chưa hỗ trợ tích cực cho công tác
quản lý thu thuế, có nhiều cơ chế quản lý còn quá thông thoáng dẫn đến sơ hở cho
các cơ sở kinh doanh lợi dụng. Như việc các doanh nghiệp vẫn được phép thanh
toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường; Luật doanh nghiệp không có ràng
buộc về lý lịch người sáng lập hoặc người điều hành doanh nghiệp...
- Thu thuế để Nhà nước có nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,
chi tiêu cho bộ máy hành chính nhằm thực hiện các mục tiêu của Đảng, Nhà
nước đề ra. Như vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước đang trực tiếp sử dụng tiền
thuế thu được để chi tiêu, dù trực tiếp hay gián tiếp thì tiền thuế thu được là để
phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, nhưng nhận thức của các cấp, các ngành
và của nhân dân còn hạn chế, họ thường quan niệm việc thu thuế là công việc
riêng của ngành thuế. Vì vậy việc thu thuế của Nhà nước còn chưa nhận được sự
đồng tình ủng hộ. Chúng ta phải làm sao để việc thu thuế trở thành nhiệm vụ
chung của các cấp các ngành.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế vẫn còn hạn chế như cơ
quan thuế chưa có quyền được điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm pháp luật thuế,
chưa có quyền tổ chức cưỡng chế các hành vi trây ỳ, dây dưa, nợ đọng tiền thuế.
* Nguyên nhân chủ quan:
- Trước hết, do nhận thức của thủ trưởng cơ quan thuế ở một số địa phương
và của cán bộ quản lý thu thuế tại các cơ sở dân doanh chưa đúng. Biểu hiện ở
những điểm sau:
+ Do số thu từ khu vực dân doanh nhỏ, chiếm tỷ trọng ít, không quyết định
đến việc hoàn thành dự toán nên thường không tập trung chỉ đạo.
+ Số lượng đối tượng quản lý lớn lại hay có phản ứng tiêu cực nên cơ quan
thuế và các cán bộ thuế thường ngại va chạm.
- Trong quản lý thu thuế, khu vực kinh tế dân doanh chưa thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ các quy trình và biện pháp nghiệp vụ do ngành thuế đề ra, chưa tranh
thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự phối hợp giữa
cán bộ; vi phạm biên lai ấn chỉ: 82 lượt cán bộ; thiếu tinh thần trách nhiệm gây ra
tổn thất: 45 lượt cán bộ; vi phạm 10 điều kỷ luật của ngành thuế: 63 lượt cán bộ; vi
phạm khác: 44 lượt cán bộ. Số cán bộ đã xử lý kỷ luật, khiển trách: 98 cán bộ; hạ
bậc 14 cán bộ; hạ ngạch: 10 cán bộ; cách chức: 36 cán bộ; buộc thôi việc: 26 cán
bộ; khởi tố: 4 cán bộ; truy tố: 1 cán bộ; số tiền phải bồi thường và đã thu hồi là 68
triệu đồng.
1.2. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT:
1.2.1.1. Khái niệm thuế GTGT:
Thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết một phần vào
thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Mọi tổ chức, cá nhân thông qua
việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào
ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.
1.2.1.2. Đặc điểm của thuế GTGT:
Thuế GTGT ở Việt Nam có những đặc điểm nổi bật sau:
- Thuế GTGT là loại thuế có tính chất gián thu: đối tượng nộp thuế GTGT
là người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng
hàng hoá, dịch vụ, bởi vì thuế GTGT ẩn trong giá bán ra của hàng hoá, dịch vụ. Nói
cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua
người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ.
- Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn sản xuất kinh doanh. Đối tượng
điều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của người tiêu dùng sử dụng để mua
hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng hoá và
cung cấp dịch vụ là đủ. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng
cuối cùng, đâu là tiêu dùng trung gian, vì thế cứ có hành vi mua bán hàng thì phải
tính thuế, nếu đó là tiêu dùng trung gian thì số thuế sẽ được tự động chuyển vào giá
bán hàng hoá cho người mua ở giai đoạn sau.
9
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức đơn
vị sự nghiệp khác.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia
hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nước
ngoài và các tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Các cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanh độc
lập và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.
1.2.2.1.3. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế:
- Tại điều 4 Luật thuế GTGT quy định: 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không
thuộc diện chịu thuế , được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Không thu thuế GTGT đối với một số ngành sản xuất trong các lĩnh vực
đang còn khó khăn, cần khuyến khích, tạo điều kiện phát triển như: Sản xuất nông
nghiệp (đối với những sản phẩm sơ chế, cho những người trực tiếp sản xuất, trực
tiếp khai thác, bán ra), hoạt động tưới tiêu, muối...
- Không thu thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, phục vụ nhu
cầu đời sống cộng đồng xã hội như: dịch vụ khám chữa bệnh, dạy học, dạy nghề...
- Không thu thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ sử dụng không nhằm mục
đích kinh doanh hoặc vì các mục đích chính sách xã hội, nhân đạo như: vũ khí; khí
tài nguyên chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; các hoạt động di tu, sửa chữa;
các công trình văn hoá nghệ thuật...
- Không thu thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ liên quan đến công
nghệ, vốn đầu tư như: Thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc
loại trong nước chưa sản xuất được.
- Không thu thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ thể hiện quan
điểm quản lý ưu đãi có mức độ đối với sản xuất kinh doanh như: Hàng hoá, dịch vụ
cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế và đối tượng tiêu dùng ngoài Việt Nam.
11
Ngoài ra, hàng hoá của những cá nhân sản xuất, kinh doanh có thu nhập bình
trong nước là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT; ở khâu nhập
khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng thuế nhập khẩu (nếu có) cộng thuế TTĐB.
* Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định;
1.2.2.2.2. Thuế suất.
Luật thuế GTGT hiện hành có 3 mức thuế suất được áp dụng:
+ Mức thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu.
- Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả hàng hoá gia công xuất khẩu và
hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu; trừ các trường hợp
sau: Vận tải quốc tế, hàng hoá dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế, dịch
vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài, dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư chứng
khoán ra nước ngoài và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thác
chưa qua chế biến do Chính phủ quy định.
- Hàng hoá xuất khẩu bao gồm: Xuất khẩu ra nước ngoài, bán cho doanh
nghiệp khu chế xuất và các trường hợp được coi là xuất khẩu theo quy định của
Chính phủ.
- Dịch vụ xuất khẩu: Là dịch vụ đã được cung cấp trực tiếp cho tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam.
+ Mức thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu.
+ Mức thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thông thường.
* Lưu ý:
- Khi thanh lý tài sản, phế liệu phế phẩm áp dụng thuế suất thuế GTGT của
loại hàng hoá dạng chính phẩm.
- Các mức thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hoá,
dịch vụ, không phân biệt hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu, trong nước, ở khâu sản xuất
và kinh doanh thương mại.
1.2.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT:
Tại điều 9 Luật thuế GTGT quy định: “Thuế GTGT phải nộp được tính theo
phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng”.
13
Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
Số thuế GTGT phải
nộp
=
GTGT của hàng
hoá,dịch vụ
chịu thuế.
x
Thuế suất thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ đó.
14
Trong đó:
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ chịu
thuế
=
Doanh số của
hàng hoá, dịch
vụ bán ra
-
Giá vốn của hàng hoá,
dịch vụ bán ra.
1.2.2.4. Quy định về hoá đơn, chứng từ:
Tại điều 11 luật thuế GTGT quy định như sau:
- Việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ đều phải có hoá đơn, chứng từ theo quy
định của pháp luật.
- Các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế phải sử
dụng hoá đơn GTGT và phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định, trong đó ghi rõ
giá bán, khoản phụ thu, phí thu thêm, khoản thuế GTGT, giá thanh toán.
- Đối với các loại tem, vé được coi là chứng từ thanh toán đã in sẵn giá
thanh toán thì giá thanh toán tem, vé đó đã bao gồm thuế GTGT.
- Phòng thanh tra tại Cục thuế và tổ thanh tra- kiểm tra tại Chi cục thuế (sau
đây gọi chung là phòng /tổ thanh tra ).
- Phòng hành chính - lưu trữ tại Cục thuế và tổ hành chính tại Chi cục thuế
( sau đây gọi chung là Phòng / tổ hành chính ).
- Phòng tổng hợp - dự toán Cục thuế.
- Phòng quản lý ấn chỉ Cục thuế và tổ quản lý ấn chỉ Chi cục thuế (sau đây
gọi chung là phòng / tổ QLAC ).
- Tổng cục thuế: Các ban quản lý thuế đối với doanh nghiệp và trung tâm tin
học - thống kê.
1.3.2. Nội dung của quy trình:
Thực hiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp có 6 nội dung chính, được
biểu diễn thông qua các sơ đồ dưới đây.
1.3.2.1.Đăng ký thuế:
Bao gồm 2 việc chính: Là đăng ký cấp mã số thuế và đóng mã số thuế.
1.3.2.1.1. Đăng ký cấp mã số thuế:
16
Phòng TT-TH
Phòng / tổ HC
Phòng /Tổ
TH-XLDL
Phòng /đội QLDN
Phòng /Tổ
QLAC
1
1
1
10
Quy trình đăng ký cấp mã số thuế được thể hiện cụ thể ở sơ đồ sau:
(Biểu 1)
* Nhận xét:
đăng ký thuế.
1.3.2.1.2.Đóng mã số thuế:
a) Đóng mã số thuế đối với doanh nghiệp gửi hồ sơ đề nghị đóng mã số
thuế: (biểu 2).
Phòng/tổ
TH-XLDL
Ngày
1
1. Nhận và kiểm
tra hồ sơ
6. Thông báo DN
đóng mã số
2. Nhập tình trạng
ngừng hoạt động
5. Đóng mã số
3. Quyết toán
hoá đơn
4. Quyết toán thuế
Phòng/ tổ
QLAC
Phòng/đội
QLDN
1
10
20
18
b)Đóng mã số thuế đối với những doanh nghiệp không còn tồn tại:
(biểu 3).
1. Phát hiện DN
ngừng kê khai
Gửi thông sửa và
điều chỉnh TK
1.2. Kiểm tra,
thông báo TK
sai thủ tục (2)
2. Nhập, xác
định TK lỗi
3. Sửa lỗi
TK
5. Nhập chứng từ hạch
toán sổ thuế
7. Báo cáo tình
hình xử lý TK
4.1. Đôn đốc phạt
HC
4.3 . In thông báo
ấn định thuế
4.2. Ân định thuế
6. Phân tích tình
trạng kê khai
Bán hoá đơn
Phòng/ tổ
TT-HT
Phòng/ tổ
HC
Phòng/ tổ
TH-XLDL
Phòng/ đội
QLDN
Phòng/ tổ
nợ thuế
Gửi các thông báo và quyết định
Bộ phận
Phòng/đội
QLDN
Phòng /tổ
TH-XLDL
Phòng /tổ
HC
Ngày
10 hàng
tháng
10 ngày sau
hạn (15-20)
Bộ phận Ngày
Phòng/tổ
HC,
Thanh tra
1
50
21
*Nhận xét:
Những điểm khác so với quy trình 1368:
- Phòng/ tổ XLDL lập uỷ nhiệm chi.
- Kết hợp phân tích số liệu hồ sơ hoàn với việc phân loại doanh nghiệp theo
một số tiêu chí hoàn trước hay kiểm trước.
- Yêu cầu lập phiếu nhận xét hồ sơ hoàn và phiếu kết quả xét hoàn.
- Phòng/tổ TH-DT thẩm định hồ sơ hoàn thuế của Chi cục.
- Phòng/đội QLDN lập báo cáo tình hình hoàn và phòng/ tổ XLDL lập báo
cáo tổng hợp.
Phòng/tổ
HC
1
20
2
5
BC tháng
1
1. Nhận báo cáo QT
Ghi sổ nhận
Bộ phận Ngày
Phòng/tổ
HC
1
22
*Nhận xét:
Những điểm khác về xử lý quyết toán thuế so với quy trình 1368:
- Phòng/ tổ TH- XLDL nhập số liệu quyết toán theo báo cáo của doanh nghiệp.
- Phòng/ đội QLDN phân tích, đối chiếu số liệu quyết toán.
- Cơ quan thuế không được tự điều chỉnh số liệu báo cáo quyết toán, chỉ
thông báo để đối tượng nộp thuế tự điều chỉnh báo cáo quyết toán thuế.
- Quản lý tình trạng quyết toán.
- Thông báo kết quả xét quyết toán.
1.3.2.6. Xử lý miễn, giảm thuế:
Quy trình xử lý miễn, giảm thuế được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau: (biểu 8).
2. Kiểm tra thủ tục QT
TB sửa đổi QT
3. Nhập, phát hiện
lỗi QT, hạch toán
thuế
Bộ phận Ngày
1. Nhận hồ sơ
ghi sổ nhận
Phòng/ tổ HC
1
23
1.4.Ưu điểm và điều kiện áp dụng của thuế GTGT ở Việt Nam:
1.4.1.Ưu điểm của thuế GTGT:
Cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới, đối với đời sống kinh tế
của nước ta, thuế luôn đóng vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý,
điều tiết sản xuất kinh doanh cũng như phân phối tiêu dùng, thúc đẩy phát triển
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN.Vì vậy có một hệ thống chính
sách thuế phù hợp, đồng bộ, hoàn thiện và luôn theo kịp sự vận động, phát triển của
nền kinh tế và mở cửa hội nhập kinh tế với các nước khu vực và trên toàn thế giới
là điều thực sự cần thiết và hết sức cấp bách.
Quán triệt tinh thần đó, ngày 10 tháng 5 năm 1997 Luật thuế GTGT đã được
Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 11 thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 1999 và được sửa đổi bổ sung tại kỳ họp thứ 3 quốc hội khoá XI ngày 18
tháng 6 năm 2003, có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2004.
2. Kiểm tra TTHS
thông báo HS chưa đạt
3. Kiểm tra XĐ số thuế
được miễn, giảm
8. Báo cáo tổng hợp
kết quả quyết toán
4. Lập hồ sơ trình
xét miễn, giảm
4.1. Thẩm định HS
miễn giảm của Chi cục
6. Xử lý kết quả QĐ
thuế chủ yếu" bao gồm hầu như toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế. Thuế GTGT không những đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nước mà còn đánh vào khâu nhập khẩu hàng hoá, một phần làm tăng nguồn
thu cho NSNN, tăng giá vốn hàng nhập khẩu, hạn chế hàng nhập khẩu; một phần
khuyến khích và bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa, "và sẽ bù đắp được
nguồn thu thuế nhập khẩu khi cắt giảm thuế theo cam kết quốc tế”.
- Thuế GTGT chỉ áp dụng 3 mức thuế suất đã tạo điều kiện thuận lợi hơn
trong việc tính thuế của đối tượng nộp thuế và trong quản lý thuế của cơ quan thuế
chức năng.
- Thuế GTGT góp phần khuyến khích hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu trên cơ sở
áp dụng thuế suất 0% đối với mặt hàng xuất khẩu, do đó làm giảm giá thành của
mặt hàng xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Thuế GTGT được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ
vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước. Do đó thuế
GTGT khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh khi mua hàng hoá phải có hoá
đơn đầu vào và khi bán hàng hoá phải xuất hoá đơn theo quy định. Với nguyên tắc
đó, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế được những sai sót, gian lận trong việc ghi
chép hoá đơn.
25