TIỂU LUẬN:
Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu
chè của Việt Nam sang thị
trường Trung Quốc
LỜI MỞ ĐẦU Xu hướng mở cửa nền kinh tế , cùng với sự hội nhập ngày càng sâu hơn vào
các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới và trong năm 2007 vừa qua Việt
THỊ TRƯỜNG
TRUNG QUỐC
1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM CHÈ VIỆT NAM
1.1.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ Ở VIỆT NAM.
Hiện nay nước ta có 35 tỉnh thành trồng chè tổng diện tích khoảng 125000 ha,
nhưng phần nhiều được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây
Nguyên. Trong đó các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc chiếm khoảng 74.8% diện
tích chè toàn quốc.
Theo thống kê cho thấy, chỉ tính riêng các doanh nghiệp chế biến chè, hiện
nay nước ta có hơn 650 cơ sở công nghiệp với tổng công suất trên 3100 tấn búp
tươi/ngày. Nhưng với sản lượng 546000 tấn chè búp tươi năm 2005 thì mới chỉ đáp
ứng được khoảng 88% nhu cầu nguyên liệu chè búp cho các cơ sở chế biến này.
Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở chế biến chè thủ công bán chuyên nghiệp
cùng tham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế và nhiều cơ sở đấu trộn ướp hương
đóng gói chè. Sản phẩm hiện nay chủ yếu bao gồm các loại chè đen, chè xanh, chè
dược thảo, các loại chè Suối Giàng, Tân Cương, chè Lục, chè Thái và các loại chè
hương sen, nhài, ngâu, sói, chè ướp hương tổng hợp.
Tuy là nước đứng thứ 5 thế giới về diện tích trồng chè nhưng thị trường tiêu
thụ của sản phẩm chè Việt Nam còn rất hạn chế. Do nhiều nguyên nhân một trong
số đó là kỹ thuật sản xuất chế biến còn lạc hậu cho nên chưa phát huy hết tiềm năng
của ngành. Do việc thuê nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong năm trước đây đã
đẩy giá chè nguyên liệu lên cao ở mức kỷ lục. Giá chè tươi đã có lúc lên tới
9000đồng / kg. Theo điều tra cũng cho thấy các doanh nghiệp chỉ tự sản xuất được
gần một nửa nguyên liệu, còn lại phải mua ngoài. Tính bình quân, các doanh nghiệp
thành viên của tổng công ty chè có nguồn nguyên liệu tại chỗ chỉ chiếm 37.2% sản
lượng còn 62.8% thu mua trôi nổi trên thị trường. Chính việc các công ty, doanh
nghiệp không chủ động được nguyên liệu đầu vào đã làm cho việc sản xuất chế biến
chè ở Việt Nam ở tình trạng bất ổn định nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu của
thị trường.
Theo thống kê sơ bộ, 4 tháng đầu năm 2007 , xuất khẩu chè các loại của Việt
Nam đạt 27000 tấn, trị giá 26 triệu USD, tăng 8% về lượng và 4% về giá trị so với cùng kì 2006. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo, nếu chất lượng chè và các tiêu
chuẩn không được cải thiện thì mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu cảu ngành trong
năm nay sẽ khó thực hiện được.
Theo đánh giá của Hiệp Hội Chè Việt Nam thì giá chè xuất khẩu của Việt
Nam những năm gần đây đang có xu hướng giảm mà nguyên nhân sâu xa đó là do
chất lượng chè của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường chè cấp cao
cả về giống, phương pháp canh tác và chế biến. Hiện nay , Việt Nam đang mất dần
thị trường tiêu thụ do chất lượng chè không đáp ứng được yêu cầu của các thị
trường quen thuộc, vì vậy ngành chè Việt Nam cần có những giải pháp nhằm đưa
ngành chè Việt Nam đứng vững trên thị trường thế giới. Mà trước tiên phải tạo mối
quan hệ vững chắc giữa người sản xuất và các doanh nghiệp chế biến, tạo sự ổn
định cho sản xuất và đầu ra ổn đinh cho người trồng chè . Và ngay từ bây giờ chúng
ta phải sản xuất chè an toàn, chất lượng phải đáp ứng được yêu cầu tiêu thụ nội địa
cũng như xuất khẩu. Mặt khác, cũng cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn , cũng như
hành lang pháp lý đảm bảo chè Việt Nam sản xuất ra đúng chất lượng . Ngành chè
cũng nên kết hợp với các tổ chức quốc tế để chứng nhận chất lượng cho chè Việt
Nam, có chứng nhận đó thì chè Việt Nam sẽ tạo được thị trường ổn định và bán
được với giá cao.
1.1.2. Thói quen dùng trà thể hiện nét văn hoá của người Việt Nam cũng
như nhiều quốc gia khác.
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa. Và người Việt Nam
trồng chè dưới 2 loại hình đó là : chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng
chè đồng bằng Sông Hồng; còn ở vùng núi phía Bắc, người dân ở đó uống chè mạn,
lên men một nửa như vùng Hà Giang, Bắc Hà,… Điều đó chứng tỏ người Việt Nam
có thói quen dùng trà từ rất lâu đời. Ngày nay, đó còn thể hiện nét đẹp trong văn
hoá của người Việt.
thương mại quốc tế góp phần mở rộng thih trường tiêu thụ, tăng năng suất, sản
lượng sản xuất ra. Xuất khẩu có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì
vậy xuất khẩu chè cũng đóng vai trò quan trọng trong họat động xuất khẩu của Việt
Nam.
1.2.1. Sản xuất, xuất khẩu chè mang lại lợi ích kinh tế.
Sản xuất, xuất khẩu chè góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ các loại sản
phẩm từ chè giúp cho quá trình sản xuất diễn ra một cách hiệu quả với năng suất
cao. Nhờ có xuất khẩu các nước trên thế giới có thể biết tới chè Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp làm tốt công tác thị trường, hậu cần, công tác Marketing quốc tế thì
đây là cơ hội để các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể,
xuất khẩu chè góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc gia, tăng thu từ ngoại tệ,
tăng dự trữ ngoại tệ, từ đó tạo điều kiện mua sắm máy móc thiết bị sản xuất tiên tiến
để cải tiến kỹ thuật sản xuất lạc hậu nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Bên cạnh đó xuất khẩu chè còn góp phần mở rộng liên doanh, liên kết giữa
trong và ngoài nước, mở rộng các quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh doanh,
khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có.
Xuất khẩu chè đặt ngành chè Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với
các sản phẩm chè của các quốc gia khác, vì vậy để giữ vững và phát triển được thị
trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng chè, đổi mới công nghệ
chế biến nhằm đưa ra thị trường sản phẩm tốt nhất, từ đó tạo động lực thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển.
Nhờ đổi mới công nghệ sản xuất chế biến các doanh nghiệp không những
nâng cao chất lượng mà còn tăng năng suất lao động, tiết kiệm được chi phí sản
xuất kinh doanh giúp cho doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững.
Năm 2006 xuất khẩu chè của Việt Nam đã đạt tới mức kỷ lục là 106 116 tấn
với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 111.6 triệu USD, góp phần đáng kể vào GDP,
GNP của Việt Nam.
1.3.2. Vấn đề về thương hiệu cho chè của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Phát triển một thương hiệu và định vị hợp lý thương hiệu đó chiếm lĩnh thị trường
trong nước và quốc tế hiện đang là bài toán lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất
và xuất khẩu chè nói riêng cũng như đối với nhiều doang nghiệp Việt Nam nói
chung. Trên thực tế, thương hiệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc cạnh
tranh khắc nghiệt thời kỳ hội nhập kinh tế.
Phát biểu tại hội thảo “ Phát triển và định vị thương hiệu” do Viện Phát triển doanh
nghiệp ( Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) tổ chức, vừa diễn ra ngày
24-7 tại Hà Nội, ông Phạm Thanh Hùng – Giám đốc Công ty Cổ phần EPIC Trí tuệ
kinh doanh, khẳng định: “Nếu chúng ta nắm trong tay một thương hiệu mạnh thì
cũng đồng nghĩa với việc có những khách hàng trung thành cũng như có được sự
hợp tác mạnh mẽ từ phía các đại lý”. Mặt khác, từ thương hiệu mạnh sẽ là cơ hội để
phát triển thương hiệu phụ dưới sự bảo trợ của thương hiệu chính. Như vậy là giá trị gia tăng tỷ lệ thuận với sự nổi tiếng của một nhãn sản phâm nào đó. Ngày nay, tiêu
dùng một sản phẩm không đơn thuần là tiêu dùng giá trị sử dụng của hàng hoá đó
mà nó luôn đi cùng với tên tuổi, sự nổi tiếng của nhãn hiệu đó. Vì vậy, mỗi sản
phẩm khi đưa ra thị trường ngoài việc đảm bảo chất lường tốt còn phải tạo dựng cho
nó một tên tuổi, một thương hiêu của riêng sản phẩm đó. Xây dựng thương hiệu cho
sản phẩm trên thị trường cũng là tạo lòng tin cho khách hàng khi tiêu dùng sản
phẩm, nhằm giữ được khách hàng đến với doanh nghiệp, giữ vững và phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm từ đó mở rộng quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp.
Đi cùng với sự phát triển thương hiệu là vấn đề sở hữu trí tuệ với thương hiệu cũng
được các doanh nghiệp đang quan tâm, thậm trí rất nhiều doanh nghiệp vẫn còn
lúng túng trong việc sử lý vấn đề này. Đại diện công ty xuất nhập khẩu chè đã từng
bày tỏ: “Mỗi năm Vina Tea sản xuất khoảng 195 nghìn tấn chè, trong đó xuất ra
nước ngoài chủ yếu là chè thô. Vina Tea rất muốn chuyển hướng sang sản xuất chè
cao cấp hơn để xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng để xây dựng một thương hiệu mạnh
của chè Việt Nam để cạnh tranh với các hãng chè nổi tiếng khác trên thế giới là rất
dược thảo, chè ướp hương hoa quả,…Cho đến nay Vina Tea đã có quan hệ thương
mại với trên 120 công ty và tổ chức thương mại tại trên 50 quốc gia và vùng lãnh
thổ. Nói đến Vina Tea ta cũng không thể không nhắc tới sản phẩm chè Mộc Châu
do Công ty chè Mộc Châu sản xuất.Hiện nay, chè Mộc Châu là sản phẩm chè được
bảo hộ về nhãn mác, xuất sứ và được chứng nhận tiêu chuẩn quản lý chất lượng và
được nhiều nước biết đến với nhãn hiêu chè có chất lượng của Việt Nam.
Bên cạnh đó, phải kể đến chè Tân Cương – Hoàng Bình.Ngoài việc quảng bá
thương hiêu của mình chè Tân Cương còn khẳng định vị trí của mình trên thị trường
quốc tế bằng chất lượng chè. Trong 5 năm (2001- 2006) nhà máy chè Tân Cương đã
ra mắt khách hàng 26 loại chè mang thương hiệu Tân Cương – Hoàng Bình. Đó là
chè đen, chè xanh cao cấp làm quà biếu như Lan Đình trà, Trúc Lâm trà; chè
Qyeenli túi lọc ướp hương nhài, hương sen phục vụ văn phòng, hội họp; chè Vu
Quy dùng trong cưới hỏi; chè dùng cho lễ hội, chùa chiền…
Chính vì vậy hiện nay chè Tân Cương đã xuất sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Xin-ga-
po, Pa-ki-xtan, Xri Lan-Ka…
Tuy vậy, trong trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO thì các doanh
nghiệp sản xuất và xuất khẩu chè Việt Nam cần có chiến lược phát triển thương
hiệu của mình trên thị trường nội địa cũng như trên thị trường quốc tế. Ý thức được
tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè xuất khẩu, các công ty xuất khẩu chè và các công ty chế biến chè xuất khẩu của Việt Nam gần đây
đã chú trọng đầu tư xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình. Nhiều nhãn hiệu
chè của Việt Nam đã được đăng ký bản quyền sử dụng tại nhiều nước trên thế giới,
và chè xuất khẩu của Việt Nam đang dần được các nước trên thế giới biết đến với
thương hiệu của chè Việt.
1.4. Sự cần thiết phải thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè sang thị trường Trung
Quốc.
1.4.1. Một số điểm nổi bật về thị trường chè Trung Quốc.
Trung Quốc là một trong những quốc gia có số dân đông nhất thế giới, là thị
chế biến rất đơn giản, từ nguyên liệu đưa vào luộc, vò, phơi năng, ủ lên men rồi lại
phơi nắng rồi sao lại bằng máy quay là đã có thể bán được với giá bán khoảng 20
000 đồng/kg chè vàng. Nhưng chỉ được 3 lô hàng đầu được bán đi thuận lợi, sau đó
giá chè vàng đột ngột giảm xống chỉ còn 17000 đồng/kg, có lúc xuống tới 13 000
đồng/kg làm cho nhiều người không bán được hàng và phải chịu thua lỗ. Với bài
học này, các doanh nghiệp chè Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc
cần phải nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu thị trường để có kế hoạch thu mua, sản xuất
hợp lý.
Là một thị trường lớn cho xuất khẩu chè của Việt Nam, nhưng nhu cầu có tính ổn
định thấp, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu chè của Việt Nam cần có kế
hoạch, chiến lược cụ thể khi thâm nhập thị trường này. Cần nắm bắt được nhu cầu
tiêu thụ của thị trương nhằm đưa ra kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp.Bên cạnh
đó các doanh nghiệp xuất khẩu chè cần đổi mới kỹ thuật chế biến, tăng năng suất
sản xuất sản phẩm tăng tỷ trọng cũng như khối lượng chè thành phẩm xuất khẩu,
giảm tỷ trọng chè thô xuất khẩu. Từ đó tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho chè Việt
Nam.
1.4.2. Sự cấn thiết phải thúc đẩy xuất khẩu chè Việt Nam sang thị trường Trung
Quốc.
Mặc dù Trung Quốc là một nước xuất khẩu nhiều chè trên thế giới . Hiện nay
nhu cầu của Trung Quốc đối với chè các loại là trên 50 triệu USD . Trong khi đó
Việt Nam chỉ mới đáp ứng được khoảng 7 triệu USD.
Trước đây , do đặc thù về vị trí địa lý nên hình thức buôn bán biên mậu rất
phát triển và sôi động giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngày nay với chính sách thuế quan thay đổi việc xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cũng trở nên khó khăn
hơn. Vì vậy ngành chè Việt Nam cũng như sản phẩm chè Việt Nam muốn thâm
nhập vào thị trường Trung Quốc thì cần có sự chuẩn bị và tìm hiểu kỹ lưỡng về
chính sách buôn bán của Trung Quốc để có biện pháp hỗ trợ kịp thời.
Trải qua các giai đoạn phát triển của ngành chè, VITAS luôn là cơ quan đầu
não đối mặt với thực trạng kinh tế, đại diện cho lợi ích và quyền lợi của người làm
chè. VITAS đóng vai trò như một nhạc trưởng hướng dẫn các hội viên thực hiện
cam kết của mình về sản xuất và xuất khẩu chè. VITAS cũng tham gia vào hệ thống
tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chất lượng, cam kết mục tiêu phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, Hiệp hội còn góp phần thúc đẩy thực hiện các dịch vụ khuyến
nông, các dịch vụ về giống, xúc tiến thương mại, đào tạo… từ đó tạo nguồn nguyên
liệu đầu vào ổn định cho sản xuất chè xuất khẩu. Một mặt Hiệp hội còn tư vấn cho
Chính phủ về chế độ chính sách phát triển chè, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
xuất khẩu chè. Hiệp hội có vai trò thiết lập mạng thông tin toàn ngành, trong nước
và quốc tế, giúp các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin kịp thời, tânj dụng được
cơ hội trên thị trường quốc tế, tạo lợi thế trong cạnh tranh.
Trong bối cảnh hiên nay Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương mại
thế giới (WTO) làm thay đổi vai trò của các hiệp hội nói chung và Hiệp hội chè Việt
Nam nói riêng. Những trợ cấp cho nông nghiệp sẽ dần mất đi, gây khó khăn về
nguyên liệu cho sản xuất chế biến chè, vì vậy Hiệp hội càng phải tích cực hoạt đông
hơn nữa, giúp cho các doanh nghiệp có thế kinh doanh tốt trong điều kiện hiện nay.
Một vai trò nưa của Hiệp hội mà không thể thiếu trong bối cảnh hiện nay, đó là
Hiệp hội là người đứng ra là trung gian liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước
với thị trương nước ngoài. Là trung gian thay mặt các doanh nghiệp giải quyết các
tranh chấp thương mại với nước ngoài. Vì các doanh nghiệp của ta hầu hết là chưa
có kinh nghiệm trong xử lý các vấn đề khi xảy ra tranh chấp.
Một mặt, Hiệp hội đóng vai trò tăng cường liên kết các doanh nghiệp. Rõ ràng
trên sân chơi thương mại toàn cầu, vai trò của hiệp hội là hết sức quan trọng. Chè
của Việt Nam hiện nay chưa có thương hiệu mạnh trên thị trương quốc tế, vì vậy
cần thiết phải có sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm tạo sức mạnh tổng hợp,
tăng sức cạnh tranh của chè Việt Nam. Hiệp hội hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển
xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa; cung cấp thông tin thị trường và khách
hàng cho doanh nghiệp hội viên; phổ biến cho các thành viên những tiến bộ khoa
CHƯƠNG II
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CHÈ CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG
TRUNG QUỐC.
2.1. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
GẦN ĐÂY.
2.1.1 Những biến động của thị trường xuất khẩu chè Việt Nam.
Trong số những ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam chè được đánh giá là
ngành có nhiều tiềm năng. Hiện cả nước có khoảng 122500 ha chè, chè của Việt
Nam đã xuất sang 107 nước đứng thứ 7 về sản lượng , đứng thứ 6 về khối ; ượng
chè xuất khẩu.
nhiều . Pakistan, Đài Loan, và Nga tiếp tục là 3 thị trường xuất khẩu chè lớn nhất
của Việt Nam.
Dẫn đầu là thị trường Pakistan với kim ngạch xuất khẩu trong 2 tháng đầu
năm đạt 2.9 triệu USD với sản lượng đạt 2.67 nghìn tấn , tăng 5.9% về giá trị và
6.6% về lượng so với cùng kỳ 2006. Mặt hàng chè xuất khẩu chủ yếu sang thị
trường này là chè đen , chiếm 58% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tiếp đó là thị trường Đài Loan và Nga với mức tăng trưởng lần lượt đạt 1.3%
và 23.1% về kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm ngoái . Bên cạnh đó , xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, EU và ASEAN cũng có tốc độ tăng trưởng khá . Đặc
biệt , xuất khẩu sang Mỹ với kim ngạch 608.000 USD với sản lượng 881 tấn , tăng
430% về giá trị và 523% về lượng so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó chè đen vẫn
là mặt hàng xuất khẩu chính, chiếm tới 93% tổng kim ngạch .
Trong 2 tháng đầu năm 2007 thì chè đen vẫn là chủng loại chè được xuất khẩu
nhiều nhất chiếm 78% tổng sản lượng xuất khẩu , tiếp đến là chè xanh khoảng 15%
và 7% là các loại chè khác.
2.1.2. Tình hình xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong
những năm gần đây.
Mới đây Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, Đài Bắc Trung
Quốc hiện là thị trường xuất khẩu số 1 của sản phẩm chè Việt Nam.
Từ đầu năm 2007 đến nay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè trong cả
nước đã xuất khẩu trên 27000 tấn chè, đạt kim ngạch 25 triệu USD trong đó riêng
thị trường Đài Bắc –Trung Quốc chiếm tới trên 17% tổng sản lượng chè xuất khẩu
của Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia thì Đài Bắc –Trung Quốc là một
thị trường truyền thống khác của sản phẩm chè Việt Nam như Nga, Iraq, Pakistan,
Đức, Singapore….Tuy vậy , cũng như các thị trường khác chè Việt Nam xuất khẩu
sang Trung Quốc cũng chủ yếu là chè nguyên liệu , còn chề qua chế biến chỉ chiếm
tỷ lệ nhỏ, vì vậy giá thành chè xuất khẩu chưa cao do đó hiệu quả kinh tế do cây chè
mang lại còn hạn chế.
sự quý hiếm đó mà nhu cầu nguyên liêu chè shan tuyết cho sản xuất 2 loại chè vàng
và chè phổ nhĩ của Trung Quốc tăng lên. Nguyên liệu trong nước không đáp ứng
được nhu cầu cho sản xuất nên các thương nhân Trung Quốc đã tìm tới thị trường
chè nguyên liệu của Việt Nam. Việc đó đã đẩy giá chè nguyên liệu của Việt Nam
tăng cao, đôi khi giá chè nguyên liệu xuất khẩu không phản ánh đúng chất lượng
của chè.
Tháng 6/2007, thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam vẫn là Trung
Quốc, đạt 2580 tấn chè các loại ( chiếm 23.45% lượng chè xuất khẩu) với trị giá gần
2.2 triệu USD , tăng 9.62% về lượng nhưng giảm 9.79 % về giá trị so với tháng
5/2007; nhưng so với tháng 6/2006 vẫn tăng mạnh , tăng 255.98 % về lượng và tăng
170.52% về giá trị . Trong đó xuất khẩu vào thị trường này chủ yếu là chè đen, đạt
1431 tấn ( tăng 24.98% so với tháng 5/2007) ; chè xanh đạt 747 tấn ( giảm 22% so
với tháng 5/2007) và chè vàng đạt 39 tấn ( giảm 69.95 % so với tháng 5/2007). Như
vậy, 6 tháng đầu năm 2007 lượng chè nước ta xuất khẩu sang Trung Quócc đạt 7756 tấn với trị giá gần 7 triệu USD, tăng 171.49 % về lượng , tăng 153.5% về giá
trị so với cùng kì năm 2006.
Thị trường Trung Quốc là một thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp xuất
khẩu chè của Việt Nam . Do đó Nhà Nước và Hiệp hội chè cũng như mỗi doanh
nghiệp cần có biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè sang
Trung Quốc cũng như mở rộng thị trường xuất khẩu chè.
2.2. Những biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè Việt Nam sang
thị trường Trung Quốc.
Đứng trước thách thức của thời đại, chè Việt Nam vẫn chưa có tiếng nói quyết
định trên thị trường quốc tế vì : chưa có thương hiệu, chất lượng chưa ổn định ,
công nghiệp chế biến phát triển mạnh nhưng chưa đồng bộ . Vì vậy, Ngành chè
cũng như các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu chè cần có những biện pháp thúc
đẩy xuất khẩu chè ổn định, bền vững từ nay đến 2010.
2.2.1.Các biện pháp liên quan tới việc tổ chức nguồn hàng.
thì Nhà Nước cần tạo điều kiên cho các doanh nghiệp có thể phát triển ổn định và
giữ vững thị trường . Cần tổ chức hệ thống tài chính tín dụng thông thoáng hơn để
các doanh nghiệp có thể vay vốn đầu tư cho sản xuất và đổi mới công nghệ chế
biến.
Mặt khác, Nhà Nước cần có những hỗ trợ đối với người trồng chè, đảm bảo
cuộc sống cho những người dân vùng chè, tạo ra nguồn nguyên liệu tốt nhất cho sản
xuất, chế biến chè xuất khẩu .
Tiếp đó, cũng cần phải tổ chức hợp lý và giảm bớt các thủ tục hải quan tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc xuất khẩu chè ra nước ngoài đúng thời
điểm, tận dụng được cơ hội kinh doanh.
2.4. Các định hướng của Hiệp hội chè Việt Nam.
Trong những năm tới , để góp phần thúc đẩy xuất khẩu chè Việt Nam sang thị
trường Trung Quốc, cũng như thị trường thế giới nói chung thì Hiệp hội cần làm tốt
vai trò của mình như tổ chức liên kết lại giữa các doanh nghiệp sản xuất và xuất
khẩu chè để cùng đưa ngành chè của Việt Nam phát triển.
Hiệp hội cũng có thể đưa ra những kiến nghị với chính phủ để có thể tạo điều
kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu chè sang thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó
cũng có thể tổ chức các lễ hội nhằm giới thiệu quảng bá thương hiệu chè Việt Nam.
Vậy , Hiệp hội có vai trò đáng kể trong việc thúc đẩy xuất khẩu chè của Việt
Nam nói chung và xuất khẩu chè sang Trung Quốc trong thời gian tới đây. KẾT LUẬN Qua quá trình nghiên cứu trên ta thấy Việt Nam có điều kiện khí hậu cũng như
đất đai rất thuận lợi cho cây chè phát triển. Xuất khẩu chè của Việt Nam đóng vai
trò rất lớn vào kim ngach xuất khẩu của nước ta. Tuy nhiên, do công nghệ kỹ thuật
lạc hậu , chè xuất khẩu của Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn do chất lượng chè
chưa cao.
2 Trang web : www.baothươngmai.com.vn.
3 Trang web : www.mot.gov.vn
4 Trang web: www.vnexpress.net
5 Trang web : www.thainguyen.gov.vn
6 Trang web : www.vietnamnet.com.vn
7 Báo thông tấn xã Việt Nam.
MỤC LỤC
2.2. Những biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè sang thị trường
Trung Quốc.
2.2.1. Các biện pháp liên quan tới việc tổ chức nguồn hàng.
2.2.2. Các giải pháp liên quan tới thị trường xuất khẩu .
2.3. Các biện pháp chính sách của Nhà Nước nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
chè sang thị trường Trung Quốc.
2.4. Các định hướng của Hiệp hội chè Việt Nam.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo.