Báo cáo tốt nghiệp Dự đoán năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại cổ phần An Bình MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 7
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh 7
1.1.1.2 Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc thù
trong cạnh tranh của ngân hàng thương mại 8
1.1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 9
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng
thương mại 10
1.1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của các ngân
hàng thương mại 10
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân
NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 51
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ABBANK 52
3.2.1 Phương hướng hoạt động của abbank 52
3.2.2 Định hướng phát triển của abbank và tầm nhìn đến năm 2020 53
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH
(ABBANK) 54
3.3.1 Tăng cường sức mạnh tài chính của Ngân hàng TMCP abbank 54
3.3.2 Phòng ngừa rủi ro 55
3.3.3 Nâng cao công tác quản lý tài sản Nợ - tài sản Có 57
3.3.4 Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ 58
3.3.5 Nâng cao chất lượng của các dịch vụ Ngân hàng 59
3.3.6 Tiếp tục công cuộc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 60
3.3.7 Phát triển mạng lưới phân phối hiệu quả, hợp lý 61
3.3.8 Tiếp tục củng cố, phát huy sức mạnh nguồn nhân lực 61
3.3.9 Nâng cao năng lực quản trị điều hành 62 3.3.10 Xây dựng chiến lược Marketing và tăng cường công tác chăm
sóc khách hàng 63
3.3.11 Xây dựng thương hiệu ngân hàng TMCP An Bình trong
tiến trình hội nhập 64
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 65
3.4.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ ngành có liên quan 66
3.4.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 67
KẾT LUẬN 70
WTO Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AFTA Khu mậu dịch tự do Đông Nam Á
EU Liên minh Châu Âu
CSTT CSTT
CSTK Chính sách tài khóa
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và trở
thành một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là việc ra
đời của các liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU, WTO Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu thế đó, với việc gia nhập hiệp hội ASEAN, ký kết hiệp định
thương mại song phương với Hoa Kỳ, và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
WTO đã đánh dấu quá trình hội nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới.
Việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Nam những cơ hội
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khái niệm cạnh
tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng
hóa và phát triển kinh tế thị trường.
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh như:
Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là: “Sự ganh đua,
kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại
tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Theo Karl Marx cạnh tranh được hiểu như sau: “Cạnh tranh có nghĩa là sự
đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá
trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định”.
Theo những quan điểm này thì cạnh tranh được hiểu là các mối quan hệ kinh
tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế
của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như
các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mỗi chủ thể kinh tế buộc phải chấp
nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế
so với các đối thủ. Cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố
quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Có nhiều cách phân loại cạnh tranh. Theo cấp độ nghiên cứu thì cạnh tranh
thị phần, nhưng cũng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành
mạnh để tránh rủi ro hệ thống. Do hoạt động kinh doanh của các NHTM có liên quan
đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, từng cá nhân thông qua hoạt động huy
động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng
thời trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng cũng thường mở tài khoản
cho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của NHTW của mỗi quốc gia hoặc của khu vực. Hoạt động của các
NHTM có liên quan tới rất nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế nên để tránh
nguy cơ xảy ra rủi ro hệ thống, NHTW đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này
và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, sự cạnh tranh trong
hệ thống các NHTM không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các
loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế.
Bốn là, sự cạnh tranh của các NHTM là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi
những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác. Điều đó là do
hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ phạm vi
trong một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh
tế đối ngoại; vì thế, hoạt động kinh doanh trong hệ thống NHTM chịu sự chi phối
của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh
doanh của các nước, các thông lệ quốc tế… đặc biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ
của điều kiện cơ sở hạ tầng, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan
trọng.
1.1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, nhưng đến nay
vẫn còn rất nhiều các quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Một cách chung
nhất, theo từ điển thuật ngữ kinh tế học thì “năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành
lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”.
chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng
đó.
Mức độ an toàn vốn: ngân hàng có quy mô vốn CSH lớn hơn sẽ được coi là có
ưu thế hơn, tuy nhiên thực tế cho thấy quy mô vốn CSH lớn không có nghĩa là có
mức độ an toàn vốn cao. Để đánh giá độ an toàn vốn của NHTM người ta sử dụng hệ
số CAR (hệ số an toàn vốn). Hệ số CAR chính là tỷ lệ giữa vốn CSH trên tổng tài sản
có rủi ro chuyển đổi (theo Ủy ban giám sát tín dụng Basel). Theo tiêu chuẩn quốc tế
thì CAR tối thiểu phải đạt 8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của
ngân hàng càng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng
càng lớn.
Quy mô và khả năng huy động vốn
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn tốt tức là ngân hàng
đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút
được khách hàng. Khả năng huy động vốn của ngân hàng thường được thể hiện qua
các chỉ tiêu sau:
- Quy mô tổng nguồn vốn huy động;
- Tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động;
- Tổng nguồn vốn huy động/ Tổng nguồn vốn;
Chất lượng tài sản có
Tài sản có của ngân hàng là phần nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì
khả năng thanh toán của ngân hàng đó. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu hợp nhất
phản ánh khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý
của một ngân hàng. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu và cũng là yếu tố phức tạp
nhất trong phân tích hoạt động ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể hiện
thông qua các chỉ tiêu như:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng;
- Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng tài sản;
Tổng tài sản (hoặc tài sản sinh lời) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu lãi từ tài sản
sinh lời và chi lãi cho nguồn vốn huy động của ngân hàng thông qua việc kiểm soát
chặt chẽ tài sản sinh lời và nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Đây là thước đo tính
hiệu quả cũng như khả năng sinh lời, chúng cho thấy được năng lực của ngân hàng
trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí.
+ Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên
Tỷ lệ thu nhập ngoài Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi
lãi cận biên =
Tổng tài sản
Tỷ lệ thu ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài
lãi (gồm chủ yếu là thu từ phí dịch vụ) và chi phí ngoài lãi (gồm chi phí trả lương,
chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng). Mặc dù thu từ phí
dịch vụ tăng rất nhanh trong thời gian gần đây nhưng các chi phí ngoài lãi thường
lớn hơn, do vậy mà tỷ lệ này ở các ngân hàng thường âm.
* Các chỉ tiêu định tính phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
Các chỉ tiêu định tính thường được dùng để phản ánh năng lực cạnh tranh
của NHTM là: năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực quản lý, mạng lưới
kênh phân phối, mức độ đa dạng hóa và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ,
nguồn nhân lực, danh tiếng và khả năng hợp tác.
Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của
khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô cùng quan trọng. Công nghệ góp phần tạo nên
những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, công nghệ là yếu tố tạo nên sự
khác biệt trong kinh doanh giữa các NHTM. Công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân
hàng bao gồm: hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, hệ thống máy
rút tiền tự động (ATM), hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro Vì vậy,
Nguồn nhân lực
Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách
hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời
tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Đó chính là những đòi hỏi quan
trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần
cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác
Tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sống còn đến
hoạt động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng
mang lại. Vì thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực vô cùng to
lớn, nó quyết định sự thành công hay thất bại cho ngân hàng đó trên thương
trường. Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ
thuộc rất nhiều vào uy tín của NHTM.
Ngoài danh tiếng và uy tín của mình, các NHTM còn phải thể hiện được sự
liên kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình, sự kiện một NHTM hợp
tác với một TCTD có uy tín và danh tiếng khác trên thương trường, hoặc sự hợp
tác chiến lược giữa các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế lớn nào
cũng góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của NHTM đó trên thương trường.
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại
* Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Những nhân tố thuộc môi trường kinh tế
Ngành ngân hàng là một ngành luôn đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế.
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như: nội lực của nền kinh tế quốc gia được thể hiện qua quy mô và mức độ tăng
trưởng của GDP, dự trữ ngoại hối…; độ ổn định của nền kinnh tế vĩ mô thông qua
hàng cũng chịu sự tác động của môi trường văn hóa, xã hội qua các nhân tố như:
trình độ dân trí, quan điểm về kinh doanh, quan niệm đạo đức…
Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan với
ngành ngân hàng
Thị trường tài chính trong và ngoài nước phát triển mạnh là điều kiện để
các ngân hàng phát triển và gia tăng, từ đó dẫn đến mức độ cạnh tranh giữa các
ngân hàng cũng gia tăng, đặc điểm của thị trường tài chính là các định chế tài chính
có mối liên hệ rất chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau như các ngành: bảo hiểm, thị trường
chứng khoán, ngân hàng. Ngoài ra, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các
ngành, lĩnh vực khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán… cũng có
những ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Đây là những ngành phụ trợ mà sự phát triển của nó giúp ngân hàng nhanh chóng
đa dạng hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng
như có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài chính vững mạnh.
Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế
Với sự tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính tiền tệ, sự cạnh tranh đối
với ngành ngân hàng tất yếu sẽ ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn, không
những là sự cạnh tranh giữa các ngân hàng mà còn là sự cạnh tranh của các ngân
hàng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Cạnh tranh giữa các ngân hàng
không chỉ dừng lại ở các dịch vụ truyền thống mà mở rộng ra các loại dịch vụ ngân
hàng hiện đại khác. Hơn nữa nhu cầu về các dịch vụ này ngày càng cao thể hiện ở
các mặt sau:
Sự biến đổi về cơ cấu dân cư, sự tăng dân số, sự tăng lên của các khu công
nghiệp, khu đô thị mới dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng lên rõ rệt.
Thu nhập bình quân đầu người ở hầu hết các quốc gia đều được nâng lên,
qua đó các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ có những bước phát triển tương ứng.
Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu
các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch… đều mong muốn nhận được lãi suất
cao. Như vậy ngân hàng phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi
nhuận và việc giữ chân khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có
thể.
Tác nhân là sự xuất hiện các dịch vụ mới
Sự ra đời ồ ạt của các trung gian tài chính đe dọa lợi thế của các NTHM khi
cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống mà các
NHTM vẫn đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản
phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa
dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác động làm tất
yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm thị phần. 1.1.3. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Có nhiều phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM. Dưới
đây là phương pháp đánh giá theo mô hình SWOT.
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp
xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lôgic dễ hiểu, dễ trình bày, có thể sử
dụng trong mọi quá trình ra quyết định. Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới
dạng ma trận 2 cột 2 hàng, chia làm bốn phần: Strengths, Weaknesses,
Opportunities và Threats Trong đó, Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại của công ty còn
Opportunities và Threats là các nhân tố tác động bên ngoài. SWOT cho phép phân
tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của
công ty.
Sau khi thiết lập xong mô hình SWOT có thể phân tích và hiểu được những
yếu tố chủ quan và khách quan sẽ tác động thế nào đến ngân hàng. Từ đó sẽ biết
được đâu là điểm mạnh để tập trung phát huy và phát triển, đâu là điểm xấu để cải
(2) WO (Weaks - Opportunities): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua
các yếu điểm của công ty để tận dụng cơ hội thị trường.
(3) ST (Strengths - Threats): các chiến lược dựa trên ưu thế của của công ty
để tránh các nguy cơ của thị trường.
(4) WT (Weaks - Threats): các chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc
hạn chế tối đa các yếu điểm của công ty để tránh các nguy cơ của thị trường.
Hơn nữa mô hình SWOT được áp dụng để phân tích tình hình của đối thủ
cạnh tranh. Từ đó ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp ứng phó nhằm nâng cao
hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình.
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH (ABBANK).
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP An Bình đã được Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN)
cấp giấy phép hoạt động Ngân hàng số 0031/NH-GP ngày 15 tháng 4 năm 1993, và
có hiệu lực từ ngày 18 tháng 9 năm 1997 trong thời hạn 20 năm.
Với vốn điều lệ kể từ khi thành lập là 1 tỷ đồng, sau hơn 15 năm phát triển đến
nay ABBank đã có sự bứt phá mạnh mẽ cả về chất lượng lẫn số lượng.
Với tôn chỉ hoạt động:
Thứ nhất: Phục vụ khách hàng với sản phẩm, dịch vụ an toàn, hiệu quả và linh
hoạt.
Thứ hai: Tăng trưởng lợi ích cho cổ đông.
Thứ ba: Hướng tới sự phát triển toàn diện, bền vững của Ngân hàng.
Cuối cùng: Đầu tư vào yếu tố con người làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
ABBank đang hướng dần đến thành một ngân hàng Thương Mại Cổ phần hàng
quan hệ thanh toán, vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại, thanh
toán quốc tế, kinh doanh chứng khoán.
Tháng 4/2007
ABBank trở thành thành viên của mạng thanh toán Paynet.
Tháng 5/2007
ABBank được ban tổ chức hội chợ tài chính – ngân hàng – bảo hiểm Banking
Expo 2007 trao giải thưởng quả cầu vàng – the Best Banker cho ngân hàng “phát
triển nhanh các sản phẩm dịch vụ công nghệ cao”.
Tháng 10/2007
Tăng vốn điều lệ lên 2300 tỷ đồng. Tháng 1/2008
Hệ thống ngân hàng lõi T24 chính thức được đưa vào sử dụng trên toàn hệ
thống. Ngân hàng lõi (giải pháp phần mềm Corebanking) là một giải pháp phần
mềm Ngân hàng toàn diện với tất cả các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại đều
được cung cấp và quản lý trên T24 cổng kết nối này.
Tháng 3/2008
ABBank ký kết hợp tác chiến lược với Maybank–Ngân hàng lớn nhất Malaysia.
Với vai trò là đối tác chiến lược của ABBank, Maybank cam kết chia sẻ công nghệ,
nhân sự cũng như kinh nghiệm trong các lĩnh vực.
Tháng 4/2008
ABBank được trao giải “Ngân hàng thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2007” do
Wachoiviabank – một trong bốn ngân hàng lớn nhất của Mỹ trao tặng.
ABBank được trao giải “Nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia 2008” do hội sở hữu trí
tuệ Việt Nam trao tặng.
Tháng 9/2008
Maybank chính thức trở thành cổ đông chiến lược nước ngoài của ABBank với tỷ lệ
sở hữu là 15%. Theo đó, Maybank sẽ cử người tham gia công tác quản trị điều hành
và kiểm soát tại ABBank.
BAN TỔNG GIÁM
Đ
ỐC
SỞ GIAO DỊCH
TRUNG TÂM
CÔNG NGH
Ệ THÔNG TIN
TRUNG TÂM
TH
Ẻ
KH
ỐI NGUỒN VỐN & KD
NGOẠI HỐI
BAN CLPT M
ẠNG LƯ
ỚI
MIỀN BẮC & MIỀN TRUNG
BAN PT KHÁCH HÀNG
CHI
ẾN L
Ư
ỢC
KH
ỐI QUẢN LÝ RỦI RO
KH
PHÒNG ĐẦU TƯ
TÀI CHÍNH
CN HÀ NỘI
CN ĐÀ NẴNG
CN CẦN THƠ
CN VŨNG TÀU
CN BÌNH
CN BẠC LIÊU
CN GIA LAI
CN SƠN LA
BAN KIỂM
SOÁT
BAN THƯ KÝ