LUẬN VĂN:
Những giải pháp hoàn thiện hoạt
động nhập khẩu hàng hóa của
Công ty Dịch vụ Thương mại số I
trong những năm tới
Lời mở đầu
Mỗi quốc gia phát triển ổn định không thể tách rời hoạt động thương mại
quốc tế. Giữa các quốc gia có sự trao đổi của thương mại quốc tế thông qua hành vi
mua bán, hay là hành vi kinh doanh xuất nhập khẩu, hành vi mua bán này phản ánh
mối quan hệ lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia.
Thương mại quốc tế mang tính chất sống còn cho mỗi quốc gia vì nó mở rộng
khả năng tiêu dùng của một nước, phát huy được lợi thế so sánh của một quốc gia
so với các nước khác. Thương mại quốc tế thúc đẩy quá trình phân công lao động
xã hội một cách hợp lý và tạo nên sự chuyên môn hoá trong nền sản xuất nhằm
nâng cao hiệu quả của nhiều ngành.
Lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu là một khâu quan trọng của quá trình tái
thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Phần I
Cơ sở lý luận của hoạt động nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp thương
mại trong cơ chế thị trường
I. Vai trò của hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong nền kinh tế thị trường.
1. Khái niệm nhập khẩu.
Nhập khẩu là khâu cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế. Có thể hiểu nhập
khẩu là sự mua hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận.
Kinh doanh nhập khẩu là sự trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các chủ thể thuộc
các quốc gia khác nhau thông qua hành vi mua nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước
hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận. Nhập khẩu thể hiện sự phụ thuộc
gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới, nó cũng quyết
định sự sống còn của một nền kinh tế.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
Hoạt động nhập khẩu nhìn chung có những vai trò chủ yếu sau:
* Đối với Việt Nam hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội khắc
phục những hậu quả của chiến tranh, các chiến lược quan liêu bao cấp thì ngoài
những vai trò trên, nhập khẩu còn có những vai trò lớn như:
+ Nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh vì hoạt động
nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60%-100% nguyên nhiên vật liệu chính yếu,
mặt khác nhập khẩu đem lại cho đất nước những công nghệ ở nhiều trình độ khác
nhau. Phù hợp với từng vùng, từng địa phương và mỗi quy mô hay khả năng sản
xuất nhất định, nhờ đó trình độ sản xuất được nâng cao, năng suất lao động tăng lên
đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới.
+ Nhập khẩu phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá, thúc đầy cơ
giới hoá nông nghiệp, tác động đẩy mạnh thủy lợi hóa, sinh học hoá, phục vụ phát
triển công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản để nâng cao chất lượng hàng xuất
khẩu. Thúc đẩy sự ra đời của công nghiệp lắp ráp điện tử, công nghiệp may mặc,
phục vụ phát triển đa dạng các ngành nghề, tạo ra sản phẩm xuất khẩu có gía trị cao.
+ Hoạt động nhập khẩu có vai trò trong việc cải thiện và nâng cao mức sống
của nhân dân, bởi thông qua nhập khẩu sản xuất trong nước mới đủ nguyên liệu vật
liệu, thiết bị máy móc hoạt động nên công nhân mới có công ăn việc làm, có thu
nhập. Mặt khác nhập khẩu hàng tiêu dùng, nhập sách báo khoa học và văn hóa sẽ
góp phần nâng cao dân trí cho nhân dân.
Như vậy hoạt động nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và có ý nghĩa quyết
định đến sản xuất và đời sống trong nước. Nhập khẩu với mục đích thay thế những
hàng hóa mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ. Hai là nhập khẩu bổ sung và
nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân
đối của nền kinh tế đất nước. Trong đó cân đối trực tiếp các yếu tố của quá trình sản
xuất (chủ yếu là đối tượng lao động và tư liệu lao động). Đó chính là vai trò quan
trọng nhất của nhập khẩu.
3. Các hình thức hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
Hoạt động xuât nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng thường
chỉ tiến hành ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp. Do tác động của điều
kiện kinh doanh, môi trường thực tế, sự sáng tạo của người kinh doanh mà đã tạo ra
trực tiếp nghiên cứu thị trường, tính toán chi phí, ký kết và thực hiện hợp đồng, chịu
trách nhiệm về lỗ, lãi đảm bảo đúng phương hướng chính xác luật pháp quốc gia
cũng như quốc tế.
* Hoạt động nhập khẩu trực tiếp có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý về mọi mặt hoạt động, phải tự
nghiên cứu thị trường, chịu mọi chi phí giao dịch, giao nhận lưu kho, quảng cáo, chi
phí tiêu thụ hàng hóa và chịu thuế GTGT.
+ Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch nhập khẩu và
khi tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu sẽ được tính doanh số và doanh số đó phải chịu
thuế GTGT.
+ Thông thường doanh nghiệp chỉ cần một hợp đồng với bên nước ngoài (bên
nhập khẩu) còn hợp đồng bán hàng trong nước thì có thể lập khi hàng về hay khi
tìm được nơi tiêu thụ.
c. Nhập khẩu liên doanh
* Khái niệm nhập khẩu liên doanh:
Nhập khẩu liên doanh là hình thức nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết
một cách tự nguyện trong đó được ít nhất một doanh nghiệp được phép xuất nhập
khẩu trực tiếp nhằm cùng phối hợp kỹ năng, cùng giao dịch và để ra các chủ trương
biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này, phát triển
theo hướng có lợi cho cả hai bên cùng hưởng lợi nhuận và cùng chịu rủi ro.
* Hoạt động nhập khẩu liên doanh có những đặc điểm sau:
+ Doanh nghiệp nhập khẩu chịu rủi ro (nếu có) sẽ ít hơn bởi mỗi doanh nghiệp
liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, đồng thời quyền hạn và
trách nhiệm của hai bên, cũng tỷ lệ theo số vốn góp. Việc phân chia chi phí, thuế
doanh thu theo tỷ lệ vốn góp, lãi và lỗ hai bên phân chia theo thoả thuận dựa trên
vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác.
+ Doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được tính kim ngạch XNK nhưng đến
khi tiêu thụ thì chỉ được tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chỉ
chịu thuế GTGT trên doanh số đó.
+ Doanh nghiệp XNK trực tiếp trong liên doanh phải lập hai hợp đồng, một
+ Để đảm bảo thanh toán hợp đồng tái xuất thì các nhà nhập khẩu tái xuất
thường dùng thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C).
+ Hàng hóa không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển
thẳng sang nước thứ ba nhưng tiền trả phải luôn do người tái xuất thu từ bên nhập
khẩu trả cho nước xuất khẩu. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp tái xuất có một hệ
thống thông tin và có mối quan hệ rộng giữa các bạn hàng.
II. Nội dung của hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
Hoạt động nhập khẩu hàng hóa không phải là một hành động đơn lẻ mà là
một qúa trình bao gồm nhiều khâu có tính chất nghiệp vụ, bắt đầu từ khâu nghiên
cứu tiếp cận thị trường, lựa chọn phương thức giao dịch cho đến khâu tiếp nhận
hàng hóa tại cảng nước mình. Quá trình nhập khẩu hàng hóa phải được thực hiện
một cách hệ thống và hợp lý, kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
1. Nghiên cứu thị trường
Thị trường là khâu tất yếu của khâu tái sản xuất hàng hóa, ở đâu có sản xuất
hàng hóa thì ở đó có thị trường. Thị trường đối với doanh nghiệp là điều kiện sống
còn để sản xuất và kinh doanh. Thị trường theo nghĩa cổ điển là nơi diễn ra các mối
quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa. Theo nghĩa này thị trường được thu hẹp ở ( cái
chợ ). Vì ta có thể hình dung được thị trường cả về không gian, thời gian, dung
lượng Còn theo nghĩa hiện đại, thị trường là một qúa trình trong đó người mua,
người bán tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa mua
bán. Vậy thị trường theo nghĩa rộng được hiểu là tổng thể các mối quan hệ về lưu
thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và các dịch vụ.
Thương mại quốc tế là hoạt động thương mại vượt ra khỏi biên giới mỗi nước.
Thị trường quốc tế hết sức phức tạp và nhiều biến động. Mỗi nước, mỗi thị trường
lại có những đặc điểm khác nhau về quy mô, về phong tục, tập quán, văn hoá giáo
dục, thị hiếu và luật pháp. Muốn hoạt động xuất nhập khẩu có hiệu quả trên thương
trường quốc tế cần phải nghiên cứu tìm hiểu thị trường một cách kỹ lưỡng, thu thập
xử lý thông tin cần thiết và nắm bắt kịp thời cơ hội kinh doanh để từ đó đưa ra
phương án kinh doanh tốt nhất và thông qua hoạt động nghiên cứu thị trường ta mới
dụng, phẩm chất tương ứng với đặc điểm đó ta nghiên cứu khả năng của từng đối
tượng, thời gian tiêu dùng. Đồng thời phải xác định được khả năng cung ứng các
mặt hàng đó với thị trường trong nước. Rồi từ đó mới quyết định xem có nên kinh
doanh hay không.
+ Chu kỳ sống của sản phẩm: Như chúng ta đã biết, mỗi hàng hoá lại có một
chu kỳ sống riêng. Xác định xem hàng hóa đang ở giai đoạn nào là một việc làm rất
cần thiết. Một sản phẩm đang ở giai đoạn bão hoà ở thị trường này chưa chắc đã
thống lĩnh ở thị trường khác nếu như nó đang ở giai đoạn giới thiệu ở thị trường đó.
Thực tế đã chứng minh rất nhiều trường hợp một sản phẩm đang bán rất chạy ở thị
trường này được giới thiệu vào một thị trường khác lại gặp ngay thất bại.
+ Chính sách của nhà nước đối với mặt hàng kinh doanh cần phải xác định
xem mặt hàng doanh nghiệp định kinh doanh có nằm trong danh mục mặt hàng cấm
nhập hoặc mặt hàng khuyến khích nhập khẩu hay không ? Sự khuyến khích hay hạn
chế nhập khẩu sẽ được thể thiện qua hạn ngạch nhập khẩu và thuế nhập khẩu đánh
vào từng mặt hàng. Điều này sẽ tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn đối với doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh sau này.
- Nghiên cứu giá cả trong nước
Doanh nghiệp phải xác định xem giá cả mặt hàng doanh nghiệp sẽ nhập khẩu
hiện đang được thị trường trong nước chấp nhận vơí mức giá bao nhiêu. Đối thủ
cạnh tranh đang cung ứng với mức giá thế nào. Điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi
nhuận doanh nghiệp thông qua hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Giá cả sẽ bị tác
động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau như: chi phí, cạnh tranh, khách hàng và quy
định của chính phủ. Cho nên để xác định được chính xác, giá cả trong nước của mặt
hàng nhập khẩu, doanh nghiệp phải nắm bắt được các yếu tố tác động tới nó.
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
Bước sang cơ chế thị trường, có rất nhiều doanh nghiệp được phép tham gia
kinh doanh nói chung và kinh doanh nhập khẩu nói riêng. Điều này tất yếu sẽ dẫn
đến cạnh tranh trong kinh doanh. Cho nên doanh nghiệp cần phải nghiên cứu các
đối thủ cạnh tranh của mình nghĩa là cần phải xác định có bao nhiêu đối thủ, họ
cung ứng mặt hàng gì với giá sao, chính sách khuyếch trương, xúc tiến của họ như
xác được giá trị của chúng.
+ Nhân tố lũng loạn: Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và biến
động của giá cả hàng hoá quốc tế, nó làm xuất phát nhiều mức giá khác nhau cùng
một mặt hàng.
+ Nhân tố cạnh tranh: Cạnh tranh là nhân tố cần phân tích trong việc hình
thành giá cả trên thị trường quốc tế. Nhân tố cạnh tranh tác động tới giá cả quốc tế
dưới góc độ số lượng các doanh nghiệp, quy mô tương đối của các doanh nghiệp, sự
khác biệt sản phẩm và khả năng ra nhập thị trường. Ngoài ra nhân tố cạnh tranh
cũng tác động đến giá cả tuỳ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.
Thông thường yếu tố cạnh tranh xảy ra khi cung và cầu về một loại hàng hóa lệnh
nhau. Nếu cung lớn hơn cầu thì cạnh tranh xảy ra sẽ làm cho giá cả giảm xuống,
còn cung nhỏ hơn cầu thì cạnh tranh có xu hướng đầy giá cả lên cao.
+ Nhân tố chu kỳ: Nhân tố này cho thấy sự vận động có tính chất quy luật của
giá cả hàng hóa quốc tế, nó làm thay đổi quan hệ cung cầu do đó làm biến đổi dung
lượng thị trường.
+ Nhân tố lạm phát: Giá cả hàng hóa không chỉ chịu ảnh hưởng của gía trị tiền
tệ của các nước có vị trí quan trọng trong mậu dịch quốc tế. Giá trị của tiền tệ luôn
thay đổi, nó gắn liền với lạm phát. Lạm phát làm cho giá cả hàng hóa biểu hiện
bằng tiền giấy tăng lên với những mức độ khác nhau.
Trên đây là những nhân tố cơ bản tác động tới giá cả hàng hóa quốc tế. Các
doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu
nói riêng cần phải cố định mức độ tác động cuả chúng tới giá cả hàng hóa quốc tế
và từ đó có thể lựa chọn cho mình một mức giá phù hợp nhất.
Nhìn chung khi nghiên cứu giá cả hàng hóa quốc tế cần phải tập trung vào các
vấn đề sau:
* Thứ nhất, giá hàng định nhập trên thị trường thế giới. Người ta thường chọn
giá ở trung tâm giao dịch truyền thống, ở những nước sản xuất chủ yếu hay những
hãng sản xuất tập trung. Thông qua các trung tâm giao dịch này, các doanh nghiệp
định nhập hàng phải xác định cho mình một mức giá tối ưu.
* Thứ hai, nghiên cứu tỷ suất ngoại tệ đối với hàng nhập khẩu. Ta có thể hiểu
doanh nghiệp có thể lường trước được những rủi ro và đạt hiệu quả cao trong kinh
doanh.
Trình tự lập một phương án kinh doanh hàng nhập khẩu gồm các bước sau:
a. Nhận định tổng quát về diễn biến tình hình thị trường:
Trên cơ sở thông tin thu nhận được từ quá trình nghiên cứu thị trường doanh
nghiệp tiến hành nhận định tổng quát về diễn biến thị trường rút ra những nét tổng
quát về cung cầu, giá cả, đối thủ cạnh tranh cũng như dự báo được những biến động
có thể xảy ra, lường trước được những rủi ro tiềm ẩn. ở bước này cần phải chỉ ra
được các cơ hội kinh doanh hấp dẫn cho doanh nghiệp đồng thời đưa ra được những
thông tin tổng quát nhất về diễn biến của thị trường trong nước cũng như thị trường
nước ngoài.
b. Đánh giá khả năng của doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp đều có những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Trước
những diễn biến thực tế của thị trường, doanh nghiệp cần phải tự đánh giá khả năng
của mình xem có thể kinh doanh đạt hiệu quả cao hay không. Điều này có giải thích
bằng một lý do cơ bản đó là: Mọi cơ hội kinh doanh sẽ chỉ trở thành cơ hội hấp dẫn
khi nó phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. ở đây doanh nghiệp cần phải cân
đối nguồn vốn của mình xem có đủ khả năng chi trả cho hoạt động nhập khẩu hay
không. Đồng thời tiến hành đánh gía đội ngũ cán bộ nghiệp vụ cũng như hệ thống
cơ sở vật chất của doanh nghiệp xem có đủ khả năng kinh doanh hay không. Kết
thúc bước này doanh nghiệp cần phải đưa ra được quyết định có nên tham gia kinh
doanh nhập khẩu hay không? Nếu tham gia thì phải bổ sung những yếu tố gì?
c. Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và số lượng mua bán:
Trên cơ sở những nhận định tổng quát về thị trường và kết qủa đánh giá khả
năng của mình, doanh nghiệp phải xác định được một thị trường, mặt hàng dự định
kinh doanh là gì?, yếu cầu về quy cách, phẩm chất, nhãn hiệu, bao bì của hàng
hóa đó như thế nào? Nghĩa là giai đoạn này doanh nghiệp phải chỉ ra được một thị
trường phù hợp với mình và các mặt hàng dự định kinh doanh tôí ưu nhất. Một vấn
đề khá quan trọng ở giai đoạn này là xác định số lượng hàng hóa nhập khẩu. Để xác
định số lượng hàng hóa nhập khẩu, doanh nghiệp phải xác định số lượng đặt hàng
doanh của doanh nghiệp. ở giai đoạn này, doanh nghiệp phải trả lời được các câu
hỏi:
+ Bán hàng ở thị trường nào?
+ Khách hàng là những ai? Đâu là người tiêu thụ chính?
+ Bán hàng vào thời điểm nào? Khối lượng là bao nhiêu?
ở đây cần phải có sự hỗ trợ của các công cụ Marketing, đặc biệt là trong việc
xác định được đâu là người tiều thụ chính đối với những hàng hóa mà doanh nghiệp
nhập khẩu, từ đó có những biện pháp để xúc tiến đối với những đối tượng này.
f. Xác định giá cả mua bán trong nước.
Đối với người đi đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu phải được duyệt giá
với giá tối đa, giá tối thiểu và giá tới hạn. Người làm nhiệm vụ này có quyền được
định giá trong khoảng giá tối đa và tối thiểu đó tuỳ theo từng trưòng hợp cụ thể.
Giá cả buôn bán trong nước phải được dựa trên cơ sở phân tích giá cả quốc tế,
giá chào hàng, điều kiện thanh toán, hoặc giá của hàng cùng loại trước đây đã nhập.
Giá bán trong nước phải đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận đã để ra sau khi đã trừ đi
những khoản chi phí. Đồng thời phải căn cứ vào đặc điểm của từng loại hàng mà
tiến hành định giá bán trong nước. Nếu như hàng hóa mà doanh nghiệp định nhập
về đã từng xuất hiện ở thị trường trong nước thì việc đạt giá bán cao hơn giá cũ là
một điều không thuận lợi cho công tác tiêu thụ. Còn nếu là hàng khan hiếm thì việc
đặt giá hơi cao một chút để tăng lợi nhuận là điều có thể chấp nhận được.
g. Đề ra các biện pháp thực hiện:
Như chúng ta đã biết phương án kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là kế hoạch
hành động cụ thể của một nhà giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ. Cho nên ta
phải tiến hành lập các phương án để thực hiện các kế hoạch đó. Mặt khác phương
án kinh doanh là cơ sở để cho các cán bộ nghiệp vụ thực hiện những nhiệm vụ của
mình cho nên nó phải chỉ ra các bước tiến hành cụ thể để đạt được những mục tiêu
của phương án. Đề ra biện pháp thực hiện phải dựa trên cơ sở những thông tin phân
tích của những bước trước đó. Đồng thời phải dựa vào đặc điểm của hàng hóa, khả
năng của doanh nghiệp cũng như trong từng giai đoạn cụ thể mà đề ra các biện pháp
thực hiện cho phù hợp. ở bước này cần phải tránh rời xa thực tế, không sát với tình
-
Chi phí 1ĐV; hàng NK
-
Thuế; doanh thu
Chi phí gồm: * chi phí nhập khẩu
* Chi phí vận chuyển, bốc xếp, lưu kho bãi
* Chi phí khác
Trên đây là những bước cơ bản của quá trình lập phương án kinh doanh hàng
nhập khẩu. Doanh nghiệp cần phải tiến hành lập phương án kinh doanh một cách
chu đáo, cụ thể và chính xác, để làm cơ sở cho qua trình thực thi các nghiệp vụ kinh
doanh sau này.
3. Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hóa.
Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hóa là nội dung quan trọng nhất của
nghiệp vụ kinh doanh nhập khẩu. Nó quyết định tới sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp. Cho nên các doanh nghiệp cần phải có sự đầu tư thích đáng vào nội
dung này. Tổ chức nhập khẩu hàng hóa bao gồm các vấn đề sau:
a. Giao dịch và đàm phán:
Một điểm khác biệt giữa buôn bán trong nước với kinh doanh xuất nhập khẩu
đó là phạm vi buôn bán vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Cho nên các đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng phải tiến hành giao dịch để
gặp gỡ, tiếp xúc với bạn hàng nhằm tìm ra bạn hàng phù hợp nhất.
b. Ký kết hợp đồng nhập khẩu:
Trong thương mại quốc tế, khi các bên đối tác đàm phán thống nhất được với
nhau về các điều kiện mua bán thì phải tiến hành ký kết hợp đồng ngoại thương.
Hợp đồng ngoại thương là hợp đồng mua bán đặc biệt. Trong đó người bán (nhà
xuất khẩu ) có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua (nhà nhập
khẩu ) vượt qua biên giới quốc gia, còn người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người
bán một khoản tiền ngang gía trị hàng hóa bằng các phương thức thanh toán quốc
tế.
không chỉ liên quan đến luật pháp quốc gia mà còn liên quan đến quốc tế, nhưng lại
có ý nghĩa hết sức lớn đối với doanh nghiệp. Nhìn chung để thực hiện một hợp đồng
nhập khẩu thì đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải tiến hành các khâu công việc sau
đây:
* Xin giấy phép nhập khẩu:
Đây là tiền đề quan trọng nhất về mặt pháp lý để tiến hành các khâu khác
trong mỗi chuyến hàng nhập khẩu. Muốn được cấp giấy phép nhập khẩu đơn vị
kinh doanh nhập khẩu phải làm theo một mẫu in sẵn kèm với bản sao hợp đồng mua
bán ngoại thương và bản sao của thư tín dụng (L/C) nếu có một phiếu hạn ngạch (
nếu mặt hàng nhập khẩu được quản lý bằng hạn ngạch ) hoặc bản trích sao kế hoạch
nhập khẩu đã được đăng ký và gửi đến bộ phận cấp giấy phép của BộThượng Mại.
* Mở L/C:
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiền bằng L/C, thì việc đầu tiên
bên mua ( nhập khẩu ) phải mở L/C. Về mặt thời gian, nếu hợp đồng không quy
định gì thì phụ thuộc vào thời gian giao hàng, thông thường L/C được mở vào
khoảng 15 đến 20 ngày trước thời hạn giao hàng.
* Thuê tàu lưu cước nếu nhập giá FOB:
ở đây cần lưu ý khi lựa chọn phương tiện vận tải. Phương tiện vận tải phải phù
hợp với hàng hóa nhập khẩu. Thông thường, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu uỷ
thác việc thuê tàu cho một công ty vận tải chuyên nghiệp. Trong điều kiện nước ta
hiện nay thì các doanh nghiệp trong nước thường nhập khẩu theo điều kiện CIF.
* Mua bảo hiểm:
Trong kinh doanh thương mại quốc tế, bảo hiểm đường biển là loại bảo hiểm
quan trọng nhất và phổ biến vì chuyên chở hàng bằng đường biển có xác suất rủi ro
cao.
* Làm thủ tục hải quan: gồm có 3 bước sau:
+ Khai báo hải quan: Chủ hàng phải khai báo chi tiết về hàng hóa trên tờ khai
hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ.
+ Xuất trình hàng hóa: Hàng hóa phải được sắp xếp, thuận tiện cho việc kiểm
tra. Hải quan đối chiếu hàng hóa trong tờ khai với thực tế để quyết định có cho hàng
đơn vị nào đó. Cho nên sau khi hàng về tới biến giới, cảng ga, đơn vị phải tiến hành
vận chuyển hàng hóa về nơi tiêu thụ. Yêu cầu đối với công tác này là phải tính toán
xác định chính xác đầu mối giao hàng, lượng hàng dự trữ, sắp xếp kho chứa khi lập
kế hoạch vận chuyển.
Hàng nhập khẩu từ nước ngoài về được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Để
thực hiện việc tiêu thụ hàng hóa một cách có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất
cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho việc tái đầu tư vào quá trình nhập khẩu tiếp
theo thì doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu cần phải:
- Xác định các kênh phân phối và các hình thức bán.
- Tổ chức phân phối hàng hóa vào các kênh khác nhau.
- Tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng.
- Tổ chức nghiệp vụ bán hàng cụ thể tại các cửa hàng, quầy hàng.
Trên đây là một số phương pháp nhằm thúc đẩy quá trình vận chuyển và tiêu
thụ hàng hóa của doanh nghiệp, như vậy để làm tốt khâu này doanh nghiệp có thể
kết hợp với các yếu tố khác như sẽ trình bày ở dưới đây.
4. Xúc tiến bán hàng.
Một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình kinh doanh nhập khẩu đó
là hoạt động xúc tiến. Như đã trình bày ở trên, doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu
hàng hóa là để phục vụ kinh doanh. Cho nên xúc tiến bán hàng ( hàng hóa nhập
khẩu ) sẽ góp phần đầy mạnh việc tiêu thụ các hàng hóa được nhập khẩu về. Thực tế
đã chứng minh nhiều trường hợp hàng hóa nhập khẩu về không bán được. Điều này
không phải do chất lượng hàng hóa kém, giá thành cao mà do tổ chức xúc tiến bán
hàng không tốt.
Ta có thể hiểu xúc tiến bán hàng là tập hợp các kỹ thuật, nghệ thuật bán hàng
nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa. Hoạt động xúc tiến bán hàng thường
được thực hiện qua các kỹ thuật sau:
a. Quảng cáo:
Quảng cáo là nghệ thuật sử dụng các phương tiện truyền tin để đưa các thông
tin về hàng hóa, dịch vụ, danh tiếng và tiềm lực cho khách hàng. Mục đích của
quảng cáo là nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng rồi dẫn đến quyết định mua