LUẬN VĂN:
Hoàn thiện hoạt động kinh doanh
nhập khẩu hàng hoá tại công ty
TNHH P&T
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ
nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ở cả cấp độ khu vực và thế giới, với sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại
và kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc. Trong bối cảnh đó thì thương mại
quốc tế đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước, góp phần phát huy lợi
thế so sánh của đất nước. Nhập khẩu là một bộ phận quan trọng không thể tách rời
trong các quan hệ thương mại quốc tế.
Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với người tiêu dùng trong nước cũng như
đối với toàn bộ nền kinh tế. Nó tạo điều kiện cho người tiêu dùng đa dạng hóa sự lựa
chọn các sản phẩm , giá cả phù hợp hơn. Không những thế nó còn góp phần tăng hiệu
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tại
công ty TNHH P&T.
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu hàng hóa của công ty TNHH P&T.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN P&T
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH P&T.
Công ty trách nhiệm hữu hạn P&T được thành lập vào năm 2000 theo giấy
phép kinh doanh số 0102000147 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội- Phòng đăng ký
kinh doanh số 1 cấp. Đăng ký lần đầu vào 08/03/2000. Đăng ký thay đổi lần 4 vào
07/08/2008.
Tên chính thức: Công ty TNHH P&T 124 Vĩnh Tuy- Hai Bà Trưng- Hà nội.
Tên giao dịch: P&T company limited
Địa chỉ email: [email protected]
Số điện thoại: 046445657
Mã số thuế: 0800297536
Số tài khoản: 000547790001 Tại ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á chi
nhánh Hà Nội
Đại diện do bà: Nguyễn Ngọc Thuỳ Linh - Chức vụ: Giám đốc
Công ty chủ yếu hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu hàng hoá theo
hình thức kinh doanh thương mại.
Những mặt hàng chủ yếu mà công ty kinh doanh là săm lốp ô tô nhãn hiệu
Caosumina sản xuất tại việt nam, ngoài ra công ty còn chuyên nhập khẩu các loại lốp
Sơ đồ 1.1: Bộ máy tổ chức của công ty TNHH P&T Nguồn: Phòng hành chính nhân sự công ty Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy tổ chức:
+ Giám đốc: Là người quyết định thực thi kế hoạch, chiến lược phát triển của
công ty thông qua sự tổng hợp ý kiến, đánh giá từ hệ thống các phòng ban trực thuộc
sự quản lý của giám đốc. Từ đó ta thấy giám đốc có nhiệm vụ là:
Theo dõi, giám sát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Thay mặt doanh nghiệp ký kết các hợp đồng kinh tế phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doạnh của công ty
Ký các hợp đồng lao động, tuyển dụng nhân sự.
+ Phó giám đốc: Tham mưu cho giám đốc về các kế hoạch và chiến lược phát
triển công ty.
Phó giám đốc chịu trách nhiệm triển khai các quyết định của giám đốc tới các
phòng ban trực thuộc mình quản lý theo sự phân công của giám đốc.
+ Phòng kế toán:
Quản lý tài chính kế toán toàn công ty theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê,
các chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp
Giám đốc
Phòng kinh
doanh
Phòng xuất
nhập khẩu
Phòng kế toán
Bảo vệ quản lý nguồn nhân lực, tiền lương của công ty.
Quản lý và kiểm soát việc thực hiện các chính sách, chế độ của nhà nước
đối với người lao động
Tổ chức thi đua khen thưởng và kỷ luật. giải quyết các đơn thư khiếu nại…
1.4. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
1.4.1.Lĩnh vực kinh doanh của công ty.
Theo giấy phép kinh doanh của công ty thì công ty được phép kinh
doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau như buôn bán tư liệu sản xuất, đại lý ký
gửi, môi giới thương mại, các dịch vụ sửa chữa ô tô…Nhưng trên thực tế thì
công ty hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực kinh doanh thương mại bao gồm kinh
doanh thương mại nội địa và kinh doanh nhập khẩu hàng hóa mà chủ lực là
kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tức là nhập khẩu các sản phẩm săm lốp, yếm
cao su ô tô về phân phối cho các công ty trong nước. Hiện nay công ty kinh
doanh các mặt hàng nhập khẩu khoảng 90% là thương mại còn lại là phục vụ
cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty.
Đối với kinh doanh thương mại nội địa của Công ty cổ phần cao su miền
nam casumina. Các mặt hàng này được công ty kinh doanh với tư cách là đại lý
phân phối cấp 1.Các mặt hàng chủ yếu nhập từ thị trường nội địa bao gồm săm
lốp xe đạp, các sản phẩm phụ trợ như găng tay cao su, đệm đắp ô tô…Hiện nay
công ty cũng đang tích cực tìm kiếm các nguồn cung ứng hàng hóa mới nhằm
đa dạng hóa sản phẩm, tạo nguồn hàng ổn định…
Đối với kinh doanh nhập khẩu hàng hóa thì đây là lĩnh vực chủ đạo của
công ty. Các thị trường nhập khẩu chủ yếu của công ty lâ Thái Lan, Trung
Quốc và Nga. Các sản phẩm nhập khẩu chủ lực từ các thị trường này là săm
lốp, yếm ô tô.
Từ các ý trên ta có thể thấy rằng đối với tất cả các mặt hàng kinh doanh của
Các sản phẩm của công ty dù được huy động từ nguồn nào cũng đều được tiêu
thụ, phân phối tại thị trường trong nước. Hiện nay, quy mô thị trường của công ty đã
bao trùm toàn bộ thị trường Việt Nam, sản phẩm của công ty hướng tới tất cả các đối
tượng người tiêu dùng, từ những người có thu nhập cao và trung bình đến người tiêu
dùng có thu nhập thấp (đối với một số ngành hàng), từ đối tượng tiêu dùng là hộ gia
đình đến những công trình công cộng, phục vụ sản xuất (như sản phẩm lốp máy
kéo…).
Hệ thống mạng lưới phân phối hàng hóa của: công ty áp dụng phương thức
phân phối rộng rãi, nghĩa là công ty cố gắng đưa sản phẩm và dịch vụ của mình tới
càng nhiều người bán lẻ càng tốt. Hiện nay công ty đang sử dụng hai kênh phân phối
chủ yếu đó là kênh phân phối một cấp và kênh phân phối ba cấp được thể hiện rõ qua
sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.2.: Hệ thống kênh phân phối của công ty
Người tiêu
dùng(Quy mô
nhỏ)
của công ty có mặt trực tiếp tại cửa hàng để hướng dẫn hỗ trợ các cửa hàng bán lẻ về
các vấn đề kỹ thuật…
Ngoài phương thức phân phối gián tiếp công ty còn thực hiện phương thức
phân phối trực tiếp mà mục tiêu là các khách hàng có quy mô lớn như các công ty lắp
ráp phương tiện vận tải, các công trình xây dựng công cộng…Đối với phương thức
này công ty tìm kiếm khách hàng trực tiếp hoặc thông qua các chương trình đầu thầu
giới thiệu sản phẩm, hoặc tìm kiếm mối tiêu thụ thông qua sự năng động của đội ngũ
kinh doanh của công ty.
Ngoài các kênh phân phối trên thì để nâng cao doanh số công ty còn tổ chức
các chương trình marketing như quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin
đại chúng, thực hiện, tổ chức các chương trình khuyến mại, hậu mãi khách hàng, các
chương trình tri ân khách hàng, bảo hành bảo trì sản phẩm…
1.4.4 Quy trình kinh doanh nhập khẩu của công ty.
Để hiểu rõ về quy trình kinh doanh nhập khẩu của công ty chúng ta có thể xem sơ
đồ 1.3 dưới đây:
Qua sơ đồ ta thấy hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty được thực hiện
theo một quy trình nhất định bao gồm trên cả thị trường trong nước và thị trường
nứơc ngoài. Đầu tiên công ty tiến hành nghiên cứu thị trường nhập khẩu về các vấn
đề như nguồn hàng, chất lượng hàng, giá cả, môi trường luật pháp chính trị, tiềm lực
tài chính…, tiến hành nghiên cứu thị trường tiêu thụ trong nước về mức độ tiêu thụ
hàng nhập khẩu, các chủng loại hàng nhập khẩu tiêu thụ tốt, báo cáo tồn kho kỳ
trước…Từ đó có cơ sở lập kế hoạch nhập khẩu. Sau đó thực hiện các nghiệp vụ để
hoàn thành việc nhập khẩu hàng hóa như giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng nhập
nhập khẩu
Giao dịch,
đàm phán,
ký kết hợp
đồng nhập
kh
ẩu
Nhận đơn
đặt hàng của
khách hàng
Tổ chức thực
hiện hợp đồng
nhập
khẩu(mở L/C,
mua bảo
hiểm, nhận
hàng, kiểm tra
hàng hóa.
Tổ chức
đem hàng
tới nơi tiêu
thụ
|Tìm
kiếm
đầu mối
tiêu thụ
hàng
toàn cầu song kim ngạch nhập khẩu của công ty không vì thế giảm đi mà ngược lại
vẫn tăng đều qua các năm là do các sản phẩm nhập khẩu của công ty đã có sự tiến bộ
về chất lượng, mẫu mã…đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, thị trường tiêu thụ
của công ty không ngừng mở rộng nhờ vào sự đầu tư bài bản vào chiến lược
marketing đối với các mặt hàng kinh doanh xuyên suốt theo thời kỳ, công ty đã và
đang có chiến lược kinh doanh hợp lý, đúng đắn mang lại doanh thu tốt, nhiều đơn
hàng…
2.1.2. Thị trường nhập khẩu của công ty.
Có thể nói thị trường nhập khẩu của công ty khá ổn đinh, công ty giữ được mối
quan hệ làm ăn lâu dài với đối tác truyền thống được thể hiện qua bảng số 2.2 dưới
đây:
Bảng số 2.2: Thị trường nhập khẩu của công ty
Đơn vị: USD
Thị
Trường
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Giá trị
Tỷ
trọng(%) Giá trị
Tỷ
trọng(%) Giá trị
Tỷ
trọng(
%)
Sau thị trường Thái Lan thì thị trường Trung Quốc đứng vị trí thứ hai trong
kim ngạch nhập khẩu của công ty luôn chiếm gần 20% trong tổng kim ngạch nhập
khẩu của công ty. Kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này có xu hướng tăng trong
những năm gần đây tăng từ 526.255,8USD trong năm 2007 tới 621.361USD năm
2009. Các mặt hàng nhập khẩu chính từ thị trường này chủ yếu là săm lốp ô tô nhãn
hiệu Wandi, stetra…. Thị trường Trung Quốc cũng là một trong những thị trường
trọng điểm trong quan hệ thương mại của công ty. Đây cũng là thị trường công ty
nhập khẩu khá nhiều. Do các mặt hàng của Trung Quốc đa dạng về mẫu mã, giá
thành lại rẻ mặc dù chất lượng không cao bằng các sản phẩm săm lốp của Thái Lan
nhưng những mặt hàng của thị trường này cũng khá dễ tiêu thụ vì Việt Nam là một
nước đang phát triển, các sản phẩm tầm trung dễ thu hút được sự chú ý của khách
hàng.
Sau thị trường Thái lan và Trung quốc là thị trường Nga đứng thứ ba trong kim
ngạch nhập khẩu của công ty chiếm khoảng 5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của
công ty. Nga là đối tác mới, một thị trường cung ứng đầu vào rất triển vọng và tiềm
năng cho công ty. Bên cạnh Thái Lan và Trung |Quốc, giá trị nhập khẩu từ thị trường
Nga tăng khá nhanh trong thời gian gần đây. Nga và Việt Nam có quan hệ ngoại giao
khá tốt tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu hàng hóa từ Nga vào Việt Nam.
2.1.3. Các mặt hàng nhập khẩu của công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn P&T kinh doanh rất nhiều các mặt hàng săm lốp,
các sản phẩm phụ trợ song những mặt hàng chủ yếu mà công ty nhập khẩu là săm lốp
ô tô, yếm ô tô. Cụ thể được thể hiện rõ ràng qua bảng số 2.3 dưới đây:
Bảng2. 3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của công ty( 2007-2009)
Đơn vị: USD
Mặt hàng
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
520.108
16,21
Yếm ô tô 242.765
9,23
357.272
12,53
432.077
13,47
Tổng 2.631.279
100
2.850.157
100
3.206.805
100
giúp cho công ty có thể cạnh tranh tốt với các doanh nghiệp khác trong nước.
2.1.4. Hệ thống kênh tiêu thụ và phương thức tiêu thụ hàng nhập khẩu của công
ty.
Trong những năm gần đây công ty trách nhiệm hữu hạn P&T đã có những nỗ lực
tạo ra chiến lược marketing hợp lý nhằm không ngừng mở rộng thị phần tiêu thụ của
mình trong thị trường nội địa. Cụ thể điều đó được thể hiện qua bảng số 2.4 dưới đây:
Bảng số 2.4: Thị phần tiêu thụ hàng nhập khẩu của công ty theo miền ở Việt Nam
Đơn vị %
Thị phần 2007 2008 2009
Bắc 56 58 54
Trung 28 24 25
Nam 16 18 21
Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu của công ty P&T Qua bảng số liệu ta thấy Miền Bắc dẫn đầu trong thị phần tiêu thụ hàng nhập
khẩu của công ty vì nó luôn chiếm khoảng trên 50% trong tổng thị phần của công ty.
Thị phần miền Bắc khá ổn định qua các năm từ 56% năm 2007 lên 58% năm 2008.
Song thị phần Miền Bắc lại giảm 4% từ 58% năm 2008 xuống còn 54% năm 2009 do
thị trường Miền Bắc có khá nhiều đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn mạnh cả về vốn
và sản phẩm, hơn nữa trong thời gian này công ty hướng sang khai thác thị trường rất
tiềm năng là Miền Nam.
Đứng thứ hai sau Miền Bắc là Miền Trung luôn chiếm khoảng 25% trong tổng
thị phần tiêu thụ hàng nhập khẩu của công ty. Thị phần miền trung cũng tương đối ổn
định, có sự tăng giảm qua các năm nhưng không đáng kể. Cụ thể năm 2008 thị phần
giảm 4% so với năm 2007, năm 2009 thị phần tăng 1% so với năm 2008. Đây là thị
xuất của công ty.
2.2. Đánh giá chung về kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của
công ty trách nhiệm hữu hạn P&T.
2.2.1. Những thành tựu đạt được
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình công ty đã đạt được những chỉ
tiêu nhất định phản ánh hiệu quả của hoạt động nhập khẩu hàng hóa tại công ty mà cụ
thể được thể hiện qua bảng 2.5 dưới đây:
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu qua các năm
Đơn vị: USD
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Vốn kinh doanh nhập khẩu 1.095.035 1.099.535 1.183.981
Doanh thu nhập khẩu 3.120.850 3.408.560 3.812.420
Chi phí nhập khẩu 3.105.420 3.390.310 3.791.408
Lợi nhuận nhập khẩu 15.430 18.250 21.012
Lợi nhuận nhập khẩu sau thuế 12.344 13.687,5 15.759
Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu 0,49 0,53 0,55
Lợi nhuận nhập khẩu/Vốn kinh
doanh nhập khẩu (%)
1,4% 1.66% 1.78%
Doanh thu nhập khẩu/Vốn kinh
doanh nhập khẩu (vòng)
2,85 3,10 3,22
Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu của công ty P&T
2.2.1.1. Hoạt động kinh doanh nhập khẩu mang lại lợi nhuận hàng năm cho công
ty.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình công ty đã sử dụng khá hiệu
quả vốn kinh doanh nhập khẩu giúp tăng lợi nhuận kinh doanh của công ty. Qua bảng
tốc độ tăng chi phí. Cùng với thời gian thì các hình thức kinh doanh nhập khẩu của
công ty thay đổi theo hướng tích cực khiến cho tỷ suất lợi nhuận tăng nhanh. Mặt
khác sự biến động về giá cước phí(chi phí vận chuyển hàng hóa) theo hướng tích cực
cũng khiến cho lợi nhuận của công ty thu được nhiều hơn.
Công ty đã biết tận dụng những nguồn lực của mình về lao động, kinh
nghiệm…để khắc phục khó khăn và tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp với các bạn hàng,
tạo uy tín trên trường quốc tế.
2.2.1.2. Kim ngạch nhập khẩu tăng đều qua các năm.
Kim ngạch nhập khẩu của công ty tăng đều qua các năm và luôn tăng với tốc
độ khá cao, qua đó doanh thu từ hoạt động nhập khẩu cũng từ đó tăng lên qua các
năm. Mặc dù phải đối mặt với không ít khó khăn từ sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
của nền kinh tế thị trường, từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nguồn vốn kinh doanh
hạn chế…song không những kim ngạch nhập khẩu của công ty trong những năm gần
đây không giảm đi mà còn tăng lên đều đặn qua các năm. Điều đó là kết quả tất yếu
của những nỗ lực không ngừng trong kinh doanh của công ty.
2.2.1.3. Chủng loại mặt hàng kinh doanh của công ty khá ổn định
Chủng loại mặt hàng kinh doanh của công ty khá ổn định và luôn luôn được
chú trọng thay đổi cơ cấu, đa dạng hóa sản phẩm sao cho phù hợp với thị trường, đáp
ứng được yêu cầu của đường lối chính sách của đảng và nhầ nước ta. Ba mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu của công ty là lốp ô tô, săm ô tô, yếm ô tô chiếm tỷ trọng lớn làm
cơ sở đảm bảo cho một doanh thu ổn định của công ty do công ty đã có đầu ra ổn
định. Trong thời gian qua công ty đã nhập khẩu được những mặt hàng đáp ứng tốt về
chất lượng, mẫu mã đối với bạn hàng trong nước. Qua đó ta thấy được công tác nghiên
cứu bạn hàng của công ty rất được chú trọng và thực hiện khá tốt. Công ty cũng đã
không ngừng chú trọng tăng cường các mối quan hệu với khách hàng không ngừng nâng
cao trách nhiệm của mình trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
2.2.1.6. Hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty góp phần giải quyết việc
làm và mang lại thu nhập ổn định cho cán bộ nhân viên.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty có hiệu quả tạo ra công ăn việc
làm và thu nhập ổn định cho cán bộ nhân viên chính là những hiệu quả về mặt xã hội
mà hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty mang lại. Có thể nói hiệu quả về
mặt xã hội trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp là những mặt lợi ích không
thể định lượng được nhưng nó có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc lựa chọn
phương án nhập khẩu để triển khai trong thực tế. Người ta thường gắn việc thực hiện
việc phân tích hiệu quả về mặt xã hội trong hoạt động nhập khẩu với việc thực hiện
các nhiệm vụ xã hội đặt ra cho các doanh nghiệp. Hay nói cách khác là phải phân tích
ảnh hưởng của phương án nhập khẩu đối với toàn bộ đời sống kinh tế xã hội.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty đạt hiệu quả kinh tế đông thời
mang lại theo nó là hiệu quả xã hội mà cụ thể là góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho cán bộ công nhân viên của công ty. Ban đầu thành lập công ty chỉ có quy mô
khoảng 17 nhân viên mà hiện nay tổng số nhân viên của công ty đã lên tới khoảng
100 nhân viên. Như vậy trong quá trình hình thành và phát triển công ty đã tạo việc
làm mới cho khoảng hơn 80 lao động từ đó giúp giảm tải tình trạng thất nghiệp, giải
quyết công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho nhân viên công ty.
Không chỉ góp phần vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp tạo công ăn việc
làm cho nhân viên mà công ty còn luôn nỗ lực mang lại nguồn thu nhập ổn định,
mang lại chế độ làm việc tốt nhất cho nhân viên. Lương của cán bộ nhân viên công ty
được thanh toán vào ngày 25 hàng tháng, ngoài ra công ty còn có chế độ ứng trước
lương cho nhân viên vào ngày 15 hàng tháng tạo điều kiện cho họ dễ dàng hơn trong
chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày. Công ty luôn chú trọng tới nhân tố con người nên
có những chế độ ưu đãi với nhân viên như đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng cho
nhân viên, tổ chức xe đưa đón cán bộ công nhân viên đi làm…Thu nhập bình quân
kho, lưu bãi, một số hạn chế trong khâu thanh toán. Điều này dẫn tới việc tăng chi
phí nhập khẩu, giảm lợi nhuận, dẫn tới việc thiếu đồng bộ trong hoạt động kinh
doanh của công ty do việc bất ổn định nguồn hàng gây ra.
Bốn là công ty còn gặp phải rất nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh hàng hóa của
các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài, có sự hỗ trợ từ nước ngoài tại Việt
Nam. Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu và rộng như hiện nay thì tốc độ cạnh
tranh diễn ra ngày càng quyết liệt, nhanh chóng vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải có
những chính sách phù hợp, kịp thời.
Năm là hệ thống trang thiết bị công nghệ thông tin còn lạc hậu, chưa ứng dụng
được thương mại điện tử trong kinh doanh, chưa có website riêng…
Sáu là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên của công ty
còn chưa cao, cần phải có kế hoạch đào tạo thêm.
2.2.3. Những nguyên nhân của những tồn tại
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty chưa được đào tạo bải bản, còn
nhiều thiếu sót trong việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới hoạt động xuất nhập
khẩu, thực hiện các hợp đồng ngoại thương…từ đó dẫn tới nhiều sai sót đáng tiếc gây
thiệt hại cho công ty.
- Công ty chưa thực sự có những chính sách quan tâm, hỗ trợ các hoạt động
xúc tiến nghiên cứu thị trường nhập khẩu, tìm kiếm đối tác mới. Công ty thành lập
cũng chưa được lâu nên các quan hệ và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế còn rất hạn
chế chủ yếu là các quan hệ từ trước. Công tác nghiên cứu thị trường chưa được quan
tâm đúng mức. Chưa có sự hỗ trợ về thông tin, gắn kết giữa bộ phận kinh doanh…dẫn
tới yếu kém trong giai đoạn tiêu thụ hàng hoá từ đó ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
của toàn doanh nghiệp .
- Vốn đầu tư để thành lập công ty thấp nên vốn quay vòng cho kinh doanh bị
hạn chế dẫn tới tình trạng kém chủ động trong kinh doanh, hạn chế khả năng tham