Thực trạng hoạt động cho vay DNNQD - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp
Danh mục các chữ viết tắt
DNNQD : Doanh Nghiệp ngoài quốc doanh
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
CTCP: Công ty cổ phần
CTTNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
CNH – HĐH: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
TLSX: Tư liệu sản xuất

Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua luôn tăng trưởng với tốc
độ cao. Với tiềm lực to lớn, sự đa dạng về nhiều mặt ngành nghề, lĩnh vực sản
xuất, công nghệ… các DNNQD đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển cho
nền kinh tế, góp phần vào những thành tựu sau hai mươi mốt năm đổi mới và
phát triển của đất nước. Tăng trưởng kinh tế cao thúc đẩy hoạt động ngân
hàng, sức nóng cuả nền kinh tế thị trường đang lan toả, nhu cầu vốn trong tình
trạng “nóng” và diễn ra khẩn trương.
Các DNNQD ở nước ta hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên
nhu cầu về vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công
nghệ, mở rộng sản xuất và đầu tư ngày càng lớn. Vì vậy, việc thúc đẩy cho
vay DNNQD là một giải pháp tăng tín dụng có hiệu quả, là đầu ra tín dụng
lớn, là đối tượng khách hàng tiềm năng của các NHTM trong thời gian tới.
Hơn nữa, nguồn tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn huy động quan
trọng để các DNNQD có thể giữ vững sân nhà, và vươn ra thị trường quốc tế
trong xu thế hội nhập như hiện nay.

- DNNN: là loại hình doanh nghiệp do Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối được tổ chức ( > 50% vốn điều
lệ ) dưới hình thức: công ty Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần.
- DNNQD: là loại hình doanh nghiệp có nguồn vốn trong nước thuộc
sở hữu của một tập thể, tư nhân, một người hoặc một nhóm người, hoặc có
vốn góp của Nhà nước không vượt quá 50% vốn điều lệ.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không phân biệt tỷ lệ góp vốn của
bên nước ngoài gồm có: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp
liên doanh giữa đối tác nước ngoài với đối tác trong nước.
Các DNNN có xu hướng ngày càng giảm, chỉ nắm giữ những ngành
kinh tế then chốt của đất nước hoặc những lĩmh vực mà các loại hình doanh
nghiệp khác không muốn đầu tư. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
4
Chuyên đề tốt nghiệp
nước ngoài đang phát triển khá nhanh, tuy nhiên sự phát triển của loại hình
này bị giới hạn bởi sự hấp dẫn, thu hút các đối tác nước ngoài, môi trường
pháp lí của mỗi nước. Còn loại hình DNNQD được Nhà nước khuyến khích
phát triển, đóng góp to lớn đến sự phát triển nhanh và ổn định nền kinh tế.
1.1.2. Phân loại Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Để thuận tiện cho công việc giám sát, quản lí người ta phân chia
DNNQD thành các loại khác nhau theo từng loại tiêu chí.
1.1.2.1. Phân loại theo loại hình doanh nghiệp ( phân định trách nhiệm và
quản lí hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp ) gồm có:
- Doanh nghiệp tư nhân ( DNTN ): là doanh nghiệp do một cá nhân làm
chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp ( Theo Luật doanh nghiệp 2005 )
- Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành

- Doanh nghiệp nông nghiệp: là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh các nông phẩm, cây trồng, vật nuôi…
- Doanh nghiệp công nghiệp: là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp. Ở nước ta chủ yếu là sản xuất các mặt
hàng công nghiệp nhẹ.
- Doanh nghiệp thương mại dịch vụ: là các doanh nghiệp mua bán hàng
hoá và cung ứng các dịch vụ như bảo hiểm, ngân hàng tài chính, du lịch,
khách sạn…
1.1.3. Vai trò của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNQD với tiềm lực to lớn, sự đa dạng về nhiều mặt đã và đang khẳng
định được vai trò ngày càng quan trọng của mình đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Vai trò của các DNNQD thể hiện ở một số khía cạnh sau:
1.1.3.1. Thu hút và phát triển tốt các nguồn lực trong nền kinh tế
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất là vốn đầu tư, các DNNQD sử dụng đa dạng các phương thức
huy động vốn để khai thác hiệu quả mọi nguồn vốn trong nền kinh tế. Đặc
biệt là thu hút được lượng vốn nhàn rỗi lớn trong xã hội. Với điều kiện kinh tế
thị trường đang phát triển như Việt Nam hiện nay thì việc huy động được
nguồn vốn nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh là tác động tích cực, cần thiết tạo
nên động lực cho tăng trưởng. Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp thu hút
năm 2007 là 2439 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh thu hút
được 487 nghìn tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng nguồn vốn của các doanh
nghiệp, tăng 43% so với năm 2006. Vốn đầu tư của các DNNQD đang trở
thành nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế của nhiều vùng,
địa phương.
Thứ hai, thu hút và giải quyết việc làm cho người lao động.Thất nghiệp
là một trong những vấn đề nan giải, bức xúc ở các nước đang phát triển nói
chung và Việt Nam nói riêng. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm

dân trong nước và xuất khẩu.
DNNQD không chỉ là nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ lớn cho nền kinh
tế mà còn đóng góp vai trò không nhỏ vào quá trình sản xuất, tái sản xuất xã
hội, cung cấp hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế. Sử dụng các yếu tố đầu vào
DNNQD tiếp tục quá trình tái sản xuất xã hội để tạo ra nhiều hàng hoá phong
phú về chủng loại, đa dạng về kiểu cách, có chất lượng nhằm đáp ứng đầy đủ
nhu cầu của dân cư và xuất khẩu ra nước ngoài. Do yêu cầu tồn tại, phát triển
trong nền kinh tế cạnh tranh các DNNQD ra sức nghiên cứu thị trường, tìm
hiểu nhu cầu xã hội, đổi mới công nghệ, tiến hành những phương pháp sản
xuất kinh doanh mới, đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của cuộc sống. Với giá
thành rẻ, chất lượng cao, hàng hoá dịch vụ phong phú đã góp phần nâng cao
đời sống nhân dân, phục vụ các yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
8
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.3. Góp phần tăng thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách Nhà nước, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các DNNQD đã đóng góp vào tổng thu
nhập quốc dân. Khu vực DNNQD luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khối
doanh nghiệp đóng góp vào GDP. Các DNNN đóng góp trung bình 39% GDP
hàng năm; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp trung bình 4.5%
GDP hàng năm; DNNQD trung bình hàng năm đóng góp khoảng 46% GDP,
năm 2007 tỷ trọng đóng góp vào GDP là 50%.
Các DNNQD sản xuất kinh doanh khá hiệu quả, doanh thu trung bình
hàng năm tăng 33%, năm 2007 đạt 857 nghìn tỷ đồng. Doanh thu cao dẫn tới
khoản thuế thu nhập doanh nghiệp nộp vào ngân sách Nhà nước càng tăng.
Năm 2007, số thuế nộp NSNN của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 8.615
tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2006. Đây là khoản thuế lớn, có ý nghĩa kinh tế
quan trọng phản ánh sự tăng trưởng của nền kinh tế về quy mô và hiệu quả.
1.1.3.4. Thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

nền kinh tế nước ta, để tối đa hoá nguồn lực dư thừa trong xã hội phải phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Việc khuyến khích phát triển các DNNQD đảm bảo cho chính
sách này đi đúng hướng và đạt được kết quả. Phát triển tốt DNNQD không
những thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn hỗ trợ cho thành phần kinh tế Nhà
nước có vốn đầu tư nước ngoài phát huy đầy đủ vai trò của mình. Hiện nay,
chỉ còn hơn 4.000 DNNN và đang tiến hành từng bước cổ phần hoá. Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhưng tốc độ chậm. Còn DNNQD
tăng rất nhanh, nhất là các công ty cổ phần, công ty TNHH. Sự phát triển của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là nhân tố chủ yếu tạo môi trường cạnh
tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ tính độc quyền của kinh tế Nhà
nước, thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Qua đó ta thấy vai trò to lớn của DNNQD trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH. Các DNNQD luôn đi đầu trong việc
thay đổi công nghệ sản xuất lạc hậu, áp dụng các thành tựu khoa học công
nghệ và sản xuất kinh doanh chính là thực hiện CNH – HĐH cho mình.
Những sản phẩm mà DNNQD sản xuất ra tiếp tục phục vụ cho quá trình CNH
- HĐH ở hầu hết các lĩnh vực. DNNQD phát triển mạnh mẽ trong các ngành,
các vùng miền, thích ứng với xu hướng đô thị hoá tạo ra nhiều cơ hôi phân
công lại lao động, thu nhập giữa các ngành, vùng miền, góp phần thực hiện
CNH - HĐH đất nước. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của
nước ta sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia của DNNQD.
1.1.4. Đặc điểm của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh .
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm riêng, để phát triển
có hiệu quả vai trò của mỗi loại hình cần phải chú ý tới đặc điểm của chúng.
Các DNNQD có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Các DNNQD được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa trên tính chất tư

doanh nghiệp tư nhân (chiếm 43%). Trong những năm gần đây, số
doanh nghiệp có vốn sử dụng dưới 10 tỷ đồng chiếm 94%; bình quân
vốn thực tế một doanh nghiệp sử dụng là 3.7 tỷ đồng, quá ít so với nhu
cầu phát triển của nền kinh tế.
Biểu đồ: Tỷ trọng các DNNQD phân theo quy mô vốn
28%
20%
39%
7%
4.50%
1%0.50%
dưới 0.5 tỷ đồng
0.5-1 tỷ đồng
1-5 tỷ đồng
5-10 tỷ đồng
10-50 tỷ đồng
50-200 tỷ đồng
>200 tỷ đồng
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Quy mô lao động cũng đa dạng về số lượng lao động sử dụng, về trình độ
lao động được sử dụng và tập trung chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, doanh
nghiệp có số lao động dưới 300 người chiếm 98%; số lượng doanh nghiệp
có quy mô lao động lớn rất ít, chủ yếu ở các công ty cổ phần hoặc công ty
TNHH.
Biểu đồ: Tỷ trọng các DNNQD phân theo số lượng lao động
98%
1.40%
0.60%

triển chung của đất nước và thế giới. Số lượng các DNNQD đã tăng lên
đáng kể trong những năm qua, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn (khoảng
93% tổng số doanh nghiệp). Tốc độ tăng bình quân gấp 1.3 lần qua các
năm; bình quân mỗi năm có trên 7.000 DNNQD được thành lập.
DNNQD phát triển mạnh đặc biệt ở các đô thị trung tâm thành phố lớn.
Trên địa bàn Hà Nội, nếu năm 2001 chỉ có 2.818 doanh nghiệp thì đến
2005 đã có 2.5479 doanh nghiệp, đến nay có khoảng 36.500 DNNQD.
Sự phát triển này càng chứng tỏ vai trò kinh tế quan trọng của khu vực
DNNQD.
Biểu đồ: Số lượng DNNQD qua các năm 2005 – 2007
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
14
Chuyên đề tốt nghiệp
118340
153846
200000
0
50000
100000
150000
200000
250000
2005 2006 2007
Năm
tỷ đồng
- Khả năng tích luỹ và huy động vốn của các DNNQD còn hạn chế, trong
khi nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, mua sắm
trang thiết bị…là rất lớn. DNNQD ở nước ta ra đời muộn trong môi
trường pháp luật mới tạo dựng còn nhiều vướng mắc, chủ yếu là quy
mô nhỏ và trung bình, năng lực quản lý chưa cao nên khả năng tích luỹ

doanh của doanh nghiệp, các thông số đánh giá, trình độ thẩm định cao. Loại
hình DNNQD được chính thức đi vào hoạt động muộn, các Ngân hàng còn e
ngại cho vay loại hình này, sự chuyên sâu cũng như kinh nghiệm cho vay
DNNQD còn hạn chế. Tuy nhiên, các DNNQD chủ yếu có quy mô nhỏ và
trung bình nên nhu cầu sử dụng vốn cũng ở mức không quá lớn với thời gian
không quá dài rất phù hợp với nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
Cho vay là quan hệ tín dụng bình đẳng xuất phát từ lợi ích của cả doanh
nghiệp và Ngân hàng. Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều
gắn liền với các dịch vụ do NHTM cung cấp. Không một doanh nghiệp nào
không vay vốn Ngân hàng nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên
thương trường. Nguồn tín dụng Ngân hàng đảm bảo nguồn tài chính cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án
mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. Thông qua việc vay vốn
doanh nghiệp còn được Ngân hàng cung cấp thông tin, dịch vụ tư vấn giúp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
16
Chuyên đề tốt nghiệp
các doanh nghiệp giảm bớt chi phí do thiếu thông tin, có quyết định sản xuất
kinh doanh đúng đắn. Mặt khác, các doanh nghiệp còn được sử dụng những
dịch vụ đi kèm với khoản vay như dịch vụ thanh toán, Ngân hàng thu hộ tiền
bán hàng, chi trả các khoản chi phí, chi trả lương thưởng… Ngân hàng đóng
vai trò là thủ quỹ của doanh nghiệp. Tín dụng Ngân hàng còn góp phần nâng
cao chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các DNNQD. Bởi vì đặc
trưng của tín dụng là tính hoàn trả, các doanh nghiệp phải có phương án kinh
doanh hợp lí, phải tính toán nhằm hiệu quả hoá tất cả các hoạt động của mình
( giảm thiểu chi phí,tăng nguồn thu). Như vậy tín dụng Ngân hàng thực sự có
vai trò quan trọng đối với hoạt động của DNNQD. Đối với Ngân hàng, cho
vay được coi là hoạt động sinh lời cao, mang lại phần thu nhập chủ yếu cho
Ngân hàng. Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu: doanh số cho
vay trong kỳ và dư nợ cuối kỳ.

Đây là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp vay vốn và cũng là điều
kiện để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuỳ thuộc vào phương thức cho vay
mà khách hàng có thể trả vốn và lãi theo những cách thức khác nhau: trả lãi
hàng tháng, trả gốc cuối kỳ, trả theo niên kim cố định, trả gốc làm nhiều lần
trong thời hạn tín dụng…theo sự thoả thuận giữa hai bên. Xuất phát từ bản
chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quỳên sử dụng
vốn nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Nguồn vốn mà Ngân hàng sử dụng để cho vay chủ yếu là vốn huy động từ
tiền gửi của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và những khoản mà Ngân hàng
vay mượn là nguồn ngắn hạn. Sau một thời gian sử dụng vốn vay Ngân hàng
phải hoàn trả vốn và chi phí sử dụng vốn như đã cam kết. Do vậy, Ngân hàng
luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết hoàn trả vốn
và lãi đầy đủ và đúng hạn. Nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp là lợi nhuận
sau thuế và khấu hao TSCĐ.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
18
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.3. Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án/ dự án có hiệu quả
NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, do đó Ngân hàng tài trợ cho
các phương án/ dự án có tính khả thi để đảm bảo khả năng thu hồi vốn vay và
hưởng lãi. Ngân hàng thẩm định phương án/ dự án trước khi cho vay; phân
tích, đánh giá mục tiêu, kết quả của phương án/ dự án có thể đạt được nhằm
xác định khả năng sinh lời, tính an toàn và khả năng hoàn trả. Trong trường
hợp xem xét thấy phương án/ dự án kém an toàn Ngân hàng đòi hỏi khách
hàng vay phải có TSĐB.
1.2.3. Phân loại cho vay Doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Ngân hàng
thương mại
Để phục vụ tốt cho mục đích quản lí, giám sát các loại hình cho vay của
NHTM được phân thành nhiều nhóm tương ứng với sự đa dạng về nhu cầu và
mục đích vay vốn, phù hợp với từng điều kiện khác nhau của khách hàng. Với

được chi trội trên số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một
giới hạn nhất định, trong khoảng thời gian xác định (thường là thời gian
ngắn), không cần TSĐB. Thấu chi thực chất là một dạng của hạn mức
tín dụng trên tài khoản thanh toán. Đây là hình thức tín dụng linh hoạt,
thủ tục đơn giản (khách hàng chỉ cần làm đơn xin thấu chi nêu rõ mục
đích); thường áp dụng với những khách hàng có độ tin cậy cao, thu
nhập đều đặn, ổn định, kỳ thu nhập ngắn.
- Cho vay từng lần: đây là phương thức cho vay khá phổ biến, đối tượng
cho vay là các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên mà chỉ
khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay Ngân
hàng. Mỗi lần vay doanh nghiệp phải ký lại hợp đồng tín dụng - điều
này gây phiền hà cho khách hàng, tốn nhiều chi phí. Tuy nhiên, với
phương thức này Ngân hàng có thể kiểm soát được từng món vay tách
biệt.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
20
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cho vay theo hạn mức: là phương thức cho vay thuận tiện đối với các
doanh nghiệp có nhu cầu vay thường xuyên, có vòng quay vốn lưu động
nhanh, có khả năng tài chính lành mạnh, có uy tín với Ngân hàng. Nhu
cầu vay là để tài trợ cho nguồn vốn lưu động thiếu hụt. Nội dung chủ
yếu của cho vay theo hạn mức tín dụng là giữa Ngân hàng và khách
hàng thoả thuận xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong thời gian
nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh. Cho vay theo hạn mức
tín dụng không định kỳ hạn nợ cụ thể song kiểm soát chặt chẽ hạn mức
tín dụng còn thực hiện.
- Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa vào khối lượng hàng
luân chuyển để dự đoán dòng ngân quỹ. Ngân hàng cho doanh nghiệp
vay để mua hàng hoá và thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng. Bản
chất của phương thức này là cho vay theo hạn mức động dựa trên giá trị

khả năng thu hồi cao và là khoản tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận thì
cho vay hợp vốn là một phương thức cho vay hiệu quả.
1.2.3.3. Phân loại theo mực đích sử dụng
Khách hàng có nhu cầu rất đa dạng, khác nhau; căn cứ vào các mục
đích sử dụng vốn vay khác nhau Ngân hàng có thể phân loại cho vay
DNNQD thành: cho vay kinh doanh và cho vay tài trợ dự án.
- Cho vay kinh doanh: Ngân hàng cho doanh nghiệp vay nhằm tài trợ nhu
cầu vốn tăng thêm cho sản xuất kinh doanh như: mua thêm hàng hoá,
nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu…Do có nhiều loại hình doanh nghiệp
nên tương ứng với nó là các khoản vay khác nhau đáp ứng cho các nhu
cầu khác nhau trong kinh doanh. Phần lớn các khoản vay này đều có tài
sản thế chấp hoặc cầm cố.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
22
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cho vay tài trợ dự án: là việc Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm
có: đầu tư dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ;
đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất mới; đầu tư cải thiện môi trường sinh
thái, di chuyển cơ sở sản xuất khỏi đô thị; phát triển các dịch vụ nghiên
cứu triển khai, cơ sở thử nghiệm và các phòng thí nghiệm phục vụ
nghiên cứu khoa học; mua cổ phần, góp vốn vào các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế; đầu tư theo các hình thức BOT, BTO, BT.
Ngân hàng yêu cầu khách hàng vay phải xây dựng dự án thể hiện mục
đích sử dụng, kế hoạch đầu tư, quy trình thực hiện dự án. Ngân hàng chỉ
cho vay các dự án có khả năng sinh lời cao, đảm bảo tính hoàn trả.
1.2.3.4. Phân loại theo tính chất đảm bảo
Trong kinh doanh luôn phải đối đầu với những rủi ro, khách hàng vay
có thể gặp phải những biến cố không mong đợi làm mất khả năng trả nợ dẫn
tới những tổn thất lớn cho Ngân hàng. Vì thế, khi cấp tín dụng cho người vay

nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn trả nợ thứ nhất là lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh không đảm bảo trả nợ.
- Cho vay không cần TSĐB: đối với những khách hàng truyền thống, có
mối quan hệ tín dụng tốt và lâu dài với Ngân hàng thì Ngân hàng có thể
cho vay không cần TSĐB; mà dựa vào uy tín của khách hàng, uy tín của
bên thứ ba (các TCTD, các công ty tài chính lớn, các công ty lớn, công
ty mẹ…) hoặc theo chỉ định của Chính phủ. Nguồn trả nợ được lấy từ
thu nhập của khách hàng và phần thu từ dự án cho vay. Đối với hình
thức cho vay không có TSĐB sẽ rủi ro hơn cho Ngân hàng song giữ
chân được khách hàng truyền thống, nâng cao và củng cố mối quan hệ
với khách hàng.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung Ngân hàng 46C
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài ra còn có nhiều tiêu thức khác để phân loại cho vay như phân loại
theo hình thái tiền tệ ( VNĐ, USD, vàng…), phân loại theo ngành ( nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), phân loại theo phương thức hoàn trả ( cho vay
trả góp, cho vay trả cuối kỳ…) …
Các Ngân hàng thực hiện cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, các
nghiệp vụ cho vay không ngừng được mở rộng, hoàn thiện hơn mang lại tiện
ích cho người vay vốn đồng thời đảm bảo tính an toàn và lợi nhuận cho Ngân
hàng. Các hình thức cho vay phổ biến tại NHTM Việt Nam hiện nay là thấu
chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay tài trợ
dự ám, cho vay hợp vốn.
1.2.4. Những thuận lợi và khó khăn khi cho vay DNNQD
1.2.4.1. Những thuận lợi khi cho vay DNNQD
Do đặc điểm chung của các DNNQD ở Việt Nam hiện nay là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nên cho vay những doanh nghiệp này có một số thuận lợi
sau:
- Thời hạn tín dụng: Nhu cầu vay vốn của các DNNQD thường ở mức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status