nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 35
Tìm hiểu về bản chất của
tình thế cấp thiết
ths. Hoàng Văn Hùng *
1. Tình thế cấp thiết trong pháp luật
hình sự là một trong các tình tiết loại trừ
tính chất nguy hiểm cho x hội của hành
vi gây thiệt hại bên cạnh các tình tiết
khác nh phòng vệ chính đáng, bắt giữ
ngời phạm pháp, thi hành mệnh lệnh cấp
trên, thực hiện chức năng nghề nghiệp,
rủi ro trong sản xuất
Tại Điều 14 Bộ luật hình sự, tình thế
cấp thiết đợc quy định nh sau:
"1. Tình thế cấp thiết là tình thế của
ngời vì muốn tránh một nguy cơ đang
thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nớc, của
tập thể, lợi ích chính đáng của mình hoặc
của ngời khác mà không còn cách nào
khác là phải có hành động gây một thiệt
hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Gây
thiệt hại trong tình thế cấp thiết không
phải là tội phạm.
2. Nếu gây thiệt hại rõ ràng là quá
đáng, tức là vợt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết thì ngời có hành vi đó phải
pháp của mình hoặc của ngời khác mà
không còn cách nào khác là phải có hành
động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại
cần ngăn chặn.
2. Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu
tài sản không đợc cản trở ngời khác
dùng tài sản của mình hoặc cản trở ngời
khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để
ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc
thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
3. Gây thiệt hại trong tình thế cấp
thiết không phải là hành vi xâm phạm
quyền sở hữu. Chủ sở hữu đợc bồi
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
36 - Tạp chí luật học
thờng thiệt hại theo quy định tại khoản 3
Điều 618 của Bộ luật này".
Nh vậy, quy định về tình thế cấp
thiết trong Bộ luật dân sự không chỉ xác
định việc gây thiệt hại không phải là hành
vi xâm phạm quyền sở hữu mà còn xác
định nghĩa vụ của chủ sở hữu trong
trờng hợp này là không đợc cản trở
ngời khác dùng tài sản của mình hoặc
cản trở ngời khác gây thiệt hại đối với
định đây là trờng hợp phạm tội đặc biệt
và ngời phạm tội phải bị truy cứu trách
nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, ngời phạm
tội còn phải bồi thờng cho ngời bị thiệt
hại.
3. Nguyên tắc cơ bản đợc lí luận
công nhận và thực tế đ chứng minh trong
tình thế cấp thiết là ngời hoạt động gây
thiệt hại trong tình thế cấp thiết đ hi sinh
lợi ích nhỏ để bảo vệ lợi ích lớn hơn.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế
cấp thiết có 2 tính chất cơ bản là không
trái pháp luật và không có lỗi.
Để xem xét việc gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết có trái pháp luật không,
chúng ta dựa vào các quy định của luật
hình sự và dân sự để xác định. Theo các
quy định này thì tình thế cấp thiết là
những việc làm mà Nhà nớc khuyến
khích mọi công dân thực hiện. Nó không
những phù hợp với lợi ích của x hội, đáp
ứng các đòi hỏi của x hội đối với mỗi
công dân mà còn phù hợp với đạo đức x
hội.
Để xem xét hành vi gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết có lỗi hay không, phải
dựa vào lí luận về lỗi trong luật hình sự.
Một ngời bị coi là có lỗi khi thực hiện
một hành vi, nếu hành vi đó là kết quả
của sự lựa chọn và quyết định của chủ thể
sinh lợi ích nhỏ để bảo vệ lợi ích lớn. Nó
cũng không phù hợp với đạo đức x hội.
Chỉ trong trờng hợp đặc biệt mới đợc
phép gây thiệt hại đến tính mạng con
ngời.
Thiệt hại đến sức khỏe và tài sản của
công dân là thiệt hại dễ hình dung và đ
đợc thực tế chứng minh. Loại thiệt hại
sau cùng ở đây là những hạn chế đối với
các quyền tự do cơ bản của công dân. Ta
có thể thấy trờng hợp này trong các gia
đình chăm sóc ngời thân thích là ngơi
bị bệnh tâm thần. ở đây, vì lợi ích của
chính ngời đó mà những ngời khác
phải hạn chế các quyền tự do của họ bằng
các hình thức khác nhau nh nhốt, giữ
trong nhà, theo dõi, giám sát chặt chẽ khi
ra ngoài đờng
5. Dấu hiệu cơ bản của mặt chủ quan
của ngời gây thiệt hại trong tình thế cấp
thiết là phải có mục đích bảo vệ lợi ích
của Nhà nớc, của tập thể, lợi ích chính
đáng của mình hoặc của ngời khác trớc
nguy cơ bị đe dọa gây thiệt hại.
Nếu thiếu dấu hiệu về mục đích này
thì sự gây thiệt hại sẽ không còn nằm
trong phạm vi của tình thế cấp thiết nữa.
Nó sẽ là tội phạm có thể ở giai đoạn hoàn
thành hoặc phạm tội cha đạt. Là tội
phạm hoàn thành khi thiệt hại này phù
coi là tình thế cấp thiết không. Ví dụ:
Muốn tránh nguy cơ hỏa hoạn cho kho tài
sản lớn của Nhà nớc, ngời gây thiệt hại
đ chủ động phá tài sản của ngời hàng
xóm không thân thiện với mình để tạo lối
vào cho xe cứu hỏa đang tới. Chúng tôi
cho rằng mặc dù có mục đích phá tài sản
của ngời hàng xóm thì hành vi trên vẫn
đợc coi là tình thế cấp thiết.
6. Nguyên tắc trong tình thế cấp thiết
là hi sinh lợi ích nhỏ để bảo vệ lợi ích lớn.
Nếu ngợc lại thì quy định của tình thế
cấp thiết với tính chất là hớng dẫn cách nghiên cứu - trao đổi
38 - Tạp chí luật học
xử sự của con ngời sẽ vô nghĩa.
ở đây, cần chú ý mối tơng quan giữa
lợi ích hi sinh và lợi ích cần bảo vệ.
Không phải mọi trờng hợp, lợi ích cá
nhân đều đợc đánh giá thấp hơn lợi ích
của Nhà nớc và của tập thể, ví dụ: Có
thể hi sinh tài sản của Nhà nớc để bảo vệ
tính mạng con ngời. Cũng không phải
mọi trờng hợp gây thiệt hại nhỏ hơn để
bảo vệ lợi ích lớn hơn đều là tình thế cấp
thiết vì nó còn phải phù hợp với đạo đức
x hội, ví dụ: Khi ngời bệnh nặng cần
do gây thiệt hại cho ngời khác hoặc cho
lợi ích của Nhà nớc, của tập thể thì theo
chúng tôi đó không còn là tình thế cấp
thiết. Bởi vì, ngời gây thiệt hại trong
trờng hợp này không xuất phát từ mục
đích bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, của tập
thể và lợi ích chính đáng của bản thân
mình hay của ngời khác. Trờng hợp
này thiếu dấu hiệu chủ quan về mục đích
của tình thế cấp thiết.
Trên cơ sở các vấn đề đ nêu, sơ bộ có
thể rút ra một số kết luận sau:
- Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
là việc làm không trái pháp luật và không
có lỗi;
- Thiệt hại trong tình thế cấp thiết là
thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản
và trong trờng hợp đặc biệt là quyền tự
do của công dân;
- Mục đích bảo vệ lợi ích của Nhà
nớc, của tập thể hoặc lợi ích chính đáng
của công dân là dấu hiệu bắt buộc của
tình thế cấp thiết. Nó có thể kết hợp với
mục đích khác;
- Lợi ích cần hi sinh trong tình thế cấp
thiết không những phải nhỏ hơn lợi ích
đợc bảo vệ mà còn phải phù hợp với đạo
đức x hội;
- Một ngời cố ý tạo nên nguy cơ rồi
từ đó gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà