thông tin
Tạp chí luật học - 57
Vài nét về thi hành án dân sự
ở Singapore
ths. Nguyễn Công Bình *
ingapore là nớc có diện tích không
lớn, số dân không nhiều, nền kinh tế
phát triển với nhịp độ tăng trởng
khá cao. Tổ chức và hoạt động của hệ
thống cơ quan t pháp Singapore cũng có
những đặc điểm riêng, trong đó công tác
thi hành án dân sự có những nét rất đáng
quan tâm. Bài viết này trình bày mấy nét
về vấn đề nói trên.
Việc tổ chức thi hành án dân sự ở
Singapore do tòa án đảm nhiệm. Hệ
thống tổ chức tòa án ở Singapore gồm có
tòa án tối cao và tòa án cấp dới. ở tòa án
tối cao và tòa án cấp dới đều có bộ phận
thi hành án. Các nhân viện thi hành án
trong bộ phận thi hành án vừa có nhiệm
vụ tổ chức việc thi hành án vừa có nhiệm
vụ tống đạt giấy triệu tập và các quyết
định khác của tòa án, thực hiện các lệnh
bắt giữ. Nhân viên thi hành án của tòa án
nào thì thi hành bản án của tòa án đó.
Nhân viên thi hành án của tòa án cấp dới
khỏi chỗ ở của họ;
- Chuyển trẻ em cho ngời nuôi;
- Không bị kiện về những hành vi tiến
hành theo yêu cầu của tòa án
Nhân viên thi hành án phải thi hành
án đúng pháp luật, công khai, không đợc
tham nhũng; phải thực hiện bất kì công
việc gì để thi hành án theo yêu cầu của
tòa án. Trờng hợp cán bộ thi hành án có
hành vi tiêu cực sẽ bị xử lí theo pháp luật,
bị chuyển làm việc khác.
Khi có bản án, ngời đợc thi hành án
đến gặp ngời phải thi hành án để xem
xét khả năng thi hành án của họ và yêu
cầu họ thi hành. Nếu ngời phải thi hành
án không thi hành, ngời đợc thi hành
án muốn đợc thi hành phải có đơn yêu
cầu thi hành án (theo mẫu in sẵn) gửi tòa
S
SS
S
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội thông tin
58 - Tạp chí luật học
hành án kiểm kê và dán niêm phong vào
tài sản của ngời phải thi hành án, lập
biên bản ghi đặc điểm, số lợng, chất
lợng tài sản và sao gửi cho ngời đợc
thi hành án, ngời phải thi hành án mỗi
ngời một bản; thông báo cho ngời phải
thi hành án tài sản của họ đ bị kê biên và
họ có trách nhiệm giữ, không đợc
chuyển dịch. Nhân viên thi hành án cũng
có thể chuyển tài sản đ kê biên đi nơi
khác, giao cho ngời khác giữ. Khi kết
biên tài sản để thi hành án, nhân viên thi
hành án không phải thông báo trớc cho
ngời phải thi hành án việc kê biên và
nếu thông báo trớc ngời phải thi hành
án sẽ tẩu tán tài sản. Khi nhân viên thi
hành án kê biên tài sản của ngời phải thi
hành án không cần ngời làm chứng
chứng kiến nhng phải có mặt ngời đợc
thi hành án hoặc ngời đại diện của họ.
Nhân viên thi hành án có quyền kê biên
bất cứ tài sản nào. Trờng hợp ngời phải
thi hành án thấy việc bị kê biên hết tài
sản làm cho họ khó khăn trong sinh sống
thì họ có quyền làm đơn đề nghị tòa án
xem xét. Theo đề nghị của ngời phải thi
hành án, căn cứ vào mức sinh hoạt chung,
tòa án sẽ xem xét, quyết định những tài
sản cần thiết để lại cho ngời phải thi
hành án và không kê biên những tài sản
thể tự bán. Nếu tài sản bán đấu giá có giá
trị trên 2000 S$ thì nhân viên thi hành án
không đợc tự bán mà phải chuyển cho
công ti bán đấu giá (công ti t nhân) để
bán đấu giá và việc bán đấu giá phải đợc
thông báo công khai trên báo. Thời gian
bán đấu giá thờng đợc tiến hành trong
thời hạn 14 ngày kể từ ngày kê biên tài
sản. Khi bán đấu giá, nhân viên thi hành
án đợc phép giữ lại 1% tiền bán đấu giá
tài sản nhng ít nhất không dới 50 S$ và
nhiều nhất không quá 20.000 S$.
Đối với việc thi hành án về trả tiền mà
ngời phải thi hành án có tài khoản ở
ngân hàng thì nhân viên thi hành án yêu
cầu ngân hàng phong tỏa tài khoản ở
ngân hàng và khấu trừ tiền của ngời phải
thi hành án trong tài khoản của họ chuyển
cho ngời đợc thi hành án.
Trong trờng hợp ngời phải thi hành
án là cá nhân thực sự không có tài sản,
thu nhập để thi hành án thì họ có thể yêu
cầu tòa án quyết định tuyên bố phá sản.
Nếu đợc tòa án tuyên bố phá sản thì hoạt
động thi hành án đối với họ chấm dứt.Đối
với việc thi hành các bản án trả nhà, nhân
viên thi hành án ấn định ngày ngời phải
thi hành án phải trả lại nhà cho ngời
đợc thi hành án và nói rõ nếu không sẽ
xung đột pháp luật về thủ tục tố tụng thì
bản án cũng không đợc công nhận./.
Những nguyên tăc của
(tiếp theo trang 56)
nghiệp có một danh hiệu thơng mại
riêng. Trong trờng hợp này, chủ doanh
nghiệp phải sử dụng nhiều danh hiệu
thơng mại khác nhau cho các doanh
nghiệp khác nhau. Còn nếu chỉ có một
doanh nghiệp thì chỉ đợc sử dụng một
danh hiệu thơng mại. Cũng có quan
điểm cho rằng thể nhân có quyền sử dụng
nhiều danh hiệu thơng mại cho một
doanh nghiệp. Đặc biệt là trờng hợp
thơng gia này mua doanh nghiệp của
ngời khác cùng với danh hiệu thơng
mại và sáp nhập doanh nghiệp đó vào với
doanh nghiệp của mình.
Đối với công ti thơng mại, các nhà
khoa học hoàn toàn thống nhất quan điểm
với nhau là công ti thơng mại chỉ đợc
phép có một danh hiệu thơng mại mà
thôi./.