LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Định hướng phát triển nội
dung lý luận về quản lý nhà nước ở
nước ta.”
Lêi më ®Çu
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các
nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như
một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và
các mặt khác của đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm
1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với
việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải
cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều
A.những vấn nh đề lý luận cảI cách hành chính
quốc gia
1.cơ quan hành chính nhà nớc:
Hệ thống cơ quan nhà nớc đợc thành lập từ trung ơng đến địa phơng
để thực hiện chức năng quản lý nhà nớc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội và để triển khai thi hành hiến pháp,pháp luật trong phạm vi các đơn vị
hành chính lãnh thổ.các ccơ quan trong bộ máy hành chính có mối quan hệ
mật thiết với nhau và cùng phối hợp với nhau để thực hiện một cách có hiệu
quả chức năng quản lý nhà nơc.
Cơ quan hành chính nhà nớc là loại chủ thể chủ yếu của hoạnh động
quản lý nhà nơc và của các quan hệ pháp luật hành chính
2.thủ tục hành chính:
Là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nớc
đợc quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm:trình tự,nội
dung,mục đích ,cách thức tiến hành các hoạt động cụ thế trong quá trình giải
quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nớc
H thng cỏc quy nh th tc hnh chớnh
Hin nay, vn ci cỏch th tc hnh chớnh c xỏc nh l mt
nhim v trng tõm, then cht song rt phc tp. T gúc thc tin, vn
ny mc dự c ng, nh nc v c bit l Chớnh ph rt quan tõm ch
o, ch o quyt lit song hiu qu thu li cha cao vỡ nhng nguyờn nhõn
sau õy:
Th nht Vit Nam l mt trong rt ớt nhng quc gia ban hnh vn bn
ó khụng tỏch riờng bit cỏc quy nh mang tớnh ni dung vi nhng quy nh
v th tc. a s, nhng quy nh v th tc u nm ri rỏc, xen ln vi cỏc
quy nh ni dung. Nguyờn nhõn ny, dn n "hu qu" l ngay chớnh cỏn
b, cụng chc qun lý v lnh vc, ngnh mỡnh ph trỏch cng khú lũng m
bit c khi gii quyt cụng vic ca mỡnh cn bao nhiờu h s, th tc,
năm qua, song trước những yêu cầu thực tiễn đang đặt ra thì lý luận về quản
lý nhà nước vẫn còn nhiều bất cập.Có thể nêu lên hai tồn tại cơ bản trong lý
luận về quản lý nhà nước ở nước ta như sau :
- lý luận quản lý nhà nước chưa thực sự phát triển và chưa khẳng định
được tính độc lập của một ngành khoa học riêng biệt. Lý luận về quản lý nhà
nước ở nước ta ra đời muộn lại chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung
quan liêu trong một thời gian dài. Một số quan niệm cũ, vốn đối lập hoàn toàn
chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, thậm chí ngay cả trong những thành
tựu về khoa học quản lý mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được. Vì vậy, lý luận
quản lý chưa tạo nên một hệ thống tri thức phản ánh thực tiễn thông qua các
phạm trù và quy luật đặc thù của mình, mà ít nhiều còn sao chép lại tri thức
của các khoa học khác như khoa học chính trị, khoa học quản lý, kinh tế học,
luật học
-hệ thống lý luận quản lý nhà nước vẫn còn không ít sự giáo điều, thiếu
tính ứng dụng, tác dụng và hiệu quả thực tế thấp. Về nguyên tắc, lý luận phải
được đúc kết từ hoạt động thực tiễn, phản ánh thực tiễn và thúc đẩy thực tiễn
phát triển. Song, do trình độ tư duy còn hạn chế nên hệ thống lý luận đưa ra
nhiều khi còn chưa khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu khả năng phân
tích sâu sắc về thực tiễn để từ đó rút ra những vấn đề bản chất, quy luật.
Chính vì vậy, lý luận về quản lý hành chính nhà nước chưa thực sự đóng vai
trò mở đường và thúc đẩy thực tiễn cải cách hành chính ở nước ta phát triển.
-Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, số lượng văn bản ban hành ngày càng
nhiều, nhưng về chất lượng, thật sự chưa thể hài lòng, cụ thể là còn thiếu tính
nhất quán, tính dự báo, không ít quy định thiếu tính khả thi.
-Nhiều thể chế chậm được ban hành, chậm được sửa đổi, hoàn thiện,cho
đến nay Nhà nước ta vẫn chưa có cách nào khắc phục được tính cục bộ ngành,
lĩnh vực trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà vẫn
thực hiện theo cách: Luật (hoặc văn bản quy phạm pháp luật) về lĩnh vực nào
giao cho bộ, ngành đó chủ trì soạn thảo. Ðây chính là chỗ để cho cơ quan nhà
nước giành thuận lợi về cho mình, đẩy khó khăn cho người dân, mặc dù
-Vấn đề bất cập hiện nay ở nước ta đó là chính quyền cơ sở cấp xã "vừa
nhỏ" lại vừa yếu. Sự nhỏ bé của chính quyền cơ sở cấp xã phản ánh ở các
nghĩa về thẩm quyền và tổ chức bộ máy. Với quy mô tổ chức bộ máy chỉ
ngang bằng với một phòng chuyên môn của cấp huyện, trong đó đã chiếm gần
một nửa là lãnh đạo thì khả năng giải quyết công việc, hiệu quả quản lý của
chính quyền cơ sở cấp xã chắc chắn không thể đáp ứng yêu cầu đề ra.
Có thể nói, trong thời đại ngày nay, cải cách hành chính cũng là một vấn
đề toàn cầu mang tính đa dạng, đa chiều, nhưng lại không có một lời giải
chung nào cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, để thúc đẩy công cuộc
cải cách hành chính, chúng ta phải tự xây dựng một hệ thống lý luận phù hợp
với hoàn cảnh nước ta, có tính hiệu lực và tính khả thi cao. Một hệ thống lý
luận đúng đắn phải là sự kết tinh từ thực tiễn và là ánh sáng soi đường cho
thực tiễn cải cách hành chính ở nước ta. Để phát triển công tác lý luận trong
lĩnh vực này, điều quan trọng là phải tạo điều kiện thuận lợi để người làm
công tác lý luận gắn với thực tiễn, thâm nhập thực tiễn cải cách hành chính ở
từng lĩnh vực, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, cũng phải
tạo ra một cơ chế thích hợp để những người hoạt động thực tiễn trong bộ máy
hành chính nhà nước quan tâm đến những thành tựu của hoạt động lý luận,
đóng góp vào sự phát triển lý luận và thử nghiệm lý luận đó trong cuộc sống.
Bằng cách đó chúng ta sẽ rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, tạo
điều kiện cho cải cách hành chính ở nước ta có sự chuyển biến mạnh hơn
trong thời gian tới, từ đó góp phần quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng
nước ta phát triển theo mục tiêu mà Đảng ta
B. PHáP LUậT Về CảI CáCH HàNH CHíNH QuốC GIA
1. Ngị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 hội nhgị lần thứ 5 ban chấp
hành trung ơng khoá 10 về đây mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực
quản lý của bộ máy nhà nớc.
,nâng cao hiệu lực ,hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nớc.
C.nội dung ch ủ yếu của pháp luật về cảI cách
hành chính
1
- Xõy dng v hon thin cỏc th ch, trc ht l th ch kinh t ca nn
kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha, th ch v t chc v hot
ng ca h thng hnh chớnh nh nc. - i mi quy trỡnh xõy dng v ban hnh vn bn quy phm phỏp lut - Bo m vic t chc thc thi phỏp lut nghiờm minh ca c quan nh nc,
ca cỏn b, cụng chc. - Tip tc ci cỏch th tc hnh chớnh
2.
Ci cỏch t chc b mỏy hnh chớnh
- iu chnh chc nng, nhim v ca Chớnh ph, cỏc b, c quan ngang b,
c quan thuc Chớnh ph v chớnh quyn a phng cỏc cp cho phự hp vi
yờu cu qun lý nh nc trong tỡnh hỡnh mi. - Tng bc iu chnh nhng cụng vic m Chớnh ph, cỏc b, c quan
ngang b, c quan thuc Chớnh ph v chớnh quyn a phng m nhn
khc phc nhng chng chộo, trựng lp v chc nng, nhim v. Chuyn cho
cỏc t chc xó hi, t chc phi Chớnh ph hoc doanh nghip lm nhng cụng
việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp
2. Phân định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền
theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý
ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trên cơ sở bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương về thể
chế, về chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành và toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, cần phân cấp đúng mức và rành mạch trách
nhiệm và thẩm quyền hành chính, nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy
chính quyền địa phương phát huy tính chủ động, khai thác mọi tiềm
năng tại chỗ để phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và đóng góp ngày
càng nhiều cho sự phát triển chung của đất nước. Theo tinh thần đó, cần
tăng trách nhiệm và thẩm quyền của chính quyền địa phương trong việc
quyết định những vấn đề của địa phương, đặc biệt là về quy hoạch phát
triển và kế hoạch đầu tư cho khu vực công cộng, về thu chi ngân sách,
về tổ chức và nhân sự hành chính địa phương, về xử lý các vụ việc hành
chính.
Việc phân định trách nhiệm và thẩm quyền của các cấp chính quyền
phải phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng ngành và lĩnh vực hoạt
động, với chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chính quyền trên từng địa
bàn; phù hợp với điều kiện và khả năng của các địa phương có quy mô,
vị trí khác nhau. Giữa các cấp chính quyền địa phương cũng cần cụ thể
hoá việc phân cấp theo hướng việc nào do cấp nào giải quyết sát với
thực tế hơn thì giao nhiệm vụ và thẩm quyền cho cấp đó.
Quan hệ phân cấp phải gắn liền với việc tăng cường sự phối hợp
quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, được quy định thành thể chế; đặc
biệt cần tăng cường trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát của cấp uỷ đảng và
chính quyền địa phương đối với các cơ quan và tổ chức hoạt động trên
địa bàn, kể cả các đơn vị được quản lý theo ngành dọc.
Các bộ và cơ quan của Chính phủ phải thực hiện chức năng quản lý
hành chính nhà nước về ngành, lĩnh vực của minh trong phạm vi cả
nước, đồng thời thực hiện trách nhiệm đại diện chủ sở hữu nhà nước
tín nhiệm trong nhân dân.
- Thực hiện các hình thức, biện pháp bảo đảm phát huy quyền làm
chủ của nhân dân ở cơ sở, đồng thời quy định một số trách nhiệm nhất
định giao cho nhóm đại diện hội đồng nhân dân xã theo từng thôn (làng,
ấp, bản) như tổ chức việc xây dựng, thực hiện hương ước, giám sát
trưởng thôn (bản, ấp).
- Quy định hợp lý số lượng cán bộ chính quyền cơ sở phân biệt theo
đặc điểm và dân số của từng loaị đơn vị cơ sở; chú trọng công tác đào
tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ phù hợp với chức trách của họ.
Chính phủ quy định nguyên tắc chung, còn mức phụ cấp cụ thể cho mỗi
chức danh cán bộ xã, phường, thị trấn do hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quyết định cho sát với điều kiện thực tế của từng địa phương. Có chế độ
thích hợp để chuyên nghiệp hoá một số cán bộ đảm bảo những công việc
cần được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.
- Trưởng thông, (bản, ấp) do nhân dân trong thôn, bản, ấp bầu và
chủ tịch uỷ ban nhân dân xã phê chuẩn.
b. Về hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân
- Kiện toàn và củng cố hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp
để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ và thẩm quyền đã được phân cấp;
đồng thời, đề cao trách nhiệm tham gia cùng chính quyền cấp trên thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tổ chức theo ngành dọc trên địa
bàn lãnh thổ.
- Xây dựng hội đồng nhân dân các cấp có thực quyền thực hiện đầy
đủ vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở từng cấp.
- Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của hội đồng
nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở đô thị với hoạt động của hội
đồng nhân dân và nhiệm vụ quản lý hành chính ở nông thôn, có thể tiến
hành thí điểm ở một vài địa phương để thấy hết các vấn đề cần giải
quyết; từ đó có cơ sở thực tế giúp cho việc quyết định chủ trương khi
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật. Thường xuyên giáo dục
pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân.
- Cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân để
làm đúng chức năng quy định. Đổi mới tiêu chuẩn đại biểu, chế độ bầu cử và
quy chế hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân.
- Sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi
trọng bàn bạc tập thể, đồng thời đề có trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của
người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu bộ trong quản lý và điều hành.
- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại
tổ chức của mỗi cấp; đề cao quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương,
đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương. Xây dựng
chính quyền cấp xã, phường vững mạnh.
- Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đổi mới hệ
thống tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân.
Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp
luật làm tốt nhiệm vụ.
- Kiên quyết sắp xếp lại tổ chức và tinh giản biên chế các cơ quan hành
chính, sự nghiệp ngay từ năm 1991, làm cho bộ máy gọn nhẹ và hoạt động có
hiệu quả. Sớm ban hành quy chế viên chức nhà nước. Xây dựng đội ngũ viên
chức nhà nước có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo
nghiệp vụ.
- Tiếp tục tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống tệ
tham nhũng. Phương hướng cơ bản để khắc phục tệ tham nhũng là phải xây
dựng và hoàn chỉnh bộ máy, cơ chế quản lý và pháp luật; xử lý nghiêm minh
những người vi phạm, đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng, quản lý chặt
chẽ nội bộ”.
Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối
cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
- Về hoạt động lập pháp: Ban hành các đạo luật cần thiết để điều
- Tăng cường kiểm kê, kiểm soát sản xuất và phân phối; quản lý, sử
dụng có hiệu quả vốn và tài sản công với tư cách đại diện chủ sở hữu
nhà nước, khắc phục tình trạng vô chủ, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với tăng cường
an ninh, quốc phòng và mở rộng hoạt động đối ngoại, để các lĩnh vực
này tác động hỗ trợ nhau cùng phát triển.
2. Phân định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền
theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý
ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trên cơ sở bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương về thể
chế, về chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành và toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, cần phân cấp đúng mức và rành mạch trách
nhiệm và thẩm quyền hành chính, nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy chính
quyền địa phương phát huy tính chủ động, khai thác mọi tiềm năng tại
chỗ để phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và đóng góp ngày càng
nhiều cho sự phát triển chung của đất nước. Theo tinh thần đó, cần tăng
trách nhiệm và thẩm quyền của chính quyền địa phương trong việc quyết
định những vấn đề của địa phương, đặc biệt là về quy hoạch phát triển
và kế hoạch đầu tư cho khu vực công cộng, về thu chi ngân sách, về tổ
chức và nhân sự hành chính địa phương, về xử lý các vụ việc hành
chính.
Việc phân định trách nhiệm và thẩm quyền của các cấp chính quyền
phải phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng ngành và lĩnh vực hoạt
động, với chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chính quyền trên từng địa
bàn; phù hợp với điều kiện và khả năng của các địa phương có quy mô,
vị trí khác nhau. Giữa các cấp chính quyền địa phương cũng cần cụ thể
hoá việc phân cấp theo hướng việc nào do cấp nào giải quyết sát với
thực tế hơn thì giao nhiệm vụ và thẩm quyền cho cấp đó.
Quan hệ phân cấp phải gắn liền với việc tăng cường sự phối hợp
quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, được quy định thành thể chế; đặc
việc xem xét, quyết định các nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, an ninh trật tự,
đời sống nhân dân, về ngân sách và giám sát việc điều hành của uỷ ban
nhân dân. Kiện toàn hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn với thành
phần bao gồm những cán bộ chủ chốt của đảng bộ, mặt trận và các đoàn
thể, đồng thời thu hút những người ngoài đảng có đủ tiêu chuẩn, có nhiệt
tình, có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong lao động sản xuất, có
tín nhiệm trong nhân dân.
Thực hiện các hình thức, biện pháp bảo đảm phát huy quyền làm
chủ của nhân dân ở cơ sở, đồng thời quy định một số trách nhiệm nhất
định giao cho nhóm đại diện hội đồng nhân dân xã theo từng thôn (làng,
ấp, bản) như tổ chức việc xây dựng, thực hiện hương ước, giám sát
trưởng thôn (bản, ấp).
- Quy định hợp lý số lượng cán bộ chính quyền cơ sở phân biệt theo
đặc điểm và dân số của từng loaị đơn vị cơ sở; chú trọng công tác đào
tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ phù hợp với chức trách của họ.
Chính phủ quy định nguyên tắc chung, còn mức phụ cấp cụ thể cho mỗi
chức danh cán bộ xã, phường, thị trấn do hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quyết định cho sát với điều kiện thực tế của từng địa phương. Có chế độ
thích hợp để chuyên nghiệp hoá một số cán bộ đảm bảo những công việc
cần được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.
- Trưởng thông, (bản, ấp) do nhân dân trong thôn, bản, ấp bầu và
chủ tịch uỷ ban nhân dân xã phê chuẩn.
b. Về hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân
- Kiện toàn và củng cố hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp
để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ và thẩm quyền đã được phân cấp;
đồng thời, đề cao trách nhiệm tham gia cùng chính quyền cấp trên thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tổ chức theo ngành dọc trên địa
bàn lãnh thổ.
- Xây dựng hội đồng nhân dân các cấp có thực quyền thực hiện đầy
đủ vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
dụng ô tô, trang bị nơi làm việc, nhà và đất ở… với tinh thần tiết kiệm,
công bằng, chống lãng phí, chống đặc quyền, đặc lợi”.
d.®Þnh h−íng chñ yÕu ®Ó th−c hiÖn ch−¬ng tr×nh
c¶I c¸ch
i - CHỦ TRƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành
chính
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính,
bảo đảm cải cách hành chính thành công. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác cải cách hành chính thể hiện chủ yếu ở các nội dung sau:
- Quyết định các mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp lớn về cải
cách hành chính; lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo đảm sự nhận
thức sâu sắc và thống nhất hành động trong các tổ chức đảng, trong cán bộ,
đảng viên về nhiệm vụ cải cách hành chính; lãnh đạo việc xây dựng các thể
chế, pháp luật, cơ chế, chính sách, phù hợp với thực tế và chủ trương, nghị
quyết của Đảng.
- Quyết định giới thiệu cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực
để cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét, bổ nhiệm giữ các chức vụ
trong bộ máy nhà nước, thông qua đó bảo đảm việc thực hiện cải cách hành
chính theo đúng các chủ trương, quan điểm của Đảng.
- Tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, uốn nắn kịp thời việc
thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cải cách hành
chính. Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo cơ quan chính quyền xây dựng chương
trình, kế hoạch cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính
phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và thông qua kết quả cải cách hành chính mà
xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ, đảng viên.
2. Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính với cải cách lập pháp, cải
cách tư pháp
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện quy
động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp
trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao và
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong
các cơ quan tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án đối với các khiếu
kiện hành chính; bảo đảm thực hiện nguyên tắc toà án, thẩm phán xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật, tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào
hoạt động của các cơ quan tư pháp. Đổi mới quy trình, thủ tục giải quyết công
việc của các toà án; hoàn thiện quy chế tăng cường quan hệ phối hợp giữa các
cơ quan toà án với các cơ quan hành chính, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, cơ
quan thi hành án. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách và tổ chức cán
bộ của toà án các cấp.
Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ quan
tư pháp các cấp để đủ sức phát hiện, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các
loại tội phạm và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong xã hội, nhất là ở cấp
sơ thẩm, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tạo điều kiện để phát triển nhanh các tổ chức bổ trợ tư pháp, phục vụ
trực tiếp cho hoạt động của các cơ quan tư pháp, đồng thời là chỗ dựa cho
nhân dân và doanh nghiệp tiếp cận hệ thống tư pháp, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp theo quy định của pháp luật.
3. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế
-Tập trung chỉ đạo chặt chẽ và đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện hệ
thống thể chế, pháp luật, đặc biệt là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và các thể chế vể nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.