Báo cáo " Mấy nét về luật dân sự và luật thương mại Việt Nam dưới chế độ cũ " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
56 Tạp chí luật học số 3/2003

iệt Nam là đất nớc có cả nghìn năm văn
hiến. Lẽ đơng nhiên, cùng với sự ra đời
của các triều đại phong kiến, pháp luật cũng
đợc hình thành. Trong các triều đại phong
kiến Việt Nam đ có các bộ luật: Bộ hình th
(triều Lý), Bộ Quốc triều thống chế (triều
Trần), Bộ Quốc triều hình luật (triều Lê), Bộ
Hoàng Việt luật lệ (triều Nguyễn). Cho đến
ngày nay, hai bộ luật thời Lí, Trần không còn
đợc lu lại mà "theo Phan Huy Chú (Lịch
triều hiến chơng loại chí, Văn tích chí), quan
quân nhà Minh đ tịch thu bộ sách này, với
dụng ý phá hoại nền văn hóa xứ ta".
(1)
Chỉ có
bộ Quốc triều hình luật và bộ Hoàng Việt luật
lệ là còn lu lại mà thôi.
Bộ Quốc triều hình luật đợc các nhà
nghiên cứu đánh giá rất cao, bởi lẽ, Bộ luật này
không những có nội dung phong phú, mà còn
mang đậm bản sắc dân tộc. Bộ Quốc triều hình
luật có 722 điều, chia 6 quyển, mỗi quyển có 2
chơng. Riêng quyển thứ 3 có 3 chơng, trong

định ngời ta có thể viện dẫn Bộ luật Gia Long,
thậm chí cả Quốc triều hình luật.
V

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội
TS. Nguyễn Viết Tý

*
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003 57

Tóm lại, Bộ Quốc triều hình luật và Bộ
Hoàng Việt luật lệ, ngoài những quy định về
luật hình sự, còn chứa đựng một số chế định
của luật dân sự và một số ngành luật khác và
"hai bộ luật cổ này có thể đựơc coi nh nguồn
gốc của dân luật Việt Nam".
(3)
Trong thời kì Pháp thuộc, nớc Việt Nam
đợc chia làm ba miền (Bắc bộ, Trung bộ, Nam
bộ) với những chế độ chính trị khác nhau: Bắc
bộ, Trung bộ là đất bảo hộ, Nam bộ là thuộc
địa Pháp. Vì vậy, mỗi miền có pháp luật riêng
của mình và luật dân sự cũng không nằm ngoài
tình trạng đó, trong phạm vi lnh thổ Việt Nam
có ba bộ luật dân sự đợc ban hành, dành riêng

Nẵng. Sắc lệnh này gồm 431 điều chia làm 3
phần quy định về vật quyền; về sự thủ đắc và
di chuyển các bất động sản, sự thuê mợn và
sai áp bất động sản; về địa tô.
ở Bắc Bộ và Trung Bộ, các bộ luật cổ
(Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ)
vẫn là những văn bản chủ yếu điều chỉnh các
quan hệ dân sự cho đến khi mỗi miền có bộ
luật riêng của mình. Cụ thể, cho đến khi ở Bắc
bộ có Bộ dân luật Bắc kì (1931) và ở Trung Bộ
có Bộ Hoàng Việt Trung kì hộ luật (1936,
1938).
Bộ dân luật Bắc kì quy định về các vấn đề
gia đình, hôn sản, thừa kế và các vấn đề về tài
sản, nghĩa vụ, khế ớc Nhìn chung, Bộ dân
luật Bắc kì có những quy định đầy đủ hơn và
tuy vẫn chịu sự ảnh hởng của luật dân sự Pháp
nhng bản sắc dân tộc đợc thể hiện rõ nét hơn
Bộ dân luật giản yếu.
Bộ Hoàng Việt Trung kì hộ luật hay còn
gọi là Bộ dân luật Trung gồm có 1709 điều,
chia làm 5 quyển và những quyển này đợc 3
Đạo dụ kế tiếp ban hành vào những ngày
13/7/1936, 8/01/1938 và 28/9/1938. Về nội
dung, Bộ Hoàng Việt Trung kì Hộ luật cơ bản
giống Bộ dân luật Bắc kì, chỉ có một số sửa đổi nghiên cứu - trao đổi
58 Tạp chí luật học số 3/2003

những bộ luật duy nhất cho toàn quốc "nếu
những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc
lập của nớc Việt Nam và chính thể nhân dân
cộng hòa".
Sau năm 1954, đất nớc Việt Nam lại bị
phân chia ra hai miền với hai chế độ chính trị,
hai chính thể quốc gia khác nhau. Vì vậy, pháp
luật (trong đó có pháp luật dân sự) ở hai miền
cũng khác nhau. ở miền Bắc, đến năm 1959
các bộ luật dân sự đợc ban hành trong thời kì
trớc đó mới bị hủy bỏ và Nhà nớc Việt Nam
dân chủ cộng hoà đ ban hành hệ thống pháp
luật dân sự mới. ở miền Nam, ba bộ dân luật
trong thời kì Pháp thuộc cùng với Bộ luật gia
đình năm 1959 do chính quyền Sài Gòn ban
hành (đợc thay thế bằng Sắc luật 15/64 ngày
23/7/1964) có vai trò quan trọng trong việc
điều chỉnh các quan hệ dân sự. Các văn bản
trên chỉ hết hiệu lực thi hành khi chính quyền
Sài Gòn ban hành Bộ dân luật vào ngày
20/12/1972. Bộ dân luật này quy định khá cụ
thể, chi tiết các nội dung của luật dân sự.
Nội dung của luật dân sự trong thời kì này
rất rộng, nó bao hàm cả những quy định về
các lĩnh vực hôn nhân gia đình, đất đai v.v
Nh đ phân tích ở trên, các quy định của
luật dân sự có từ thời phong kiến, còn pháp luật
thơng mại hầu nh không đợc biết đến trong
pháp luật Việt Nam thời phong kiến. Điều đó
có thể lí giải nh sau:

rằng sự tích lũy vốn liếng không có bao nhiêu,
rằng trình độ sinh hoạt vật chất của nhân dân
rất thấp".
(5)

Phải đến thời Pháp thuộc ở nớc ta mới có
những quy định, chế định của luật thơng mại.
Cụ thể: Năm 1864 ngời Pháp đem Bộ luật
thơng mại của mình áp dụng vào Nam bộ và
Bộ luật đó cũng đợc áp dụng vào Bắc Bộ năm
1888. Bộ luật thơng mại Pháp quy định về các
vấn đề nh thơng gia và quyền hạn nghĩa vụ
của thơng gia; về các hội buôn; về thơng
phiếu; về luật hàng hải; về phá sản (khánh tận)
và về tòa án thơng mại.
Năm 1892, Pháp ban hành sắc lệnh quy
định việc hành nghề thơng mại của ngời á
Đông ngoại quốc và ngời Việt Nam sinh
tại các nhợng địa Pháp (Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng) thuộc phạm vi điều chỉnh
của pháp luật Pháp.
Theo tinh thần các văn bản kể trên, hoạt
động thơng mại của các thơng nhân trên lnh
thổ Việt Nam đợc điều chỉnh bằng pháp luật
của Pháp, trong trờng hợp những ngời này có
vi phạm thì đợc xét xử ở các tòa án Pháp và
theo pháp luật của Pháp.
Ngoài những văn bản đó, về sau còn có
những văn bản khác quy định về từng vấn đề cụ
thể nh: Đạo luật về bán và cầm cố cửa hàng

11/10/1968 về danh sách các ngành nghề tiểu
công nghệ v.v Quan trọng hơn hết trong pháp
luật thơng mại Việt Nam dới chế độ cũ phải
kể đến Bộ luật thơng mại ban hành ngày
20/12/1972. Bộ luật này gồm có 5 quyển với
1051 điều quy định về các nhà buôn, nhiệm vụ
của các nhà buôn, các hng thơng mại (quyển
thứ nhất, từ điều 1 đến điều 142)); những
thơng hội (quyển thứ 2, từ điều 143 đến điều
339); những hành vi thơng mại (quyển thứ 3,
từ điều 340 đến 548 điều ); thơng mại hàng
hải (quyển thứ 4, từ điều 549 đến điều 863) và
về khánh tận, phá sản và thanh toán t pháp
(quyển thứ 5, từ điều 864 đến điều 1051).
Với sự ra đời của Bộ luật thơng mại, luật
thơng mại Việt Nam thời bấy giờ đ có bớc
phát triển đáng kể với nội dung khá phong phú,
đề cập nhiều vấn đề của đời sống thơng mại ở
miền Nam Việt Nam. Luật thơng mại Việt
Nam cộng hòa có những vấn đề cơ bản nh:
Định nghĩa và lịch sử của luật thơng mại;
những hành vi thơng mại; thơng gia và sự
hành nghề thơng mại; những nhiệm vụ nghề
nghiệp của nhà buôn; cửa hàng thơng mại;
khế ớc thơng mại; thơng phiếu và hối
phiếu; những hội buôn, khánh tận, phá sản và
t pháp thanh toán tài sản. Ngoài ra, trong
luật thơng mại còn đề cập vấn đề tòa án
thơng mại.
Tóm lại, các quy định, chế định của luật

Nam dẫn giải, Quyển 1, Kim Lai ấn quán, Sài Gòn,
tr.20.
(2), (3), (4), Xem: TS.Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật,
Quyển 1, Viện đại học Cần Thơ xuất bản, TP Cần Thơ
(1967), tr. 87, 91, 93, 56.
(5).Xem: Trần Văn Giàu, Giai cấp công nhân Việt
Nam, Nxb. Sự thật Hà Nội (1958), tr. 25.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status