LỜI MỞ ĐẦU
Tháng 7/2000 đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng của nền kinh tế Việt
Nam đó là việc trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh chính
thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, mở ra một thời kì phát triển mạnh mẽ cho
cả nền kinh tế, thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Kể từ đó đến nay thị trường chứng
khoán Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc ngoài sức tưởng tượng, từ
một thị trường sơ khai với vài mã cổ phiếu đến nay thị trường đã có trên 200 mã cổ
phiếu được giao dịch chính thức với tổng giá trị giao dịch hàng nghìn tỷ đồng.
Người dân Việt Nam cũng đã trở nên quen thuộc với các khái niệm đầu tư chứng
khoán, cổ phiếu, cổ phần…Và thị trường chứng khoán cũng không còn cái cảnh cứ
mua cổ phiếu là lãi như thời gian đầu mới hoạt động. Cùng với việc thị trường
chứng khoán dần đi vào quy luật thì nhà đầu tư cũng phải dần chuyên nghiệp hơn.
Sự xâm chiếm tất yếu của các tổ chức tài chính vào mảnh đất màu mỡ - thị trường
chứng khoán đang diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt là ngân
hàng – trung gian tài chính khổng lồ của nền kinh tế. Bên cạnh việc thành lập ra các
công ty chứng khoán thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn về chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, ngân hàng còn triển khai một nghiệp vụ quan trong
không kém đó là cho vay cầm cố chứng khoán, đây là một nghiệp vụ cho vay bình
thường có tính thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng trên thế
giới đã triển khai nghiệp vụ này từ rất lâu song đối với các ngân hàng Việt Nam thì
đây là một hoạt động hoàn toàn mới. Nhu cầu vay vốn đầu tư của các nhà đầu tư
Việt Nam là rất lớn do khả năng tài chính hạn hẹp vì vậy đây là một thị trường béo
bở cho các ngân hàng thu lợi.
Tuy vậy do có ít kinh nghiệm về nghiệp vụ này nên những rủi ro cho ngân
hàng là không thể tránh khỏi, đặc biệt là mức độ rủi ro của thị trường chứng khoán
1
Việt Nam là rất cao, tính quy luật còn thấp, đầu tư mang tính bày đàn, những ngân
hàng nào coi thường các biện pháp quản trị rủi ro sẽ phải chịu hậu quả, có thể dẫn
đến hậu quả to lớn cho ngân hàng như: phá sản và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh
tế. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ cho
vay cầm cố như vậy, trong quá trình thực tập tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội em
dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử... Ngoài ra, ngân hàng cũng là địa chỉ
tin cậy để mọi người gửi tiền hay nhận được lời tư vấn về lĩnh vực đầu tư cho
khoản tiết kiệm.
Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất
trên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài
trợ cho các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, các công trình giao
thông.
Để tránh sự nhầm lẫn giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, cách tiếp
cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại
hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Theo cách này thì ngân hàng là loại hình tổ chức
tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
3
Theo cách tiếp cận này thì hoạt động cơ bản của ngân hàng bao gồm 3 hoạt
động chính: cho vay, nhận tiền gửi và cung cấp các dịch vụ khác.
* Cho vay:
Khi mới ra đời, ngân hàng thực thiện chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho
vay với các doanh nhân địa phương (họ bán các khoản phải thu cho ngân hàng để
lấy tiền mặt). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay
trực tiếp với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng hóa dự trữ, mua sắm
thiết bị nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Nhận tiền gửi:
Cho vay được cho là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng tìm kiếm mọi
cách để huy động được nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn quan trọng là
các khoản tiền gửi của khách hàng (bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh
toán). Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng với cam kết hoàn trả đúng hạn phần
gốc cộng thêm một phần tiền lãi theo lãi suất trong hợp đồng coi như phí sử dụng
khoản tiền gửi của ngân hàng.
* Cung cấp các dịch vụ khác: Ngoài nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng còn cung
một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc
phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của chính phủ.
+ Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất
lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín
trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của
mình mua hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn tổ chức tín
dụng khác…
5
+ Dịch vụ thuê mua thiết bị: Ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền
lựa chọn mua các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong
đó khách hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Cuối hợp đồng khách hàng có
thể mua lại tài sản. Hợp đồng thuê mua thường phải bảo đảm yêu cầu khách hàng
phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê.
+ Dịch vụ ủy thác và tư vấn: các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia trong
lĩnh vực quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân
hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển
sang cả ủy thác vây hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư… Nhiều khách hàng tìm
đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn về quản lý tài chính, thành lập, mua bán hay
sáp nhập doanh nghiệp.
+ Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: ngân hàng bán các dịch vụ môi giới
chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các
chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong
một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty
môi giới chứng khoán.
+ Dịch vụ bảo hiểm: các ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro
mất khả năng thanh toán.
+ Các dịch vụ đại lý: các ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết
lập các chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng lớn cung cấp
dịch vụ đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng
phóng mặt bằng...
7
+ Cho vay sản xuất: bao gồm các khoản cho vay đối với các hãng sản xuất
kinh doanh và hộ gia đình nhằm tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
+ Cho vay tiêu dùng: giúp tài trợ cho nhu cầu mua sắm của cá nhân hay hộ
gia đình như mua ô tô, nhà ở, trang thiết bị... hoặc trang trải cho các chi phí khác
như viện phí, học tập...
+ Các khoản cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp loại ở
trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
* Căn cứ vào khách hàng vay vốn
+ Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản cho vay dành
cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính
khác.
+ Cho vay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
+ Cho vay cá nhân, hộ gia đình: bao gồm những khoản cho vay sản xuất
hoặc tiêu dùng.
* Căn cứ theo phương thức cho vay
+ Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng
đối với các khách hàng không có nhu cầu vốn thường xuyên. Một số khách hàng sử
dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ,
hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng. Vốn ngân hàng chỉ tham gia vào
một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng
vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu
cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử
8
dùng vốn, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn,
các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Lý do là
khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả
nợ cho ngân hàng. Nhưng biến cố không mong đợi như vậy có thể gây cho ngân
hàng những tổn thất lớn. Vì vậy, đối với những khách hàng không có uy tín cao đối
với ngân hàng thì khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Bảo đảm này là nguồn trả
nợ thứ hai khi khách hàng gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán cho ngân hàng.
* Căn cứ theo hình thức cho vay
+ Cho vay trực tiếp: ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người đi vay, đồng thời
người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng. Đây là hình thức cho vay phổ
biến của các ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: đây là hình thức ngân hàng cho vay qua các tổ chức
trung gian.
Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như Hội Cựu chiến binh, Hội
Phụ nữ, Hội Nông dân… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo lại
với nhau nhằm mục đích phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Ngân hàng có thể
chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu
nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho các thành
viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tài sản thế
chấp.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bản lẻ sản phẩm đầu vào
của quá trình sản xuất. Việc cho vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục
đích.
10
Cho vay gián tiếp thường áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ,
người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp này, cho vay gián tiếp có
thể tiết kiệm được chi phí cho ngân hàng (phân tích, giám sát, thu nợ…).
1.2. Những vấn đề cơ bản về cho vay cầm cố cổ phiếu
1.2.1. Khái niệm cho vay cầm cố cổ phiếu
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển một cách mạnh mẽ và
ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể trong
có thể chính là các cổ phiếu, song không phải cổ phiếu nào cũng được là tài sản
đảm bảo, chỉ những cổ phiếu có chất lượng tốt rủi ro ít mới được ngân hàng chấp
nhận. Cổ phiếu như thế nào là tốt là ít rủi ro điều này phụ thuộc vào trình độ đánh
giá của từng ngân hàng, ngoài ra còn phụ thuộc và chiến lược cho vay của ngân
hàng đó. Tuy nhiên không thể phủ định rằng cho vay chứng chứng khoán là một
hình thức đầy tiềm năng và mang lại những khoản lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Trong tương lai cùng với việc phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán đây
chắc chắn sẽ trở thành một hoạt động tín dụng chính của ngân hàng thương mại.
Vấn đề đầu tiên phải làm rõ đó là khái niệm cho vay cầm cố chứng khoán.
Cho vay cầm cố cổ phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng trong đó người
vay sẽ được nhận một khoản vay từ ngân hàng để đầu tư kinh doanh chứng khoán
với điều kiện phải có tài sản đảm bảo là các loại cổ phiếu đã được niêm yết hoặc
chưa được niêm yết chính thức trên sàn giao dịch. Người vay phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản đảm bảo là cổ phiếu sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết
12
và mức tín dụng mà khách hàng được cấp phụ thuộc vào đánh giá của ngân hàng về
tài sản sản đảm bảo và mức độ rủi ro của khoản vay.
Trong khái niệm này có hai đối tượng: Ngân hàng (đối tượng cho vay),
khách hàng (đối tượng đi vay). Khách hàng là các cá nhân muốn vay tiền với mục
đích dùng vốn vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán. Ở Việt Nam hiện nay các
ngân hàng chủ yếu cho vay cầm cố các loại cổ phiếu đã được niêm yết trên sàn, vì
cổ phiếu dạng này có độ rủi ro thấp hơn và dễ kiểm soát hơn
Cũng giống với các hình thức tín dụng khác, khách hàng muốn được vay vốn
của ngân hàng thì điều đầu tiên là khách hàng phải có tài sản đảm bảo, tài sản đảm
bảo có thể là cổ phiếu, các giấy tờ có giá, hoặc các loại chứng khoán khác… ngân
hàng sẽ thẩm định trước khi cho khách hàng vay, và sẽ giữ tài sản đảm bảo của
khách hàng cho đến khi khách hàng hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng.
Nếu như đến hạn mà khách hàng không hoàn trả nợ theo hợp đồng tín dụng thì
ngân hàng có quyền bán hoặc sở hữu những tài sản đó thay thế cho nghĩa vụ trả nợ
của người vay.
khác nhau nhưng ở Việt Nam hiện nay thời hạn vay thường không quá 12 tháng,
điều này để hạn chế rủi ro cho các khoản vay.
* Lãi xuất cho vay
Lãi suất cho vay của nghiệp vụ cho vay cầm cố cổ phiếu bao giờ cũng cao
hơn so với các nghiệp vụ cho vay thông thường khác vì mức độ rủi ro của hoạt
14
động này thường cao hơn. Lãi xuất cho vay cầm cố cổ phiếu được xác định dựa vào
lãi xuất cơ bản cộng với mức lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro. Nhưng vì rủi ro
nên phần bù rủi ro thường cao hơn vì lãi xuất cho vay cầm cố cổ phiếu thường lớn
hơn.
* Mức cho vay
Sau khi xem xét các điều kiện về đối tượng vay, tài sản đảm bảo, năng lực tài
chính, giá trị cổ phiếu mà khách hàng định đầu tư… ngân hàng sẽ đưa ra mức cho
vay đối với khách hàng. Mức cho vay dựa trên các yếu tố:
- Nhu cầu vay vốn của khách hàng
- Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo theo quy định của ngân
hàng nhà nước
- Thị giá của cổ phiếu mà khách hàng đầu tư và mức độ rủi ro của cổ phiếu đó
- Khả năng nguồn vốn của khách hàng
- Khả năng trả nợ của khách hàng
- Giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với một khách hàng. Trong thời
hạn vay mức cho vay có thể được xác định lại tuỳ theo giá cổ phiếu
* Giá xử lý
Là mức giá dùng làm căn cứ để xác định thời điểm xử lý tài sản đảm bảo.
Theo đó, khi mức giá cổ phiếu giảm xuống bằng hoặc dưới mức giá xử ký này thì
ngân hàng cho vay có quyền được xử lý tài sản đảm bảo theo những quy đinh ghi
trong hợp đồng tín dụng. mức giá này do ngân hàng đặt ra dựa trên những phân tích
về cổ phiếu và thị trường chứng khoán, nhằm phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi
giá cổ phiếu khách hàng đầu tư giảm xuống quá thấp.
15
trả cho dù họ có khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là yếu tố luôn tồn tại trong bất kì hoạt động tín dụng nào, do
ngân hàng không thể lường trước tất cả các rủi ro có thể xảy ra hoặc không thể đưa
ra biện pháp phòng ngừa triệt để, đặc biệt trong hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu
thì rủi ro không những luôn tồn tài mà còn rất lớn vì tài sản đảm bảo trong cho vay
cầm cố cổ phiếu là chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá) đây là những
tài sản có độ rủi ro cao, nhất là cổ phiếu do vậy nếu như không có nguyên tắc
phòng ngừa rủi ro phù hợp thì nguy cơ mất vốn của ngân hàng là rất lớn
Ta có thể lấy một ví dụ để thấy được mức độ rủi ro của hạt động này. Đó là:
có 100 triệu trong tay, nhà đầu tư mua một lượng cổ phiếu có giá trị 100 triệu đồng.
Đem lượng cổ phiếu này cầm cố tại ngân hàng, vay thêm được 60 triệu tiền mặt
(thông thường ngân hàng chỉ cho vay tối đa 60% giá trị cổ phiếu tại thời điểm giao
dịch, hoặc theo mệnh giá). 60 triệu này tiếp tục được đầu tư vào một lượng cổ
phiếu mới có giá trị tương ứng. Lượng cổ phiếu mới lại tiếp tục được cầm cố để
vay thêm khoảng 36 triệu đồng. Đến vòng cầm cố thứ 3, có thêm gần 22 triệu tiền
mặt để rót tiếp vào một loại cổ phiếu nào đó. Qua 3 vòng chỉ với 1 phần vốn ban
đầu, nhà đầu đã sở hữu được gần 220 triệu giá trị cổ phiếu, thay vì 100 triệu đồng
tiền mặt. Với 220 triệu giá trị cổ phiếu trong tay, giá cổ phiếu lên, nhà đầu tư thu
được lãi siêu lợi mà năng lực của 100 triệu đồng tiền mặt khó có thể làm được khi
rót nguyên vẹn vào các kênh đầu tư khác. Ngược lại, giá cổ phiếu rớt, ngoài mức
17
giá bị mất, nhà đầu tư phải đội thêm lãi vay ngân hàng; 100 triệu đồng ban đầu có
thể lỗ nặng, khả năng trả nợ bị đe dọa. Do vậy nhà đầu tư có thể phải chịu 3 lần rủi
ro nếu như cả 3 loại cổ phiếu cùng giảm giá và tất nhiên ngân hàng cũng phải gián
tiếp chịu rủi ro cho nhà đầu tư nếu như nhà đầu tư không đủ khả năng thanh toán.
1.3.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu
Cho vay cầm cố cổ phiếu cũng là một hoạt động tín dụng do đó rủi ro của nó
cũng mang những rủi ro chung của rủi ro tín dụng và cũng chứa đựng những rủi ro
riêng đặc trưng. Các rủi ro đó là:
* Nguyên nhân bất khả kháng:
Một nguyên nhân nữa là thuộc về trình độ năng lực cũng như đạo đức nghề
nghiệp của cán bộ tín dụng. Nếu như nhân viên tín dụng có trình độ thấp trong việc
đánh cũng như phòng ngừa rủi ro hoặc cố tình vi phạm những quy định của ngân
hàng trong việc phòng ngừa rủi ro thì cũng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu
Đây là các căn cứ thực tế để đánh giá mức độ rủi ro của một ngân hàng trong
việc thực hiện hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu, dựa trên các chỉ số cụ thể ta có
thể đưa ra được các biện pháp hạn chế cũng như kiểm soát rủi ro ở mức độ cho
phép. Các chỉ tiêu đó là:
19
* Tỷ lệ nợ quá hạn từ cho vay cầm cố cổ phiếu trên tổng dư nợ cho vay
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được toàn bộ hoặc một
phần khi đến hạn thoả thuận ghi trong hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn là số tuyệt
đối cho biết chính xác dư nợ quá hạn của nghiệp vụ cho vay cầm cố cổ phiếu của
ngân hàng là bao nhiêu. Tuy nhiên nếu chỉ dùng chỉ tiêu này thì chưa đánh giá
được hết về nợ quá hạn mà cần dùng thêm cả chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn từ cho vay
cầm cố cổ phiếu trên tổng dư nợ cho vay. Đây là chỉ số mang tính tương đối nhưng
nó rất qua trong vì nó phản ánh mức độ rủi ro của dư nợ quá hạn từ hoạt động cho
vay cầm cố cổ phiếu so với tổng dư nợ cho vay. Ta có công thức sau:
Tỷ lệ cho vay cầm cố cho vay cầm cố cổ phiếu quá hạn trong kì
cổ phiếu quá hạn trên = x 100%
tổng dư nợ trong kỳ tổn dư nợ cho vay trong kì
Ngoài ra ta có thể sử dụng một chỉ tiêu khác cụ thể hơn đó là tỷ lệ quá hạn từ
cho vay cầm cố cổ phiếu trên tổng dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán. Ta có công
thức thức sau:
tỷ lệ cho vay cầm cố cho vay cầm cố cổ phiếu
cổ phiếu quá hạn trên tổng quá hạn trong kỳ
dư nợ cho vay đầu tư = x 100%
chứng khoán trong kỳ dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán trong kỳ
Để chi tiết hơn nữa và đánh giá chính xác hơn nữa tình hình rủi ro của
cổ phiếu nhận cầm cố càng đa dạng thì mức độ rủi ro của toàn toàn danh mục càng
thấp vì rủi ro đối với cổ phiếu này có thể được bù đắp bởi lợi nhuận từ việc cho vay
cầm cố cổ phiếu khác. Các cổ phiếu trong danh mục càng ít rủi ro và tăng trưởng
cao thì mức độ rủi ro của danh mục cũng giảm.
* Một số tiêu chí khác
Đó là chỉ tiêu mang tính vĩ mô như: tỷ lệ làm phát trong quý hoặc trong năm,
mức độ tăng trưởng kinh tế, mức độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán, tình
hình kinh tế thế giới…Hoặc những chỉ tiêu trong một lĩnh vực cụ thể có cổ phiếu
nằm trong danh mục nhận cầm cố của ngân hàng như mức độ tăng trưởng của
ngành cũng như của doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp…Những chỉ tiêu này cần được đánh giá cụ thể trước khi lập danh mục cổ
phiếu của tổ chức tín dụng cho vay cầm cố cổ phiếu.
1.3.4 Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu
1.3.4.1. Sự cần thiết của hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu
cho vay cầm cố cổ phiếu cũng là một hoạt động tín dụng của ngân hàng có
độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng của nó đến từng ngân hàng cũng như toàn hệ
thống ngân hàng là rất lớn.. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thị trường chứng
khoán phát triển khá nóng nhu cầu vay vốn của các nhà đầu tư là rất lớn thì cho
vay cầm cố cổ phiếu càng trở thành một hoạt động được ưa chuộng và có tốc độ
tăng trưởng nhanh. điều này đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng cần phải có các
biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hợp lý sao cho vừa giảm thiểu được rủi ro và
vừa gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng vì đây là một hoạt động đem lại lợi nhuận
22
cao hơn hẳn so với các hoạt động tín dụng khác, tốc độ quay vòng vốn nhanh, thòi
gian cho vay lại ngắn. đây là các ưu điểm vượt trội của hình thức tín dụng này.
23
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG CHO VAY CẦM CỐ CỔ PHIẾU
TẠI NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG No&PTNT HÀ NỘI
2.1. Khái quát về ngân hàng No&PTNT Hà Nội
kể, tỷ lệ hộ khá và giàu tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống đáng kể.
Tháng 9 năm 1991, 7 Ngân hàng huyện thị: Mê Linh, Hoài Đức, Đan
Phượng, Thạch Thất, Ba Vì, Phúc Thọ, thị xã Sơn Tây được bàn giao về Vĩnh Phú
và Hà Tây.
Tiếp theo đó thực hiện mô hình hai cấp từ tháng 10/1995 NHNo&PTNT Hà
Nội đã bàn giao 5 Ngân hàng Sóc Sơn, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm
về NHNo&PTNT Việt Nam. NHNo&PTNT Hà Nội lại đứng trước một thử thách
mới đó là mang tên Ngân hàng nông nghiệp nhưng lại phục vụ các thành phần kinh
tế không mang dánh dấp của sản xuất nông nghiệp giữa nội đô Thành phố Hà Nội.
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, NHNo&PTNT Hà Nội đã
chủ động mở rộng màng lưới để huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng
của các thành phần kinh tế trên địa bàn nội thành.
Năm 1994 thành lập Ngân hàng Khu vực Chợ Hôm (nay là Hai Bà Trưng).
Năm 1995 thành lập Ngân hàng Khu vực Đồng Xuân (nay là Hoàn Kiếm).
25