Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) Chi Nhánh Cầu Giấy - Pdf 11

Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU :
Trong những năm trở lại đây, cho vay tiêu dùng đã và đang là những dịch vụ
tài chính phổ biến nhất của NHTM. Những hình thức tín dụng này giúp cho ngân
hàng đa dạng hóa cơ sở khách hàng, tạo ra một nguồn tiền gửi từ người tiêu dùng và
những nguồn thu để bổ sung, bù đắp rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Thực tế là
trong những năm gân đây, nhiều ngân hàng đã tăng cường sử dụng hình thức cho vay
tiêu dùng để hạn chế hoặc loại bỏ anh hưởng của chu kỳ kinh doanh và tránh sự canh
tranh gay gắt từ các tổ chức ngân hàng nước ngoài.
Thực tế đã cho thấy tín dụng tiêu dùng tiêu dùng đã đóng một vai trò chủ đạo
trong dịch vụ ngân hàng cũng như trong quản lý ngân hàng, Cùng với quá trình toàn
câu hóa ngày càng tăng dần với mức độ hội nhập và mở cửa nền kinh tế theo một
trình tự nhất định đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải thay đổi quy mô và loại hình
dịch vụ nhất là đối với dịch vụ cho vay tiêu dùng
Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
(Maritime Bank) Chi Nhánh Cầu Giấy em nhận thấy cho vay tiêu dùng vẫn tạo ra
một thách thức lớn với chi nhánh chính vì lý do đó em nghiêm túc chọn Đề Tài : “
Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải
Việt Nam (Maritime Bank) Chi Nhánh Cầu Giấy” làm đề tài nghiên cứu, nội dung
đề tài gồm có 3 chương
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI (MARITIME BANK) CHI NHÁNH CẦU GIẤY
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẤY MẠNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHANH MARITIME CẦU GIẤY
Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan mà chuyên đề không thể
tránh được những thiếu sót và sai sót nhất định kính mong cô giáo Th. Phạm Hông
Vân xem và giúp đỡ em để em có thể hoàn thành tốt chuyên để của mình!
Em xin chân thành cảm ơn !
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
1

lệch lãi suất giữ vốn huy động và vốn cho vay, đồng thời cũng góp phần phát triển xã
hội như mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩn xã hội, cải thiện đời sống cho nhân
dân… Hoạt động sử dụng vốn của NHTM có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế
thông qua hoạt cho các nghành, các lĩnh vực trong nền kinh tế như công nghiệp, nông
nghiệp xây dưng…
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
2
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
1.2.3. Các dịch vụ trung gian:
Ngoài hoạt động huy động vốn và hoạt động sự dụng vốn thì NHTM cũng
thực hiện dịch vụ trung gian cho khách hàng. Các hoạt động này Ngân hàng không
đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian nhằm thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cần. Ngày nay, các dịch vụ của Ngân
hàng thương mại không ngừng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng, các
dịch vụ ngày càng đa dạng. Hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác
nhau: như dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng
thương mại, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một
Ngân hàng thương mại hay ở hai Ngân hàng thương mại khác nhau; dịch vụ tư vấn
cho khách hàng các vấn đề tài chính, dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch
vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu, dịch vụ khấu trừ tự động. Đây là
những khoản chi thường xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ
tốn nhiều thời gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương
tiện thanh toán không dùng tiền mặt…
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ NHTM theo đó cũng phát triển theo
để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện nghiệp vụ trung
gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho NHTM những khoản thu nhập khá quan trọng.
Điều cần lưu ý là dịch vụ NHTM sẽ giúp Ngân hàng thương mại phát triển toàn
diện.Tại các nước phát triển, các Ngân hàng cạnh tranh với nhau bằng con đường
“phi giá”, tức là luôn luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng,
không ngừng tìm tòi những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Dịch vụ

phát triển theo.
1.5.2. Hoạt động cho vay cũng góp phần điều hoà cung- cầu dịch vụ hàng hoá:
Một doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất kinh doanh
thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của Ngân hàng. Nhưng doanh nghiệp chỉ thu
được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ, khi doanh nghiệp tiêu thụ được hết số
sản phẩm hàng hoá sản xuất ra, đồng nghĩa phải có một bộ phận những người tiêu
dùng có khả năng mua sản phẩm đó. Về phía người tiêu dùng, có một mức thu nhập
nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn. Mà họ chỉ có đủ
khả năng mua sau một thời gian tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần
hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Khi đó doanh nghiệp sẽ
không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất. Do đó NHTM cho vay là giải
pháp có lợi cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. NHTM cho doanh nghiệp vay sẽ thúc
đẩy sản xuất kinh doanh, sẽ có nhiều hàng hoá. NHTM cho người tiêu dùng vay sẽ
thoả mãn nhu cầu về hàng hoá. vậy hoạt động cho vay của Ngân hàng đã góp một
phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế.
1.5.3. Hoạt động cho vay góp phần điều tiết, phân phối các nguồn vốn:
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
4
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong một nền kinh tế vận động liên
tục, biểu hiện qua các hình thức khác nhau và qua mỗi giai đoạn của quá trình sản
xuất đã tạo thành chu kì tuần hoàn, luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của
một vòng tuần hoàn này thể hiện dưới dạng tiền tệ. Trong quá trình sản xuât kinh
doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp luôn đồng
thời tồn tại ở ba giai đoạn đólà : dự trữ- sản xuất- lưu thông và Từ đó xảy ra hiện
tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại thời điểm nhất định có đơn vị kinh tế có vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi, có những đơn vị tạm thời thiếu vốn. Đó là hiện tượng mang tính
chất tạm thời nhưng lại xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kỳ nền kinh tế
nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết vấn đề điều hoà vốn.
NHTM với vai trò là trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều

nhiều hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng lại không có cầu thực sự. Hình
thức phổ biến nhất của loại hình này là hình thức cho vay trả góp, một loại hình đã
được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển. Ngân hàng có thể cho các cán bộ
công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà… ở các nước phương Tây và
Mỹ thì một người có thể mua ô tô để đi lại trở lên rất dễ dàng trong khi tài khoản của
anh ta lại không cần phải có 100% hay 50% giá trị của chiếc xe đó. Điều này đã giúp
cho việc tiêu thụ hàng hoá trở lên dễ dàng hơn, do vậy nó đã thúc đẩy sản xuất phát
triển hơn.
1.6.1.2. Cho vay để kinh doanh:
Mục đích của hình thức cho vay này là Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay
nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, mở rộng sản xuất hay đáp ứng một
nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà
Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ
dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này
theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay cho vay
theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho
vay ngành dịch vụ.
1.6.2. Dựa theo thời hạn cho vay:
Dựa theo thời hạn cho vay được chia làm hai loại cơ bản : cho vay ngắn hạn
và cho vay trung, dai hạn.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
6
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
1.6.2.1. Cho vay ngắn hạn:
Hình thức cho vay nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng
vốn ngắn hạn của nhà nước hay doanh nghiệp, hộ sản xuất. Cho vay ngắn hạn trong
những trường hợp sau:
Ngân hàng cho nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Hình thức phổ biến hiện nay là Ngân hang đi mua trái phiếu do kho bạc phát hành.
Khả năng hoàn trả của nhà nước rất cao (gân như không có rủi ro ), song cũng không

Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực
hiện dự án nhất định, có thể xin vay Ngân hàng. Một trong những yêu cầu cho vay
của Ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu
tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là
điều kiện để Ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoà trả
của doanh nghiệp
1.6.3. Dựa theo hình thức bảo đảm của các khoản vay:
Được chia làm hai loại cơ bản là cho vay có đảm bảo và cho vay không có
đảm bảo
1.6.3.1. Cho vay có đảm bảo :
Là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, Ngân
hàng còn nắm giữ tài sản của người đi vay với mục đích xử lý tài sản để thu hồi vốn
vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình cung ứng vốn của Ngân
hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối lượng tiền vào nền
kinh tế, làm tăng khối lượng hàng hoá trên thị trường. Ngoài ra khi cho vay Ngân
hàng không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình vì thế sẽ có rất nhiều rủi ro xảy ra,
nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất cao chính vì thế các Ngân hàng khi cho vay
thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay của họ.
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ nhất là doanh thu đối với vay vốn
lưu động, hoặc là khấu hao, lợi nhuận đối với những khoản vay trung và dài hạn. Cho
vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là thu nhập cá nhân cụ thể là tiền
lương, các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu nhập khác. Khi đánh giá các
hoạt động của khách hàng, nếu Ngân hàng nhận thấy là nguồn thu nhập thứ nhất
không có cơ sở chắc chắn thì Ngân hàng phải yêu cầu thiết lập thêm chính sách pháp
lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai, đó chính là tài sản đảm bảo cho khoản vay .
1.6.3.2. Các khoản cho vay không có đảm bảo :
Là những khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài sản của người vay
để xử lý nhằm thu hồi nợ nhưng thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp
đồng tín dụng. Những điều kiện này thường là: người đi vay không được giao dịch
với Ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được Ngân

Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro cũng như chi phí của Ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ khá nhiều khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi
dụng vị thế của mình và nếu Ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho
vay lại hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ
có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cho người đi vay vốn.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
9
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
2. Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM
2. 1. Quán trình hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay tiêu dùng đã có một lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện
từ thời phong kiến, ở nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có những
bước tiến đáng kể và mạnh mẽ trong khoảng thời gian lại đây. Vào những năm 80
của thế kỷ 20, hệ thống ngân hàng thương mại của Mỹ phải tiến hành cải cách trước
sự cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng đến việc thực hiện nghiệp vụ của các ngân hàng
thương mại. Thực tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ đã tạo nên những thay đổi to lớn trong
lĩnh vực công nghệ và luật pháp..., và chính sự thay đổi đó đã tạo đà cho sự thay đổi
về các dịch vụ mà NHTM cung ứng, đồng thời vai trò của ngân hàng thương mại
trong hệ thống tài chính cũng không còn duy trì được như trước, Đã dẫn đến sự thay
đổi cơ cấu trong các ngân hàng thương mại. Môi trường cạnh tranh thay đổi nhanh
chóng và mạnh mẽ khiến các NHTM nếu không tiến hành đổi mới thì không thể tham
gia cạnh tranh trong hệ thống tài chính được. Các ngân hàng thương mại không chỉ
phải cạnh tranh với chính các NHTM trong cùng hệ thống, mà còn phải đối đầu với
các tổ chức tài chính như: Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính, Công ty thuê mua...
đã ra đời và đang cùng tham gia chia sẻ thị trường với nó. Cuộc cạnh tranh giữa các
tổ chức tài chính diễn ra mạnh mẽ khi vào những năm 1970, các nhà môi giới đã tạo
dựng lên “thị trường tiền tệ bán lẻ”. Do đó, đến đầu những năm 1980, trước đòi hỏi
của các ngân hàng về một “lĩnh vực tham gia ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã
cho phép các NHTM cung ứng “tài khoản thị trường tiền tệ” và dịch vụ môi giới.
Cũng trong thời điểm này, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều

niệm mang tính đầy đủ về cho vay tiêu dùng tại NHTM là: “cho vay tiêu dùng là một
hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền
sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những
thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả...)
nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ
có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn.”
2.3. Đặc điểm, chức năng của cho vay tiêu dùng:
Quy mô của hợp đồng cho vay thường nhỏ, do đó chi phí tổ chức cho vay cao,
bởi vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay
trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.
Khi nền kinh tế tăng chưởng, đời sống của người dân nâng cao thì nhu cầu vay tiêu
dùng lại càng cao. Nhất là vào các dịp lễ tết, cầu mua sắm tăng thì các số lượng các
khoản vay cũng tăng lên.
Nhu cầu vay tiêu dùng phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhập và trình độ học
vấn. Những người có thu nhân ổn định và tương đối sẽ tìm tới cho vay tiêu dùng vì
họ có khả năng trả được nợ. Các khách hàng vay tiêu dùng thường là các cá nhân nên
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
11
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
việc chứng minh tài chính thường gặp nhiều khó. Nếu như các doanh nghiệp có bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi
tiêu thì các cá nhân vay tiêu dùng muốn chứng minh tài chính cùa mình họ thường
phải dựa vào tiền lương, sự suy đoán chứ không có bằng chứng rõ ràng. Cho vay tiêu
dùng có thường có độ rủi ro cao bởi nguồn trả nợ của người vay có thể biến động
lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, khả năng và sức khỏe của
người vay… Nếu người vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm ngân hàng sẽ rất khó có
thể thu lại được nợ. Do đó, các ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người
vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hóa đã
mua… Tư cách, phẩm chất của khách hàng vay thường rất khó xác định, chủ yếu dựa

(tháng, quý...). Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc với
những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ mà không đủ để thanh toán hết một
lần số nợ vay. Đối với loại cho vay này ngân hàng cần chú ý đến những vấn đề sau:
Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn khi tài sản
hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu lâu bền của họ trong tương lai. Với ngân
hàng, họ rất quan tâm đến việc lựa chọn tài sản để tài trợ và thường họ chỉ muốn tài
trợ cho những loại tài sản có thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn; với những loại tài
sản này, người vay có thể hưởng tiện ích của nó trong một khoảng thời gian dài.
Số tiền phải trả trước: Đối với hình thức này, ngân hàng yêu cầu người đi vay
phải có vốn tự có trên tổng phương án xin vay, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay,
thường chỉ cho vay từ 45% - 65% tổng giá trị tài sản tùy theo các yếu tố như: loại tài
sản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, thực lực tài chính, trình độ và nhân
thân, lai lịch của người vay. Quy định này của ngân hàng nhằm tránh trường hợp
khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản thế chấp, khi phải phát mại
tài sản không gây nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Điều khoản thanh toán.
+ Số tiền thanh toán mỗi kì hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập sau
khi đã trừ đi các khoản chi tiêu khác.
+ Giá trị tài sản không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thu hồi.
+ Thời hạn cho vay không nên quá dài nhằm tránh cho việc tài sản tài trợ bị
giảm giá trị theo thời gian đi kèm với rủi ro tín dụng tăng lên.
+ Số tiền mà khách hàng phải thanh toán mỗi kì hạn trả nợ có thể được tính
bằng các phương pháp như sau:
Phương pháp lãi đơn: theo đó, vốn gốc người đi vay phải trả từng kì hạn trả
nợ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kì hạn thanh toán
hoặc có thể được thực hiện theo quý hay theo năm tài chính.
Phương pháp lãi gộp: Là phương pháp thường được áp dụng trong cho vay
tiêu dùng trả góp. Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn
gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp với vốn gốc rồi chia cho số kì
hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kì hạn trả nợ.

thuật được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Sau đó Công ty
bán lẻ và người diêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thông thường
người tiêu dùng sẽ phải trả trước một phần giá trị tài sản. Công ty bán lẻ sẽ giao tài
sản cho người tiêu dùng và bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng. Ngân
hàng dựa trên bộ chứng từ đó sẽ thanh toán tiền cho vay công ty bán lẻ. Cuối cùng
người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng.
- Giảm được chi phí trong cho vay
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
14
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
- Mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác
- Vay vốn đúng mục đích
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu,
dẫn đến thông tin về khách hàng đôi khi là không chính xác, không tìm
hiểu kỹ được khách hàng do đó rủi ro cho ngân hàng sẽ tăng lên.
- Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hóa.
- Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
2.4.3.2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho
khách hàng vay cũng như trực tiếp thu hồi nợ từ người này.
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có những ưu
điểm sau:
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn
vì nó được quyết định bởi đội ngũ nhân viên tín dụng giàu kinh nghiệm
được đào tạo chuyên môn tốt của ngân hàng chứ không phải là những nhân
viên của công ty bán lẻ. Nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú

cao. Do vậy, các ngân hàng đã phải hướng mục tiêu của mình vào lĩnh vực này, và
cho vay tiêu dùng đã và đang trở thành một loại hình sản phẩm phổ biến trong các
NHTM, một loại sản phẩm mang lại thu nhập tương đối cao trong tổng doanh thu của
các ngân hang. Nói các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ, nhưng
với một số lượng các khoản này lại rất lớn (đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng bao
gồm tất cả các thành phần trong xã hội), vì thế tổng quy mô tài trợ là không nhỏ. Bên
cạnh đó, lãi suất các khoản tài trợ theo hình thức này là rất cao (bởi người nhận tài trợ
họ chỉ quan tâm đến thoả mãn nhu cầu trước mắt mà họ được hưởng, họ thường
không mấy quan tâm đến lãi suất phải trả) nên đã mang lại cho ngân hàng một tỷ suất
lợi nhuận tương đối lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Đặc biệt, với ngân hàng
có quy mô nhỏ, uy tín chưa cao..., khó có mà thể cạnh tranh được với các ngân hàng
có quy mô lớn, uy tín cao trong việc giành những khách hàng lớn (thường là các tổ
chức mà nhu cầu vay vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh), hoặc có
những khi nhờ những mối quan hệ tốt có thể giành được khách hàng, nhưng ngân
hàng lại khó có thể đáp ứng được quy mô khoản vay của họ thì thị trường cho vay
tiêu dùng là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng này.
2.5.2. Đối với người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng lại có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhập thấp
và trung bình. Thông qua nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, họ sẽ được hưởng các dịch
vụ, tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hoá thiết
yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay trong trường hợp cần chi tiêu cấp bách
như nhu cầu về y tế… Có thể nói bất cứ một người nào đều mong muốn được thoả
mãn những nhu cầu của riêng mình bắt đầu từ những hàng hoá tất yếu đến những
hàng hoá xa xỉ hơn. Nhưng thực tế là một người trẻ lại chưa có đủ khả năng chi trả
cho những nhu cầu đó của mình do đó họ cần thời gian tích luỹ tiền, người tiêu dùng
sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn ở hiện tại với khẳ năng thanh toán ở hiện tại và
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
16
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
tương lai. Có thể nói người tiêu dùng là người được hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất

=
Thu lãi từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Tổng thu lãi từ hoạt động cho vay
Cho biết hoạt động cho vay tiêu dùng đóng góp bao nhiêu vào tổng lãi từ hoạt
động cho vay. Tỷ trọng này còn giúp ngân hang việc định hướng phát triển hoạt động
cho vay tiêu dùng.
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
17
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Mức độ sử dụng vốn để cho vay =
Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay
Tổng huy động vốn
Để đảm bảo hoạt động cho vay tiêu dùng được thuận lợi ngân hàng phải tính
đến khả năng huy động vốn trên thị trường. Chỉ tiêu này giúp ngân hàng xác định
được khả năng cho vay nói chung và khả năng cho vay tiêu dùng nói riêng trong
tương lai của ngân hàng từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động này.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng.
Trong xu thế cạnh tranh hiện nay, chất lượng hoạt động luôn là một vấn đề
quan tâm của mọi ngân hàng. Nhưng nó là một khái niệm trừu tượng khiến chúng ta
không thể cân, đong, đo, đếm được mà phải đánh giá nó qua quan điểm chủ quan của
khách hàng, những tín hiệu mà Cán bộ tín dụng nhận biết được qua quá trình giao
dịch: sự tin cậy, cảm tình, thông cảm của khách hàng trong hoạt động này. Có thể
đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Độ an toàn, chính xác trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay tiêu dùng.
- Thủ tục giao dịch khi khách hàng đến vay nhằm mục đích tiêu dùng.
- Tốc độ xử lý các giao dịch là nhanh hay chậm: thủ tục thẩm định tài chính,
mục đích sử dụng vốn, thủ tục thẩm định tài sản đảm bảo.
Chất lượng cho vay tiêu dùng được chấm điểm qua bảng sau:
STT Chỉ tiêu Điểm số
I Hướng dẫn thủ tục cho khách hàng vay

- Quy mô vốn và khả năng phát triển của ngân hàng: đối tượng kinh doanh
của ngân hàng là tiền vì thế quy mô vốn và tình hình tài chính của một
ngân hàng đóng một vai trò quan trọng. Quy mô vốn càng lớn, thì các chỉ
tiêu tài chính trên các báo cáo càng lành mạnh thì càng tạo tâm lý tốt cho
khách hàng. Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm dịch vụ cho vay tiêu
dùng mới, ứng dụng công nghệ vào hoạt động cho vay tiêu dùng… luôn
gắn liền với đầu tư mua sắm thiết bị mới, phần mềm mới…Giá trị các
khoản đầu tư này thường khá lớn nên với các ngân hàng có quy mô nhỏ thì
khó có thể thực hiện được. Vậy, với quy mô vốn lớn ngân hàng không
những tạo cho mình thế chủ động trước mọi hoạt động mà còn tạo cho
mình khả năng đứng vững trước đối thủ cạnh tranh.
- Hệ thống thông tin, mạng lưới phân phối: hệ thống thông tin gồm hệ thống
báo cáo nội bộ, hệ thống thu thập thông tin bên ngoài, hệ thống phân tích
thông tin.
- Với hệ thống báo cáo nội bộ: ngân hàng sẽ tạo được khả năng tích luỹ và
tìm kiếm các thông tin cần thiết trong quá trình hoạt động của mình như:
chất lượng phục vụ khách hàng, chiến lược của ban giám đốc, mong muốn
của các cổ đông…
- Hệ thống thu thập thông tin bên ngoài: đòi hỏi tích luỹ các số liệu khác
nhau về tình hình tất cả các thị trường, đặc biệt là thị trường ngân hàng
đang hoạt động, về tất cả các lực lượng tham gia thị trường, đối thủ cạnh
tranh, về cơ chế điều hành quản lý của Nhà nước, về biểu lãi suất của ngân
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
19
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
hang nhà nước, chính sách hối đoái, về nhu cầu thị hiếu của người dân. Hệ
thống thông tin tốt sẽ là cơ sở để ngân hàng lựa chọn thị trường mục tiêu
trong hoạt động cho vay tiêu dùng.
- Bộ phận marketing ngân hàng: với các thông tin thu thập được, bộ phận
này sẽ tổng hợp, phân tích và đưa ra kết luận về vấn đề nghiên cứu, tìm

Nhất là, với hoạt động trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, ngoài việc luôn chú ý
tới những “đòn” tấn công của đối thủ cạnh tranh, ngân hàng còn phải quan tâm tới
những khách hàng có mức thu nhập cao ở tại khu vực mà mình hoạt động nhằm đưa
ra các dịch phù hợp và ưu việt hơn đối thủ cạnh tranh.
2.6.3. Sự phát triển kinh tế:
Các biến số kinh tế như: tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế, sự ổn định về
kinh tế, chính sách đầu tư, tiết kiệm của Chính phủ, thu nhập bình quân đầu người, tỷ
lệ xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất... có tác động mạnh mẽ đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Môi trường kinh tế có tác động lớn đến nhu
cầu và cách thức sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Vì vậy, nó chi phối đến
hoạt động của ngân hàng. Nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái, thu nhập giảm, tỉ lệ
thất nghiệp tăng, cá nhân có xu hướng giảm tiêu dùng, gia tăng tích lũy để phòng bị
khi mà có sự bất chắc về kinh tế xảy ra, nhu cầu vay tiêu dùng trong giai đoạn này
cũng hạn chế. Ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng nó sẽ thúc đẩy người dân tiêu
dùng hạn chế tiết kiệm vì họ kỳ vọng thu nhập tương lai có thể đáp ứng nhu cầu chi
tiêu cho hiện tại của họ, do đó gia tăng các hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân
hàng. Lãi suất sẽ quyết định mức cầu trong hoạt động cho vay. Các ngân hang
thương mại thường đưa ra mức lãi suất hấp dẫn để thu hút vay tiêu dùng. Tất nhiên
phải trên cơ sở mức lãi suất cơ bản của NHNN nhằm kiểm soát thị trường. Lạm phát
cao gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng vì khi đó khó kiểm soát mức giá cả và
lượng tiền. Doanh nghiệp và cá nhân sẽ dè dặt gửi tiền vào ngân hàng, lãi suất huy
động sẽ tăng. Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh do
bởi độ rủi ro trong thời điểm này là rất cao. Do đó, để khuyến khích việc vay tiền,
ngân hàng phải hạ lãi suất cho vay
2.6.4. Hệ thống pháp luật:
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ
của pháp luật, các quy định của NHNN. Trước hết, có thể kể đến các chính sách của
Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực cho vay tiêu dùng, đặc biệt là các
chính sách và các chương trình liên quan tới kinh tế. Ví dụ như khi Nhà nước tăng
mức đầu tư cho nền kinh tế cũng như tăng thu hút đầu tư nước ngoài bằng các chính

nước Việt Nam, hội sở chính tại 519 Kim Mã, Ba Ðình, Hà Nội. ngày 12/07/1991
Maritime Bank chính thức khai trương và đi vào hoạt động tại Thành phố Hải Phòng,
ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty
Tài chính có hiệu lực. Đó là thành quả có được từ sức mạnh tập thể và ý thức đổi mới
của các cổ đông sáng lập như : Cục Hàng Hải Việt Nam, Tổng Công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam…
Những ngày đầu Maritime Bank chỉ có 24 cổ đông với vốn điều lệ 40 tỷ đồng
và một số chi nhánh tại các tỉnh thành lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, TP
HCM giai đoạn năm 1997 - 2000 là giai đoạn thử thách, cam go nhất của Maritime
Bank. Do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, Ngân hàng
Maritime Bank đã gặp nhiều khó khăn. Nhưng bằng nội lực và bản lĩnh của mình,
Maritime Bank đã lấy lại được trạng thái cân bằng và phát triển mạnh mẽ từ năm
2005 đến nay từ 483 nhân viên năm 2005 lên 2.000 nhân viên năm 2009. Số lượng
các điểm giao dịch tăng mạnh từ 16 điểm giao dịch năm 2005 lên 120 điểm giao dịch
vào cuối năm 2009. Vốn điều lệ hiện tại ở mức 3.000 tỷ đồng và tổng tài sản đạt
65.000 tỷ đồng trong năm 2009. Hòa với sự lớn mạnh của đất nước Maritime Bank
phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP dẫn đầu thị trường về cung ứng các dịch vụ tài
chính chuyên nghiệp đa năng, trọn gói theo tiêu chuẩn quốc tế. Cam kết vì sự phát
triển bền vững, Maritime Bank phấn đấu trở thành Ngân hàng TMCP hàng đầu cả
nước về hiện đại hóa, năng động, chuyên nghiệp và lấy chữ Tín trong mọi hoạt động
kinh doanh với tôn chỉ “Tạo lập giá trị bền vững”. Chính vì lẽ đó chi nhánh cầu giấy
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
23
Khoa Ngân Hàng – Tài Chính
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) được thành lập căn cứ vào
Quyết Định số 1832/QĐ-NHNN ngày 06/08/2007 của thống đốc NHNN Việt Nam,
trụ sợ tại 253 đường Cầu Giấy, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nộị
Từ ngày đầu thàng lập chi nhánh đã được trang bị đội ngũ nhân viên trẻ, chất
lượng cao, gắt kết và tấm huyến đã tạo lên thế mạnh của chi nhánh nói riêng và của
ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) nói chung. Với tống số cán

thích hợp nhằm thu hút, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho
nhưng người có năng lực, có nhiệt thuyến tại chi nhánh
- Tăng cường hoạt động quản cáo, tuyên truyền rông rãi hình ảnh của chi
nhánh nói riêng của Maritime Bank nói chung
- Nâng cao vị thế thương hiệu Maritime Bank và từng bước tăng thu nhập
cho các cán bộ nhân viên trong chi nhánh.
Năm 2010 tới đây là năm nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi, ban
lãnh đạo chi nhánh đã nhận định rằng đây là một năm có nhiều cơ hội và thách thức,
vì thế chinh nhành không những phát triển sâu và rông hơn nữa, tiếp tục tổ chức củng
cố khắc phục và sử lý những tồn tại yếu kém trước đây, đồng thời phải tạo đà tăng
trưởng, mở rông quy mô hoạt động kinh doanh cả về vốn và chất lượng phục vụ, đảm
bảo sự bền vững của ngân hàng
1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức
1.2.1. Mô hình tổ chức:
1.2.2. Các hoạt động kinh doanh
1.2.2.1. Huy động vốn:
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các tổ
chức kinh tế và dân cư
Đặng Xuân Quang Lớp NH48A
25
Các phòng
giao dịch
Các quỹ tiết
kiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status