luận văn:Đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu tại Tổng công ty Bao bì Việt Nam - Pdf 11

Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: Đẩy mạnh hoạt động nhập
khẩu tại Tổng công ty Bao bì Việt
Nam.”
MỤC LỤC

Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty 27
2.1.2.1. Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty 27
2.1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 29
2.1.3. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty 36
2.1.3.1. Đặc điểm về nhân lực 36
2.1.3.2. Đặc điểm về vốn 37
2.1.3.3. Đặc điểm về sản phẩm 37
2.1.3.4. Đặc điểm về thị trường 38
2.1.4. Lĩnh vực kinh doanh, phạm vi hoạt động và mục tiêu của Tổng công
ty 39
2.1.4.1. Lĩnh vực kinh doanh của Công ty 39
2.1.4.2. Phạm vi kinh doanh và hoạt động của Công ty 40
2.1.4.3. Mục tiêu hoạt động của Công ty 40
2.2. Thực trạng hoạt động nhập khẩu của Tổng công ty trong thời gian qua
41
2.2.1. Về kim ngạch nhập khẩu 41
2.2.2. Về hình thức nhập khẩu của Tổng công ty 44
2.2.3. Về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 45
2.2.4. Về bạn hàng nhập khẩu 53
2.3. Đánh giá hoạt động nhập khẩu của Tổng công ty giai đoạn 2004 - 2007
56
2.3.1. Kết quả đạt được 56
2.3.2. Những mặt hạn chế 57
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 4
2.3.3. Những nguyên nhân của hạn chế 60
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan 60
2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan 62
CHƯƠNG 3 - TRIỂN VỌNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT
ĐỘNG NHẬP KHẨU ĐỂ ĐẨY MẠNH KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG

giới (WTO). Đây là một quá trình vận động quan trọng mở ra cho Việt Nam nhiều
cơ hội và buộc Việt Nam phải đối mặt với những áp lực điều chỉnh cơ cấu kinh tế
và cơ chế quản lý với những thách thức to lớn và tất yếu.
Cả nền kinh tế, các ngành sản xuất, các doanh nghiệp và các loại hàng hoá
và dịch vụ Việt Nam đều phải đương đầu với sức ép cạnh tranh cực kỳ gay gắt.
Lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt Nam, một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường xuyên
biến động và là động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát
triển theo hướng hội nhập hiện nay, đang chịu những tác động trực tiếp và hết sức
to lớn của quá trình này. Sự phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại thúc đẩy kinh tế
trong nước phát triển và sự phát triển các quan hệ kinh tế trong nước tạo đà cho sự
phát triển của lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Việc phát triển mạnh của lĩnh vực kinh tế
đối ngoại làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một mắt khâu quan trọng trong
chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu làm tăng giá trị nền
kinh tế. Động lực phát triển kinh tế toàn cầu, lúc đó, sẽ trở thành động lực tăng
trưởng trực tiếp của nền kinh tế.
Tình hình phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta trong thời gian qua đã
đặt được một số thành tựu hết sức to lớn, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập
khẩu. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt khoảng 48.38 tỷ
USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 60.83 tỷ USD, đạt mức kỷ lục từ trước tới nay.
Kim ngạch nhập khẩu ngày càng tăng thể hiện Việt Nam là thị trường tiêu thụ lớn
hàng hoá các nước, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng tăng cao, đặc biệt
là những mặt hàng có mẫu mã và chất lượng tốt. Cùng với xu thế đó thì tình hình
kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu của Tổng công ty Bao bì Việt Nam cũng ngày
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 6
càng được tăng cao và ngày càng phát triển mạnh hơn với những kết quả đáng
khích lệ. Tuy nhiên, triển vọng kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu của Công ty
vẫn còn rất lớn, vì vậy Công ty cần phải hoàn thiện hơn nữa hoạt động nhập khẩu
để đảy mạnh lĩnh vực kinh doanh của mình.
Xuất phát từ tinh thần và tính cấp thiết của những vấn đề nêu trên em đã

đẩy mạnh kinh doanh của Tổng công ty Bao bì Việt Nam Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 8
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU
VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐỂ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, hình thức và vai trò nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm
Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập và cạnh tranh quốc tê, vấn đề mở

khẩu độc lập của một doanh nghiệp. Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường trong
và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí, thiết lập phương án kinh doanh hợp
lý, đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp của quốc
gia cũng như quốc tế, doanh nghiệp tiến hành hoạt động nhập khẩu trực tiếp với
đối tác nước ngoài.
Đặc điểm của nhập khẩu trực tiếp: trong hoạt động nhập khẩu này, doanh
nghiệp nhập khẩu phải tự chịu trách nhiệm tất cả mọi rủi ro, cho nên cần phải có
sự xem xét kỹ lưỡng từ bước thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, rồi ký kết
hợp đồng… Vì nhập khẩu tự doanh nghĩa là doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để kinh
doanh, phải chịu mọi chi phí giao dịch, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí giao
nhận hàng hoà, chi phí lưu kho, chi phí tiêu thụ hàng hoá, thuế,… Do đó, doanh
nghiệp phải tính toán rất thận trọng ngay từ việc chọn mặt hàng, nghiên cứu thị
trường, marketing,…
Thông thường doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với
bên nước ngoài, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ lập sau hoặc
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 10
không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức như: bán lẻ, trao tay.

1.1.2.2. Nhập khẩu uỷ thác
Hoạt động nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một
doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số mặt hàng
nhập khẩu nhưng không được phép xuất nhập khẩu trực tiếp, đã uỷ thác cho doanh
nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng
hoá theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước
ngoài để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng hoa
hồng gọi là phí uỷ thác. Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận
uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác.
Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác: trong hoạt động này, doanh nghiệp xuất
nhập khẩu (doanh nghiệp nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn


1.1.2.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lưu. Nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán
trong hợp đồng này không phải dùng tiền mà chính bằng hàng hoá. Ở đây mục
đích chính của hoạt động nhập khẩu hàng hoá không phải chỉ thu lãi từ hoạt động
nhập khẩu mà còn nhằm để xuất được hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất.
Đặc điểm của nhập khẩu đổi hàng: hoạt động này có lợi vì cùng một hợp
đồng có thể tiến hành cả hoạt động xuất và hoạt động nhập, do đó có thể thu lãi từ
hai hoạt động. Hoạt động xuất phải tương đương về giá trị; bạn hàng bán cũng
chính là bạn hàng mua; doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim
ngạch nhập và xuất, doanh số tiêu thụ tính trên số hàng nhập và xuất. Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 12
1.1.2.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào trong nước nhưng
không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang nước thứ ba nào đó nhằm thu
lợi nhuận, tuy nhiên những hàng nhập khẩu này không được chế biến tại nước tái
xuất. Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu,
nước nhập khẩu và nước tái xuất.
Đặc điểm của nhập khẩu tái xuất: doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toàn
bộ chi phí tổ chức, gặp gỡ, bàn bạc mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, đảm bảo
sao cho số tiền thu được lớn hơn chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động. Doanh
nghiệp nước tái xuất phải tiến hành hai hợp đồng: hợp đồng xuất khẩu và hợp
đồng nhập khẩu nhưng không phải chịu thuế xuất nhập khẩu với mặt hàng kinh
doanh. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch cả xuất, cả
nhập, doanh số tính trên giá trị hàng xuất khẩu do đó vẫn phải chịu thuế doanh
thu. Để đảm bảo thanh toán hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng giáp

1.2. Nội dung của hoạt động nhập khẩu
1.2.1. Nghiên cứu, lựa chọn thị trường, đối tác
Khi tiến hành hoạt động nhập khẩu, các doanh nghiệp luôn phải chú trọng
đến thị trường của nước mà mình sẽ nhập khẩu. Có thể cùng một mặt hàng nhưng
chất lượng cũng như giá cả của từng hãng (từng nước) sẽ khác nhau. Mặt khác, từ
những yếu tố của thị trường, doanh nghiệp sẽ biết được lượng cung, lượng cầu ở
từng thị trường, từ đó sẽ có kế hoạch nhập khẩu một cách có hiệu quả nhất. Bên
cạnh đó, nếu doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá để kinh doanh thì còn phải nghiên
cứu thị trường mà mình sắp kinh doanh mặt hàng đó. Doanh nghiệp nào có khả
năng phản ứng một cách linh hoạt, nhanh nhạy với thị trường thì chắc chắn doanh
nghiệp đó sẽ thành công. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, lựa chọn thị trường, đối
tác đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng là
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 14
cực kỳ quan trọng. Việc nghiên cứu thị trường nhập khẩu đối với một doanh
nghiệp bao gồm các bước sau:
+ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường.
+ Xác định mức giá nhập khẩu đối với từng thị trường.
+ Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu, giá sẽ bán ra trên thị trường nội
địa (nếu có).
+ Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
+ Nghiên cứu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường ( cung,
cầu hàng hoá trên thị trường, …).
Trên cơ sở phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến giá cả của hàng hoá
nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ có thể nắm chắc xu hướng biến động về giá của loại
hàng hoá mà doanh nghiệp sẽ nhập để từ đó có thể lên phương án nhập khẩu đối
với từng mặt hàng cũng như từng thị trường. Thêm vào đó doanh nghiệp còn phải
tính đến các chi phí như: cước vận tải, lãi suất ngân hàng,… để quyết định tăng
hay giảm giá thành nhập khẩu hàng hoá.
1.2.2. Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu

nghiệp vụ, tận dụng được các mối quan hệ sẵn có, các kinh nghiệm, hiểu biết về
thị trường, luật pháp, phong tục tập quán của địa phương,… chính vì vậy, doanh
nghiệp sẽ giảm bớt được những chi phí, thời gian trong khâu nghiên cứu thị
trường. Thế nhưng bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ không có được sự liên hệ trực
tiếp với khách hàng, với thị trường cũng như việc phải chia sẻ lợi nhuận với bên
trung gian.
* Phương thức giao dịch tại sở giao dịch
Sở giao dịch là một thị trường đặc biệt mà tại đó, người ta mua bán các loại
hàng hoá có khối lượng lớn, có phẩm chất có thể thay thế được cho nhau. Việc
mua bán tại sở giao dịch được thực hiện thông qua những người môi giới do sở
giao dịch chỉ định, giá cả hàng hoá được công bố ở sở giao dịch có thể coi là giá
tham khảo trong việc xác định giá quốc tế của loại hàng hoá đó.
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 16
* Phương thức giao dịch tại hội chợ, triển lãm
Hội chợ là hoạt động định kỳ được tổ chức vào một thời gian nhất định, tại
đó người bán trưng bày và bán sản phẩm, hàng hoá của mình thông qua việc tiếp
xúc trực tiếp với người mua tại hội chợ.
Triển lãm là hoạt động mang tính chất trưng bày thành tựu của một nền
kinh tế hay của một tổ chức, một ngành nào đó. Nhưng đến nay, triển lãm còn là
nơi mà các cá nhân hay tổ chức kinh doanh có thể tiếp xúc để tiến hành việc giao
dịch , ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá.
1.2.3. Đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu
1.2.3.1. Đàm phán trong kinh doanh quốc tế
Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế, các bên đối tác thường có
quốc tịch khác nhau nên việc tiến hành đàm phán sẽ gặp những hạn chế nhất định
về ngôn ngữ, văn hoá, luật pháp giữa các bên. Do đó, khi tiến hành đàm phán
trong kinh doanh quốc tế phải rất chú trọng đến những vấn đề này để tránh việc
hiểu nhầm, xâm phạm đến những nét văn hoá truyền thống cũng như luật pháp
của bên đối tác. Có như vậy, doanh nghiệp mới có thể thành công trong quá trình

đồng tiền khác nhưng phải được quy định trước (nếu là đồng tiền khác thì phải
quy định tỷ giá quy đổi).
Phương thức thanh toán: ghi rõ thanh toán bằng phương thức nào (đổi
hàng, bằng tiền mặt, thông qua tín dụng, hay thanh toán ứng trước); bằng hình
thức nào (nhờ thu, bằng L/C, bằng séc, hối phiếu, …)
Thời hạn thanh toán: có thể trả ngay, trả trước, trả chậm nhưng phải ghi rõ
trong hợp đồng.
Ngoài ra khi ký kết hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp cần phải xem xét
lại một cách cẩn thận những điều khoản đã ghi trong hợp đồng chính, đối chiếu lại
với những thoả thuận trước để tránh những sai sót do bên đối tác vô ý hay cố tình
đưa vào hoặc bỏ qua. Hợp đồng đã được ký kết thì việc sửa chữa lại là rất khó
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 18
khăn nên văn phạm dùng trong hợp đồng phải có ý nghĩa trong sáng, từ ngữ phải
được theo một ý thống nhất, tránh việc mập mờ, có thể hiểu theo nhiều cách.
Hợp đồng mà hai bên ký kết có thể là một văn bản, một hợp đồng do hai
bên thoả thuận, đàm phán với nhau tạo nên, cũng có thể là văn bản xác nhận của
người mua (người bán) đối với thư chào hàng tự do của người bán (đơn đặt hàng
của người mua đã được thoả thuận giữa hai bên.
1.2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu là một trong những công việc đòi
hỏi phải thực hiện theo trình tự một cách lần lượt để tránh xảy ra những sai sót dẫn
tới việc khiếu nại của các bên. Tổ chức thực hiện hợp đồng một cách cẩn thận sẽ
giảm bớt những chi phí phát sinh không đáng có, tiết kiệm thời gian cho cả hai
bên. Việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu gồm những bước sau:

Sơ đồ 1.1 - Các bước thực hiện hợp đồng nhập khẩu

Làm thủ tục
thanh toán
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 19
xuống còn 9 mặt hàng, bao gồm: Hàng xuất - nhập khẩu mà nhà nước quản lý
bằng hạn ngạch; Hàng tiêu dùng nhập khẩu theo kế hoạch được Thủ tướng Chính
phủ duyệt; Máy móc thiết bị nhập khẩu bằng nguồn vốn ngân sách; Hàng của
doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Hàng
phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí; Hàng dự hội chợ, triển lãm; Hàng gia công;
Hàng tạm nhập tái xuất; Hàng xuất - nhập khẩu thuộc diện cần điều hành để đảm
bảo cân đối cung cầu trong nước.
* Mở thư tín dụng L/C
Khi hợp đồng nhập khẩu quy định tiền hàng thanh toán bằng L/C thì một
trong những việc đầu tiên mà bên mua phải làm để thực hiện hợp đồng là mở L/C.
Thời gian mở L/C, nếu hợp đồng không quy định gì thì sẽ phụ thuộc vào thời gian
giao hàng. Thông thường L/C được mở khoảng 20 - 25 ngày trước khi đến thời
gian giao hàng (nếu khách hàng ở Châu Âu). Căn cứ để mở L/C là các điều khoản
của hợp đồng nhập khẩu.
* Thuê tàu lưu cước
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc thuê tàu chở hàng được tiến
hành dựa vào ba căn cứ sau: Những điều khoản của hợp đồng, đặc điểm hàng hoá,
điều kiện vận tải. Việc thuê tàu lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có
thông tin về tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì
vậy, trong nhiều trường hợp, chủ hàng xuất - nhập khẩu thường uỷ thác việc thuê
tàu lưu cước cho một công ty hàng hải.
* Mua bảo hiểm
Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất, chính vì
thế, bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại
thương. Thường có hai loại hợp đồng bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm bao và hợp
đồng bảo hiểm chuyến. Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều

chuyển, giao nhận.
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 21
- Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hoá (như vận đơn,
lệnh giao hàng,…)nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
- Thông báo cho các đơn vị trong nước đặt mua hàng nhập khẩu (nếu hàng
nhập khẩu cho đơn vị trong nước) về dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàu chở
hàng về đến cảng.
- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp,
bảo quản và vận chuyển hàng nhập khẩu.
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập những biên bản (nếu
cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong
việc giao nhận.
* Làm thủ tục thanh toán
Việc thanh toán bằng hình thức nào được quy định rõ trong hợp đồng nên
doanh nghiệp phải kiểm tra chứng từ một cách kỹ lưỡng, việc lập chứng từ đòi hỏi
độ chính xác rất cao để tránh những tổn thất không đáng có cho các bên.
* Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Khi chủ hàng phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, thiếu hụt,… thì
cần lập hồ sơ khiếu nại ngay (trong thời hạn khiếu nại). Đối tượng khiếu nại là
người bán nếu hàng kém phẩm chất, thiếu hụt về số lượng, bao bì không phù hợp,
thanh toán nhầm lẫn, thanh toán chậm,… Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu
hàng bị tổn thất trong quá trình chuyên chở hoặc tổn thất do lỗi của người vận tải.
Đối tượng khiếu nại là công ty bảo hiểm nếu hàng hoá (đối tượng của bảo hiểm)
bị tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc do lỗi của người thứ ba gây nên khi
những rủi ro này đã được mua bảo hiểm.
Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất (như biên
bản giám định, COR, ROROC hay CSC, …), hoá đơn, vận đơn, đơn bảo hiểm
(nếu khiếu nại công ty bảo hiểm) …


Một nhân tố nữa cũng không kém phần quan trọng đó chính là năng lực
(hay tiềm lực) của chính bản thân doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh
tế quốc tế. Năng lực của doanh nghiệp nói chung chính là vốn, tài sản, công nghệ,
nhân sự,… của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp có quy mô lớn, có lượng vốn
lớn, có lực lượng nhân sự tốt cũng như những công nghệ hiện đại thì chắc chắn
rằng doanh nghiệp đó sẽ rất phát triển, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ
khác trên thế giới. Điều này không có nghĩa là những doanh nghiệp nhỏ không thể
tồn tại được trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Những doanh nghiệp nhỏ cũng
phải tìm cho mình những thế mạnh riêng, hoặc có thể tự tạo cho mình những thế
mạnh đó để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác. Điều này có thể
hiểu được vì số lượng công ty lớn trên thế giới là không nhiều mà đa phần là
những công ty vừa và nhỏ, những công ty này đều có những lợi thế nhất định về
một lĩnh vực, họ tự tìm cho mình những lối đi riêng để tạo ra sự khác biệt với các
công ty khác để từ đó có thể kiếm được lợi nhuận kinh doanh một cách hợp pháp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt lấy những cơ hội kinh doanh ở
mọi nơi, mọi lúc do các yếu tố chủ quan hay khách quan mang lại.
Mỗi doanh nghiệp cần phải hiểu rõ năng lực của chính mình để có thể
lượng sức mình trên thương trường, có kế hoạch đầu tư, xây dựng chiến lược kinh
doanh dài hạn để ngày càng nâng cao tiềm lực bản thân, từ đó mới có thể mở rộng
tầm hoạt động, kiếm được những lợi nhuận lớn do kinh doanh quy mô lớn mang
lại.
1.4. Sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu để phát triển sản
xuất kinh doanh ở Tổng công ty Bao bì Việt Nam (VPC)
Có thể nói rằng, việc phát triển cơ sở sản xuất, nâng cao nghiệp vụ, công
nghệ, trình độ quản lý của các doanh nghiệp không những cần thiết mà còn phải
được tiến hành một cách liên tục trong tất cả các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp
Kinh tế quốc tế 46 Trang 24
cần phải luôn tự đổi mới mình để thích nghi với môi trường kinh tế luôn thay đổi.
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu nhập khẩu để phục vụ cho tiêu

những lợi thế nhất định cho VPC. Nhập khẩu với chi phí ngày càng thấp sẽ tạo lợi
thế cạnh tranh cho VPC khi kinh doanh những sản phẩm nhập khẩu và sản xuất từ
nguyên liệu nhập khẩu ở thị trong nước và mở rộng ra tầm quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status