LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Đây là một quá trình vận động quan trọng mở ra cho Việt Nam nhiều
cơ hội và buộc Việt Nam phải đối mặt với những áp lực điều chỉnh cơ cấu kinh tế
và cơ chế quản lý với những thách thức to lớn và tất yếu.
Cả nền kinh tế, các ngành sản xuất, các doanh nghiệp và các loại hàng hoá
và dịch vụ Việt Nam đều phải đương đầu với sức ép cạnh tranh cực kỳ gay gắt.
Lĩnh vực kinh tế đối ngoại Việt Nam, một lĩnh vực hết sức đa dạng, thường xuyên
biến động và là động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát
triển theo hướng hội nhập hiện nay, đang chịu những tác động trực tiếp và hết sức
to lớn của quá trình này. Sự phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại thúc đẩy kinh tế
trong nước phát triển và sự phát triển các quan hệ kinh tế trong nước tạo đà cho sự
phát triển của lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Việc phát triển mạnh của lĩnh vực kinh tế
đối ngoại làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một mắt khâu quan trọng trong
chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu làm tăng giá trị nền
kinh tế. Động lực phát triển kinh tế toàn cầu, lúc đó, sẽ trở thành động lực tăng
trưởng trực tiếp của nền kinh tế.
Tình hình phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta trong thời gian qua đã đặt
được một số thành tựu hết sức to lớn, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt khoảng 48.38 tỷ USD và
kim ngạch nhập khẩu đạt 60.83 tỷ USD, đạt mức kỷ lục từ trước tới nay. Kim
ngạch nhập khẩu ngày càng tăng thể hiện Việt Nam là thị trường tiêu thụ lớn hàng
hoá các nước, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng tăng cao, đặc biệt là
những mặt hàng có mẫu mã và chất lượng tốt. Cùng với xu thế đó thì tình hình kinh
doanh các mặt hàng nhập khẩu của Tổng công ty Bao bì Việt Nam cũng ngày càng
Kinh tế quốc tế 46 Trang 1
được tăng cao và ngày càng phát triển mạnh hơn với những kết quả đáng khích lệ.
Tuy nhiên, triển vọng kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu của Công ty vẫn còn rất
lớn, vì vậy Công ty cần phải hoàn thiện hơn nữa hoạt động nhập khẩu để đảy mạnh
lĩnh vực kinh doanh của mình.
NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, hình thức và vai trò nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm
Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập và cạnh tranh quốc tê, vấn đề mở rộng
và phát triển thương mại quốc tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên tất yếu và cấp
bách đối với các quốc gia. Hoạt động thương mại quốc tế giúp các quốc gia có thể
đáp ứng một cách đầy đủ hơn những nhu cầu đa dạng của con người. Mặt khác,
thương mại quốc tế còn giúp các quốc gia phát huy được tối đa khả năng, tận dụng
một cách có hiệu quả nhất nguồn lực sẵn có của quốc gia mình.
Với ý nghĩa như vậy, nhập khẩu trong lý luận thương mại quốc tế, là việc
quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính
là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú
trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của
IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào
mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi
thương mại.
Đơn vị tính khi thống kê về nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu
Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Đôi khi,
nếu chỉ xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc
trọng lượng (cái, tấn, v.v...)
Kinh tế quốc tế 46 Trang 4
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá
hối đoái. Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối
với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng
nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.
1.1.2. Các hình thức nhập khẩu chủ yếu
Nhập khẩu có rất nhiều hình thức đa dạng mà từ đó các doanh nghiệp có thể
tìm cho mình một hình thức nhập khẩu phù hợp nhất, có hiệu quả nhất trước sự thay
đổi của các yếu tố liên quan đến môi trường kinh tế. Có thể nói đến một số hình
thức nhập khẩu mà các doanh nghiệp thường lựa chọn sau:
ngạch (nếu có) không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ
hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với bạn hàng
nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá cũng như thay mặt cho
bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường với nước ngoài khi có tổn thất.
Khi nhận uỷ thác, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu này phải lập hai hợp
đồng:
- Một hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài.
- Một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.
1.1.2.3. Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết
kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó ít nhất có một doanh
nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và
đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy
hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi, lỗ thì
cùng nhau chịu.
Kinh tế quốc tế 46 Trang 6
Đặc điểm của nhập khẩu liên doanh: ở hoạt động nhập khẩu này thì các
doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh sẽ phải chịu rủi ro ở mức thấp hơn so với nhập
khẩu trực tiếp vì trường hợp này doanh nghiệp chỉ phải góp một số vốn nhất định,
quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia tăng theo vốn góp, việc phân chia
chi phí, thuế doanh thu dựa theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ hai bên phân chia tuỳ theo thoả
thuận dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác.
Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng:
- Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài.
- Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải là
doanh nghiệp của Nhà nước).
1.1.2.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lưu. Nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán
trong hợp đồng này không phải dùng tiền mà chính bằng hàng hoá. Ở đây mục đích
nước; nhập khẩu để bổ sung hàng hoá trong nước không sản xuất được, hoặc sản
xuất không đáp ứng đủ nhu cầu; nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu
những hàng hoá mà nếu sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai
mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động
tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân.
Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước,
đuổi kịp các nước tiên tiến, bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh
tế, đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối ổn định.
Kinh tế quốc tế 46 Trang 8
Nhập khẩu góp phần cải thiện, nâng cao mức sống của nhân dân, vì nhập
khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo
đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
Nhập khẩu có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này
thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường
thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng sản xuất được trong nước ra nước ngoài, đặc biệt
là nước đối tác mà mình đã nhập hàng của họ.
Tóm lại, hoạt động nhập khẩu tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền
kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các “yếu tố đầu vào”
và tiêu thụ các “yếu tố đầu ra” cho nền kinh tế quốc dân trong hệ thống kinh tế quốc
tế.
1.2. Nội dung của hoạt động nhập khẩu
1.2.1. Nghiên cứu, lựa chọn thị trường, đối tác
Khi tiến hành hoạt động nhập khẩu, các doanh nghiệp luôn phải chú trọng
đến thị trường của nước mà mình sẽ nhập khẩu. Có thể cùng một mặt hàng nhưng
chất lượng cũng như giá cả của từng hãng (từng nước) sẽ khác nhau. Mặt khác, từ
những yếu tố của thị trường, doanh nghiệp sẽ biết được lượng cung, lượng cầu ở
từng thị trường, từ đó sẽ có kế hoạch nhập khẩu một cách có hiệu quả nhất. Bên
cạnh đó, nếu doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá để kinh doanh thì còn phải nghiên
cứu thị trường mà mình sắp kinh doanh mặt hàng đó. Doanh nghiệp nào có khả
hiểu thông tin rõ về thị trường.
* Phương thức giao dịch qua trung gian
Phương thức giao dịch qua trung gian là phương thức giao dịch trong đó
mối quan hệ giữa người mua và người bán và các điều kiện liên quan được thực
Kinh tế quốc tế 46 Trang 10
hiện qua một khâu trung gian, khâu trung gian này có thể là một cá nhân hay một tổ
chức. Có hai hình thức trung gian chủ yếu là đại lý và môi giới.
Đại lý có thể là thể nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hoặc nhiều công việc
theo sự ủy thác của người ủy thác. Quan hệ giữa bên uỷ thác và đại lý (bên nhận uỷ
thác) được xác định bằng một hợp đồng gọi là hợp đồng đại lý (thường là hợp đồng
dài hạn).
Môi giới có thể là thể nhân hoặc pháp nhân làm trung gian liên hệ giữa
người mua và người bán. Khi thực hiện các ngiệp vụ, người môi giới không đứng
tên mình, họ không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm trong việc các
bên có thực hiện đúng hợp đồng hay không. Việc trung gian của người môi giới
thường theo từng lần, từng hợp đồng chứ không dựa vào hợp đồng dài hạn.
Việc sử dụng phương thức giao dịch qua trung gian mang lại cho doanh
nghiệp những thuận lợi nhất định vì người trung gian có những năng lực về nghiệp
vụ, tận dụng được các mối quan hệ sẵn có, các kinh nghiệm, hiểu biết về thị trường,
luật pháp, phong tục tập quán của địa phương,… chính vì vậy, doanh nghiệp sẽ
giảm bớt được những chi phí, thời gian trong khâu nghiên cứu thị trường. Thế
nhưng bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ không có được sự liên hệ trực tiếp với khách
hàng, với thị trường cũng như việc phải chia sẻ lợi nhuận với bên trung gian.
* Phương thức giao dịch tại sở giao dịch
Sở giao dịch là một thị trường đặc biệt mà tại đó, người ta mua bán các loại
hàng hoá có khối lượng lớn, có phẩm chất có thể thay thế được cho nhau. Việc mua
bán tại sở giao dịch được thực hiện thông qua những người môi giới do sở giao
dịch chỉ định, giá cả hàng hoá được công bố ở sở giao dịch có thể coi là giá tham
khảo trong việc xác định giá quốc tế của loại hàng hoá đó.
* Phương thức giao dịch tại hội chợ, triển lãm
* Điều khoản về hàng hoá
Kinh tế quốc tế 46 Trang 12
Khiếu nại và
giải quyết khiếu
nại (nếu có)
Tên hàng: Cần ghi đầy đủ tên hàng ( tên thông dụng, tên thương mại, tên
khoa học nếu có) để tránh nhầm lẫn.
Số lượng, chất lượng: quy định chất lượng hàng hoá một cách chính xác, tỉ
mỉ. Ghi rõ số lượng hàng hoá theo từng đơn vị, không ghi bằng cách ước chừng số
lượng.
Quy cách đóng gói, trọng lượng hàng hoá: ghi rõ hàng hoá được đóng gói
theo phương thức nào, nếu theo bao thì trọng lượng mỗi bao là bao nhiêu.
* Điều khoản về thanh toán
Đồng tiền tính giá: quy định đồng tiền nào sẽ được sử dụng để tính giá hàng
hoá, giá của mỗi đơn vị hàng hoá và giá của toàn bộ số hàng. Nếu có giảm giá thì
phải ghi rõ giảm giá theo hình thức nào, số lượng giảm giá là bao nhiêu.
Đồng tiền thanh toán: có thể là đồng tiền tính giá hoặc cũng có thể là một
đồng tiền khác nhưng phải được quy định trước (nếu là đồng tiền khác thì phải quy
định tỷ giá quy đổi).
Phương thức thanh toán: ghi rõ thanh toán bằng phương thức nào (đổi hàng,
bằng tiền mặt, thông qua tín dụng, hay thanh toán ứng trước); bằng hình thức nào
(nhờ thu, bằng L/C, bằng séc, hối phiếu, …)
Thời hạn thanh toán: có thể trả ngay, trả trước, trả chậm nhưng phải ghi rõ
trong hợp đồng.
Ngoài ra khi ký kết hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp cần phải xem xét lại
một cách cẩn thận những điều khoản đã ghi trong hợp đồng chính, đối chiếu lại với
những thoả thuận trước để tránh những sai sót do bên đối tác vô ý hay cố tình đưa
vào hoặc bỏ qua. Hợp đồng đã được ký kết thì việc sửa chữa lại là rất khó khăn nên
văn phạm dùng trong hợp đồng phải có ý nghĩa trong sáng, từ ngữ phải được theo
một ý thống nhất, tránh việc mập mờ, có thể hiểu theo nhiều cách.
Xin giấy phép
nhập khẩu
(nếu có)
Mở L/C
(nếu thanh toán
bằng L/C)
Nhận hàng
Làm thủ tục hải
quan
Khiếu nại và
giải quyết khiếu
nại (nếu có)
Làm thủ tục
thanh toán
thác dầu khí; Hàng dự hội chợ, triển lãm; Hàng gia công; Hàng tạm nhập tái xuất;
Hàng xuất - nhập khẩu thuộc diện cần điều hành để đảm bảo cân đối cung cầu trong
nước.
* Mở thư tín dụng L/C
Khi hợp đồng nhập khẩu quy định tiền hàng thanh toán bằng L/C thì một
trong những việc đầu tiên mà bên mua phải làm để thực hiện hợp đồng là mở L/C.
Thời gian mở L/C, nếu hợp đồng không quy định gì thì sẽ phụ thuộc vào thời gian
giao hàng. Thông thường L/C được mở khoảng 20 - 25 ngày trước khi đến thời gian
giao hàng (nếu khách hàng ở Châu Âu). Căn cứ để mở L/C là các điều khoản của
hợp đồng nhập khẩu.
* Thuê tàu lưu cước
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc thuê tàu chở hàng được tiến hành
dựa vào ba căn cứ sau: Những điều khoản của hợp đồng, đặc điểm hàng hoá, điều
kiện vận tải. Việc thuê tàu lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin
về tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy, trong
nhiều trường hợp, chủ hàng xuất - nhập khẩu thường uỷ thác việc thuê tàu lưu cước
thác giao nhận để tiến hành thủ tục nhận hàng, gồm các bước:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc giao nhận hàng.
- Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng nhập khẩu từng
năm, từng quý, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận
chuyển, giao nhận.
- Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hoá (như vận đơn,
lệnh giao hàng,…)nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
- Thông báo cho các đơn vị trong nước đặt mua hàng nhập khẩu (nếu hàng
nhập khẩu cho đơn vị trong nước) về dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàu chở
hàng về đến cảng.
Kinh tế quốc tế 46 Trang 16
- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp,
bảo quản và vận chuyển hàng nhập khẩu.
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập những biên bản (nếu
cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong
việc giao nhận.
* Làm thủ tục thanh toán
Việc thanh toán bằng hình thức nào được quy định rõ trong hợp đồng nên
doanh nghiệp phải kiểm tra chứng từ một cách kỹ lưỡng, việc lập chứng từ đòi hỏi
độ chính xác rất cao để tránh những tổn thất không đáng có cho các bên.
* Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Khi chủ hàng phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, thiếu hụt,… thì cần
lập hồ sơ khiếu nại ngay (trong thời hạn khiếu nại). Đối tượng khiếu nại là người
bán nếu hàng kém phẩm chất, thiếu hụt về số lượng, bao bì không phù hợp, thanh
toán nhầm lẫn, thanh toán chậm,… Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu hàng
bị tổn thất trong quá trình chuyên chở hoặc tổn thất do lỗi của người vận tải. Đối
tượng khiếu nại là công ty bảo hiểm nếu hàng hoá (đối tượng của bảo hiểm) bị tổn
thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc do lỗi của người thứ ba gây nên khi những rủi
ro này đã được mua bảo hiểm.
Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất (như biên
tiềm lực) của chính bản thân doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc
tế. Năng lực của doanh nghiệp nói chung chính là vốn, tài sản, công nghệ, nhân sự,
… của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp có quy mô lớn, có lượng vốn lớn, có
lực lượng nhân sự tốt cũng như những công nghệ hiện đại thì chắc chắn rằng doanh
nghiệp đó sẽ rất phát triển, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác trên thế
giới. Điều này không có nghĩa là những doanh nghiệp nhỏ không thể tồn tại được
Kinh tế quốc tế 46 Trang 18
trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Những doanh nghiệp nhỏ cũng phải tìm cho
mình những thế mạnh riêng, hoặc có thể tự tạo cho mình những thế mạnh đó để có
thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác. Điều này có thể hiểu được vì số
lượng công ty lớn trên thế giới là không nhiều mà đa phần là những công ty vừa và
nhỏ, những công ty này đều có những lợi thế nhất định về một lĩnh vực, họ tự tìm
cho mình những lối đi riêng để tạo ra sự khác biệt với các công ty khác để từ đó có
thể kiếm được lợi nhuận kinh doanh một cách hợp pháp. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp cần phải nắm bắt lấy những cơ hội kinh doanh ở mọi nơi, mọi lúc do các
yếu tố chủ quan hay khách quan mang lại.
Mỗi doanh nghiệp cần phải hiểu rõ năng lực của chính mình để có thể lượng
sức mình trên thương trường, có kế hoạch đầu tư, xây dựng chiến lược kinh doanh
dài hạn để ngày càng nâng cao tiềm lực bản thân, từ đó mới có thể mở rộng tầm
hoạt động, kiếm được những lợi nhuận lớn do kinh doanh quy mô lớn mang lại.
1.4. Sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu để phát triển sản
xuất kinh doanh ở Tổng công ty Bao bì Việt Nam (VPC)
Có thể nói rằng, việc phát triển cơ sở sản xuất, nâng cao nghiệp vụ, công
nghệ, trình độ quản lý của các doanh nghiệp không những cần thiết mà còn phải
được tiến hành một cách liên tục trong tất cả các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
cần phải luôn tự đổi mới mình để thích nghi với môi trường kinh tế luôn thay đổi.
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu nhập khẩu để phục vụ cho tiêu
dùng trong nước rất lớn, chính vì vậy, việc hoàn thiện hoạt động nhập khẩu đối với
các doanh nghiệp Việt Nam là rất cần thiết. Tổng công ty Bao Bì Việt Nam (VPC)
là một trong những doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực
CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của Tổng công ty Bao bì Việt
Nam
2.1.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của Tổng công ty
Ngày 02/04/1976 Hội đồng chính phủ quyết định thành lập Công ty Bao bì xuất
khẩu theo quyết định 1079/BNg - TCCB của Bộ ngoại thương (nay là Bộ Công
Thương).
Tổng công ty Bao bì xuất khẩu là đơn vị Kinh doanh vật tư nhiên liệu cho sản
xuất bao bì xuất khẩu và tổ chức sản xuất cung ứng bao bì, gia công các loại bao bì
phục vụ xuất khẩu, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập có tư cách pháp
nhân, có tài khoản ngân hàng, có con dấu riêng, Tổng công ty đặt trụ sở tại Hà Nội.
Tổng công ty có chi nhánh ở thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng, thành phố
Hồ Chí Minh, các xi nghiệp sản xuất bao bì và các phòng ban nghiệp vụ.
Năm 1989, một số đơn vị trực thuộc gồm: chi nhánh thành phố Hồ Chí
Minh, Xí nghiệp bao bì xuất khẩu I, Xí nghiệp Bao bì xuất khẩu II tách ra trực
thuộc Bộ Kinh tế Đối ngoại đổi tên thành Tổng công ty Xuất Nhập Khẩu và Kỹ
thuật Bao bì, tên giao dịch quốc tế là: “ The VietNam National Packing Technology
and Import- Export Corp”, viết tắt là Packexport” ( quyết định số 812/KTBN –
TCCB ngày 13/12/1989).
Thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, tháng 4 năm
2005 Tổng công ty Xuất Nhập Khẩu và Kỹ thuật Bao bì chuyển thành Công ty Cổ
phần Bao bì Việt Nam - VPC. Tổng công ty đã tiến hành đạ hội cổ đông và chính
Kinh tế quốc tế 46 Trang 21
thức hoạt động theo điều lệ Công ty Cổ phần từ 1/4/2005. Với khẩu hiệu “ Hợp tác
- Phát triển cùng hội nhập”, Tổng công ty Bao bì Việt Nam - VPC luôn hướng tới
mục tiêu phát triển dài hạn, ổn định, trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của Doanh
nghiệp, của Khách hàng và của cả Cộng đồng.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty
Cơ cấu tổ chức có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hoạt động của
XN
B.Bì Cổ
Loa
Các
cửa
hàng
XN In
và
Bao bì
HM
XN.
Hùng
Vương
CN.
Đà
Nẵng
CN.
Hải
Phòng
P. Tổ
chức
hành
chính
Phó Tổng Giám
Đốc
Phó Tổng Giám
Đốc
P. Kinh
doanh
1-2-3-4
* Phòng tổ chức - Hành chính
Chức năng
Giúp Giám đốc Tổng công ty những công việc thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy,
công tác cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo, phong trào thi đua, bảo vệ kinh tế
chính trị, an toàn lao động tại văn phòng Tổng công ty và giúp các chi nhánh thực
hiện các mặt hoạt động này và đảm bảo các công việc thuộc lĩnh vực hành chính
quản trị,đời sống, chăm sóc sức khoẻ CBCNV tại văn phòng Tổng công ty.
Nhiệm vụ
Nghiên cứu đề xuất việc tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ của Tổng công ty theo
hướng gọn nhẹ có hiệu lực.
Đề xuất thành lập đại diện của Tổng công ty ở những thị trường cần thiết trong
ngoài nước.
Kinh tế quốc tế 46 Trang 24
Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ cho hoạt động của các Tổng công ty theo chức
năng, nhiệm vụ được giao từ đó có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ theo tiêu
chuẩn đã định.
Giúp giám đốc Tổng công ty quản lý tốt số cán bộ hiện có, tuyển dụng số còn
thiếu khi có nhu cầu.
Quản lý tốt hồ sơ cán bộ, bổ sung kịp thời những thay đổi của cán bộ vào hồ sơ
gốc.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch lao động tiền lương hàng năm, quí, tháng, gửi
kế hoạch này để phòng kế hoạch tổng hợp thành kế hoạch chung của Tổng công ty
và phòng Tài chính kế toán để phối hợp thực hiện.
Phổ biến, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chế độ chính sách quy định
của Nhà nước đối với cơ quan và CBCNV cơ quan.
Giúp giám đốc trong công tác thanh tra của chính quyền tham gia ban thanh tra
nhân dân hoạt động dưới sự chỉ đạo của thanh tra cấp trên.
Xây dựng các quy chế về thi đua khen thưởng, kỷ luật, nội quy cơ quan, đôn
đốc và theo dõi việc thực hiện các quy định này.
Thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự cho thanh niên cơ quan theo luật định,