LuËn v¨n tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình CNH – HĐH đất nước ở nước ta, nguồn vốn FDI đã phát huy
được vai trò rõ rệt của nó trong những năm qua. Việc thu hút nguồn vốn FDI để khai
thác hiệu quả hơn tiềm năng vốn có của quốc gia là một yêu cầu bức thiết đặt ra ở
hầu hết các địa phương trong cả nước. Trong những năm gần đây, xúc tiến đầu tư
được coi là công cụ hữu hiệu nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn FDI. Tuy nhiên,
nhận thức về hoạt động xúc tiến đầu tư hiện nay vẫn còn có những hạn chế nhất định
và hoạt động xúc tiến đầu tư ở nước ta nói chung, ở các địa phương nói riêng và cụ
thể địa bàn nghiên cứu trong đề tài này là tỉnh Hải Dương vẫn còn đang trong giai
đoạn sơ khai, chưa có được chiến lược XTĐT, đồng thời cũng chưa khai thác hết tính
hiệu quả của các công cụ XTĐT trong quá trình vận động các nhà đầu tư tiềm năng.
Như vậy, thực trạng của hoạt động xúc tiến đầu tư diễn ra tại tỉnh Hải Dương hiện
nay như thế nào? Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân gây ra hạn chế là gì? để
từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục. Đây là vấn đề hết sức quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế của tỉnh Hải Dương. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt
động XTĐT trong việc tăng cường thu hút FDI, do đó, em quyết định chọn đề tài:
“Hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào tỉnh Hải Dương: Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu khóa luận.
2. Mục đích chọn đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hoạt động
xúc tiến đầu tư và qua đó đưa ra một cái nhìn cụ thể về tình hình công tác xúc tiến
đầu tư tại tỉnh Hải Dương, cụ thể như sau:
Lý luận chung về hoạt động xúc tiến đầu tư
Giới thiệu chung về Hải Dương và những tiềm năng của tỉnh để đẩy mạnh
công tác xúc tiến đầu tư tại tỉnh
Phân tích thực trạng công tác xúc tiến đầu tư tại tỉnh Hải Dương
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Trên cơ sở thực trạng đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
xúc tiến đầu tư
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐẦU TƯ
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Những lý luận chung về hoạt động xúc tiến đầu tư
1.1. Khái niệm về Xúc tiến đầu tư
Xúc tiến đầu tư là một công cụ nhằm để thu hút đầu tư. Hoạt động XTĐT có
vai trò quảng bá hình ảnh của một đất nước, một địa phương về môi trường đầu tư sở
tại nhằm thu hút dòng vốn đầu tư vào địa bàn. Dòng vốn đầu tư không thể tự nhiên
mà có vì các quốc gia trên thế giới vẫn tiếp tục tự do hóa, các tập đoàn lớn, các công
ty xuyên quốc gia vẫn đang được thu hút về những nơi có môi trường tốt và có những
điều kiện thuận lợi. Hơn nữa, trong xu thế cạnh tranh để thu hút đầu tư giữa các địa
phương khác nhau ngày một trở nên dữ dội hơn. Như vậy, sự cạnh tranh gay gắt giữa
các địa bàn đã làm cho công tác XTĐT trở thành một hoạt động tất yếu và ngày càng
được gia tăng không chỉ ở những nước, những địa phương phát triển mà còn ở những
nước, những địa phương đang phát triển.
Công tác XTĐT là một hoạt động đa dạng và ngày càng trở nên đa dạng. Công
tác XTĐT không chỉ đơn giản là việc mở rộng thị trường nội địa cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Không có một khái niệm nhất quán về “Xúc tiến đầu tư”, ở đây ta có thể
hiểu XTĐT như sau: “Xúc tiến đầu tư là một hoạt động kinh tế - xã hội nhằm mục
đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thu hút các tập đoàn kinh tế, các
doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đến đất nước mình, địa phương
mình…để đầu tư. Hay nói cách khác, hoạt động xúc tiến đầu tư thực chất là hoạt
động Marketing trong thu hút đầu tư mà kết quả của hoạt động này chính là nguồn
vốn đầu tư thu hút được.” Thực chất của vấn đề là làm thế nào để tạo dựng được
thương hiệu của một quốc gia, một địa phương để các nhà đầu tư gắn liền nó với
những đặc điểm chất lượng mà họ yêu cầu.
Theo nghĩa hẹp, công tác XTĐT là những biện pháp thu hút đầu tư thông qua
một biện pháp tiếp thị tổng hợp của các chiến lược về “sản phẩm”, “xúc tiến” và “giá”.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sản phẩm: ở đây sản phẩm chính là địa điểm hay các dự án tiếp nhận đầu tư.
Bên cạnh đó, các dịch vụ đầu tư giúp chủ đầu tư có được thông tin về thị
trường nội địa, được tư vấn về lực lượng công nhân cũng như thủ tục đăng ký, cấp
phép, được tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án…để chủ đầu tư
có thể nhanh chóng đi vào hoạt động một cách thuận lợi, hiệu quả.
Với ý nghĩa đó, XTĐT đã trở thành nội dung chính của hoạt động thu hút FDI.
1.3. Mô hình và cơ cấu tổ chức của công tác xúc tiến đầu tư
1.3.1. Mô hình công tác xúc tiến đầu tư
- Mô hình công tác XTĐT được thể hiện trong hoạt động của 3 cấp: cấp quốc
gia, cấp địa phương và doanh nghiêp.
Ở cấp quốc gia, mô hình hoạt động rộng khắp mang tính bao trùm trên tất
cả các địa phương trên cả nước, các ngành nghề và mang tính chất dàn trải.
Ở cấp địa phương, mô hình hoạt động trong phạm vi địa phương và cụ thể
hơn.
Ở cấp doanh nghiệp, mọi hoạt động đều mang tính cụ thể nên mô hình
hoạt động mang tính chất tập trung hơn.
- Trong công tác xúc tiến đầu tư cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
XTĐT ở ba cấp quốc gia, địa phương và doanh nghiệp. Sự phối hợp thống nhất giữa
các địa phương trong công tác XTĐT là hết sức quan trọng
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.3.2. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức trong cơ quan XTĐT cấp quốc gia, địa phương bao gồm:
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của CQ XTĐT
- Bộ phận XTĐT: có nhiệm vụ lựa chọn nhà đầu tư, tiến hành quảng bá,
quan hệ với công chúng, quảng cáo, phương tiện thông tin trong và ngoài
nước. Tổ chức các đoàn ra nước ngoài, đoàn vào trong nước.
- Bộ phận pháp lý: Tư vấn pháp lý và hỗ trợ xin các giấy phép hoặc phê duyệt.
- Bộ phận cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư: Cung cấp các dịch vụ cho nhà
đầu tư và chịu trách nhiệm về những dịch vụ này. Xử lý các trường hợp
đầu tư mới do bộ phận XTĐT tạo ra hoặc bằng các cách khác.
- Bộ phận hỗ trợ sau đầu tư: Chăm sóc nhà đầu tư sau khi có Giấy phép
phải có một kế hoạch tổng thể sắp xếp các hoạt động như chuẩn bị tài liệu giới thiệu,
tổ chức các cuộc hội thảo đầu tư, tổ chức các cuộc thăm địa điểm đầu tư,…
Như vậy, chiến lược XTĐT là cách thức tổ chức một loạt các hoạt động
XTĐT nhằm tăng cường đầu tư vào một quốc gia, một địa phương. Để thực sự đạt
được hiệu quả, các chiến lược đầu tư đều phải rõ ràng, phù hợp với mục tiêu chung.
Việc xác định mục tiêu cho chiến lược liên quan đến việc xác định lợi thế, bất lợi,
những lĩnh vực phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của mình, trên cơ sở đó lựa
chọn đối tác, lĩnh vực cũng như các công ty để tiến hành chương trình XTĐT. Việc
này đòi hỏi sự nghiên cứu và hoạch định một cách chi tiết, cụ thể. Đây là một nội
dung hết sức quan trọng, định hướng cho toàn bộ hoạt động XTĐT tiến hành sau đó.
NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG
XTĐT
Xây
dựng
chiến
lược
Xây
dựng
hình
ảnh
Xây
dựng
quan
hệ
Lựa
chọn
mục tiêu
và tạo
cơ hội
đầu tư
- Phân tích các đối thủ cạnh tranh: Sau khi hoàn thành quá trình phân tích
SWOT, CQXTĐT có thể dùng các điểm tìm được từ quá trình phân tích
SWOT để đặt tiêu chuẩn về khả năng cạnh tranh của đất nước, của địa
phương hay của doanh nghiệp mình với tư cách là một địa điểm đầu tư với
các đối thủ cạnh tranh.
Bước 2: Hướng tới các ngành và khu vực có nguồn đầu tư
Để hướng tới các ngành, các khu vực địa lý có nguồn đầu tư phù hợp với các
đặc tính của đất nước, cần hoàn thiện các nhiệm vụ sau:
- Lập một danh sách các ngành: Danh sách sơ bộ các ngành có khả năng để
hướng tới có thể bao gồm các ngành đã hoạt động tại đất nước, tại địa
phương, các ngành hoạt động tại các nước cạnh tranh.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
- Phân tích các ngành: Phân tích cơ cấu, các công ty quan trọng và xu hướng
để đánh giá khả năng ĐTNN trong tương lai và để hiểu ngành này tìm
kiếm gì từ một địa điểm ở nước ngoài.
- Đánh giá khả năng phù hợp của ngành với đất nước, địa phương: So sánh
các yêu cầu của mỗi ngành với đặc điểm của đất nước, địa phương được
xác định trong quá trình phân tích SWOT để rút ngắn danh sách các ngành
tiềm năng để lựa chọn một số ngành. Bên cạnh đó, kiểm tra sự nhất quán
với mục tiêu chính sách.
- Lập một danh sách ngắn các ngành: xếp hạng hoặc chấm điểm xét theo 3
góc độ sau: sự phù hợp của ngành với các đặc tính của đất nươc, địa
phương; khả năng cạnh tranh của đất nước, địa phương khi đáp ứng nhu
cầu của ngành; và sự phù hợp của ngành đối với các mục tiêu phát triển
của đất nước, địa phương.
Bước 3: Xây dựng chiến lược XTĐT
Cách xây dựng một tài liệu chiến lược XTĐT gồm xác định: Các ngành hướng
tới trong ngắn hạn và trung hạn; Các khu vực địa lý quan trọng cần tập trung của
chiến lược; Các phương pháp XTĐT được sử dụng để tiếp cận các công ty và lý do
chọn các phương pháp đó; Những thay đổi cần thiết trong cơ cấu tổ chức, chức năng
những công cụ marketing phù hợp nhất để truyền thông điệp. Lựa chọn công cụ phù
hợp có vai trò quan trọng trong việc tối đa hoá khả năng tác động của các hoạt động
xúc tiến. Ở đây có sự phối hợp marketing và sự kết hợp này thay đổi theo thời gian.
Các công cụ marketing khác nhau có hiệu quả khác nhau của quá trình xây dựng hình
ảnh. Quy mô ngân sách dành cho XTĐT cũng quyết định các công cụ và sự phối hợp
marketing mà bạn sử dụng. Các công cụ marketing bao gồm: công cụ truyền tin (các
cuốn sách mỏng giới thiệu, các báo cáo nghiến cứu về từng ngành, bản tin tức, thư
LuËn v¨n tèt nghiÖp
ngỏ, CD-ROM, Internet, video); Chiến dịch quảng cáo; Chiến dịch quan hệ công
chúng; Triển lãm và hội chợ.
1.4.3. Xây dựng quan hệ
Mối quan hệ hợp tác kinh tế - đầu tư đều phát triển dựa trên mối quan hệ
ngoại giao của cả hai nước. Chính vì thế, xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong một chương trình XTĐT. Hoạt động XTĐT được tiến hành
giữa hai nước càng trở nên thuận lợi khi các mối quan hệ nỗ lực quan hệ ở cấp
Nhà nước.
Ở hầu hết các quốc gia, các địa phương hiện nay đã thành lập CQXTĐT. Tùy
theo điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi địa phương hoạt động của CQXTĐT có thể
khác nhau. Xây dựng mối quan hệ giữa CQXTĐT giữa các nước, địa phương khác
nhau sẽ có tác dụng lớn hỗ trợ và bổ sung cho nhau trên cơ sở mục tiêu hoạt động của
mỗi tổ chức.
Có ba bước tiến hành xây dựng mối quan hệ
Bước 1: Một CQXTĐT tham gia vào các quan hệ đối tác
Đối với một CQXTĐT, một quan hệ đối tác có thể được xác định như là một
thoả thuận phối hợp công việc với các cơ quan nhà nước hoặc tư nhân để phát triển hoặc
chia sẻ các phần việc trong chương trình xúc tiến đầu tư. Điều quan trọng là nó nhằm để
đạt được các mục tiêu đã đặt ra một cách hiệu quả hơn thông qua việc phối hợp công
việc chung hơn là làm một mình. CQXTĐT chỉ nên duy trì những quan hệ đối tác sẽ
đem lại lợi ích cho các hoạt động của CQXTĐT. Quan hệ đối tác của CQXTĐT bao
gồm quan hệ đối tác cho việc phát triển sản phẩm, quan hệ đối tác trong hoạt động
ra những thông tin XTĐT tập trung cao để hướng vào các công ty mà mình muốn vận
động.
Bước 3: Lập kế hoạch và thực hiện chiến dịch vận động đầu tư
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Vận động đầu tư có ba việc chính phải làm: xây dựng kế hoạch Marketing,
chuẩn bị thư để marketing trực tiếp và thuyết trình tại công ty.
Xây dựng kế hoạch marketing: cơ quan XTĐT phải quyết định những vấn đề
trọng tâm của cuộc vận động như địa bàn và lĩnh vực; xác định mục tiêu của cuộc
vận động và đặt mục tiêu thật sát thực con số các công ty sẽ liên hệ.
Thư Marketing trực tiếp nên ngắn gọn và đầy đủ các phần sau: mở đầu, phần
lôi cuốn, phần những lợi ích, phần mời chào và kêu gọi hành động.
Một bài thuyết trình tại công ty được chuẩn bị kỹ phải có tính tập trung cao,
có sử dụng các thiết bị bổ trợ, đoán trước và trả lời được bất kỳ vấn đề gì mà nhà đầu
tư có thể đưa ra.
Bước 4: Các hoạt động tiếp theo chuyến tham quan công ty
Các báo cáo về chuyến tham quan công ty được chuẩn bị ngay lập tức sau mỗi
lần tới thăm công ty. Những thông tin trong báo cáo này đặt nền móng cho các hoạt
động hỗ trợ nhà đầu tư triển khai dự án thành công, trong đó gồm có cả chuyến tham
quan thực địa.
1.4.5. Cung cấp dịch vụ và hỗ trợ cho các nhà đầu tư
Đây là giai đoạn theo dõi và chăm sóc sau cấp phép đầu tư, thực chất là
CQXTĐT sẽ hỗ trợ sau khi các nhà đầu tư nước ngoài quyết định triển khai dự án ở
nước sở tại như nắm bắt, hỗ trợ, tư vấn, tháo gỡ những vướng mắc của nhà đầu tư nước
ngoài trong quá trình thực hiện dự án. Giai đoạn này nhằm tạo ra những điều kiện thuận
lợi nhất để dự án đầu tư đi vào hoạt động một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Sau khi cơ quan XTĐT có bài thuyết trình trước một nhà đầu tư tiềm năng, cơ
quan XTĐT cần chuẩn bị một bản báo cáo về chuyến thăm doanh nghiệp để tạo cơ sở
cho việc hỗ trợ các nhà đầu tư thành công.
Hỗ trợ nhà đầu tư bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị cho việc đi thực địa, chuẩn
bị và thu xếp cho chuyến đi đó và các công việc sau chuyến thăm.
các hoạt động xây dựng hình ảnh, nhận thức; các hoạt động định mục tiêu đầu tư và
vận động nhà đầu tư; các hoạt động phục vụ nhà đầu tư; hoạt động mở rộng và duy
trì đầu tư; và các chi phí khác của CQXTĐT.
Bước 3: Giám sát và đo lường tình hình đầu tư thực tế
Đánh giá cuối cùng về kết quả hoạt động của CQXTĐT là số lượng đầu tư gia
tăng và tái đầu tư mà CQXTĐT thu hút được hay thông tin về tình hình rút lui đầu tư.
Thông tin này có thể thu thập bằng cách ghi lại các số liệu liên quan đến các khoản
đầu tư của khách hàng CQXTĐT, hoặc các khoản đầu tư trong khu vực.
Bước 4: Xây dựng tiêu chuẩn so sánh kết quả đầu tư
Điều này sẽ giúp CQXTĐT so sánh hiệu quả hoạt động của mình hoặc ghi nhận
tổng thể số vốn đầu tư mà địa điểm đó thu hút được so với những khu vực khác.
Một chương trình XTĐT phải kết hợp tất cả các nội dung nói trên sao cho phù
hợp với yêu cầu mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng như tiềm năng, thế mạnh của
từng địa phương, từng quốc gia.
1.5. Các công cụ chính của hoạt động xúc tiến đầu tư
Cơ quan XTĐT thường xúc tiến đồng thời nhiều hoạt động Marketing hay sử
dụng nhiều công cụ XTĐT cùng một lúc. Ba yếu tố mà hoạt động XTĐT hướng tới
là: Thứ nhất, xây dựng hình ảnh, tức là, giới thiệu tới các nhà đầu tư trong và ngoài
nước về những chính sách ưu đãi đầu tư, các quy trình, các thủ tục cấp giấy phép đầu
tư cùng các tiến bộ và thành tựu đạt được. Thứ hai, triển khai kế hoạch (bao gồm cả
xây dựng hình ảnh và vận động đầu tư xen lẫn nhau), tức là, sử dụng các chiến dịch
gửi thư và gọi điện, hôi thảo, tham tán đầu tư và tiếp cận trực tiếp nhà đầu tư. Thứ
ba, hoạt động và dịch vụ hỗ trợ đầu tư, tức là, bao gồm các dịch vụ hỗ trợ liên tục từ
trước khi nhận giấy phép, cấp giấy phép và sau cấp phép. Các hoạt động này có thể là
bước đầu xây dựng hình ảnh hoặc khởi đầu vận động đầu tư. Việc xây dựng hình ảnh
và vận động đầu tư sử dụng rất nhiều công cụ như:
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.5.1. Quan hệ cộng đồng
Quan hệ cộng đồng của cơ quan XTĐT là việc cơ quan XTĐT chủ động quản
lý các quan hệ giao tiếp cộng đồng để tạo dựng giữ gìn một hình ảnh tích cực và nâng
cho hoạt động XTĐT hạn hẹp, hãy bỏ tập trung kêu gọi các nhà báo giỏi tại các
phương tiện thông tin đại chúng mà CQXTĐT muốn đăng tin tới thăm đất nước
CQXTĐT để đưa tin cải thiện hình ảnh đất nước.
1.5.2. Quảng cáo
Quảng cáo là hình thức mà CQXTĐT tuyên truyền, đưa ra thông tin, thông
điệp mời gọi và phản ánh chiến lược mình muốn vận động. Quảng cáo có thể làm
LuËn v¨n tèt nghiÖp
nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, giá thành rất đắt và phải quảng cáo nhiều lần mới
đạt hiệu quả.
Bảng 1.2: Ưu nhược điểm của công cụ quảng cáo
Mục tiêu Ưu điểm Nhược điểm
Xây
dựng hình
ảnh.
Thể hiện được
CQXTĐT thích cái gì,
chỗ nào và lúc nào. Có
thể làm nhiều người
quan tâm.
Thường thiếu độ tin cậy, tốn nhiều thời gian,
sẽ không có hiệu quả nếu số lần quảng cáo
không vượt khỏi mức tối thiểu để tạo nên nhận
thức hay được ghi nhớ, khó nhận ra giữa hàng
đống quảng cáo khác nhau.
Phương hướng hành động: Tập trung đưa ra các quảng cáo ngắn gọn và cô
đọng một thông điệp mời gọi và phản ánh được chiến lược mình muốn vận động.
1.5.3. Tham gia triển lãm
Tham gia triển lãm là hoạt động nhằm chủ động tìm kiếm nhà đầu tư bằng
cách tiếp xúc với những doanh nghiêp khác tham gia triển lãm. Tuy nhiên, khó ước
tính chi phí và tuỳ thuộc vào tính chất và quy mô của triển lãm. Các CQXTĐT mạnh
cho người tham gia triển lãm. Sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu của CQXTĐT và
gửi thư trước cho cả các công ty mình muốn vận động mà không có gian hàng tham
dự triển lãm, nhưng nhân viên của công ty nhất định sẽ đến thăm triển lãm.
1.5.4. Tổ chức tham gia vận động đầu tư
Tham gia vận động đầu tư là hoạt động nhằm chủ động tìm kiếm nhà đầu tư
bằng cách tiếp xúc trực tiếp với các công ty thông qua việc cử các phái đoàn đi ra
nước ngoài đối với đoàn từ nước tiếp nhận đầu tư sang nước đi đầu tư, hoặc là hoạt
động mà đoàn từ nước nhận đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư nhằm chủ động tìm
kiếm địa điểm đầu tư.
Các đoàn vận động có thể thoả mãn nhu cầu của cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn
các doanh nghiệp địa phương. Đoàn từ nước đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư
thường gồm các công ty có tiềm năng thực sự vì họ chỉ tham gia đoàn khi họ có quan
tâm thực sự tới việc kinh doanh trong khu vực họ tới tham quan.
Bảng 1.4: Ưu nhược điểm của công cụ tham gia vận động đầu tư
Mục tiêu Ưu điểm Nhược điểm
Tuỳ thuộc vào cách
thức tổ chức mỗi đoàn.
Đoàn vận động chung chắc
chắn đó là xây dựng hình
ảnh. Ngược lại, đoàn về
một lĩnh vực cụ thể là đoàn
vận động đầu tư.
Đáp ứng
được nhu cầu
của cả nhà đầu
tư nước ngoài
lẫn các doanh
nghiệp địa
phương.
Một đoàn vận động chung chung,
chung sẽ hữu ích cho việc xây
dựng hình ảnh.
Tạo cơ hội tốt để
thiết lập các quan hệ
với một công ty triển
vọng và chuyển từ giai
đoạn xây dựng hình ảnh
sang giai đoạn tạo ra cơ
hội đầu tư.
Cần cố gắng đảm bảo
chất lượng khách mời
tham dự, điều này sẽ giúp
CQXTĐT đạt kết quả tích
cực trong công tác liên lạc
sau này.
Phương hướng hành động: Xác định một hoặc một vài đối tác chiến lược
mạnh và bắt tay vào xây dựng kế hoạch ít nhất 6 tháng trước khi tổ chức. Đặc biệt
quan tâm đến việc đảm bảo đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Có sự tham
dự của Lãnh đạo cấp cao.
1.5.6. Sử dụng hệ thống Internet và thư điện tử
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Internet là mạng toàn cầu, liên kết hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua
cơ sở hạ tầng viễn thông. Internet là một phương tiện cho phép tất cả mọi người trên
thế giới có thể truy nhập.
Thông thường nội dung thư được viết trên giấy và chuyển đi bằng đường bưu
điện. Tuy nhiên, thư điện tử được lưu dưới dạng các tệp văn bản trong máy vi tính và
được chuyển đi qua đường Internet.
Như vậy, Internet là một cơ hội tuyệt vời đối với những CQXTĐT mới thành
lập để vượt qua đối thủ cạnh tranh của mình. Website sẽ trở thành công cụ Marketing
hiệu quả khi Website đó để truy cập, có nội dung thông tin chất lượng cao và có tác
1.5.7. Sử dụng thư trực tiếp
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Sử dụng thư trực tiếp trong hoạt động XTĐT là việc CQXTĐT viết thư trực
tiếp đến từng công ty.
Yếu tố chủ yếu dẫn đến sự thành công là chất lượng của của cơ sở dữ liệu tốt,
thống nhất chặt chẽ tới mục tiêu chiến lược của cơ quan XTĐT.
Bảng 1.7: Ưu nhược điểm của công cụ sử dụng thư trực tiếp
Mục tiêu Ưu điểm Nhược điểm
Vận động
đầu tư
Rất tốt cho việc thiết lập và duy trì cuộc
đối thoại giữa CQXTĐT và các nhà đầu tư
tiềm năng. Có thể vận động một cách có lựa
chọn các đối tượng cụ thể.
Tiếp cận mang tính cá nhân cao. Rất tiết
kiệm.
Cho phép CQXTĐT từng bước đánh giá
tính hiệu quả của chiến dịch vận động.
Việc tập trung gửi thư
vận động chỉ có kết quả tốt
khi có một cơ sở dữ liệu tốt.
Thông tin cơ sở dữ liệu
nhanh bị lạc hậu
Chiến dịch marketing
trực tiếp phụ thuộc càng
nhiều vào telemarketing.
Phương hướng hành động: Đầu tư vào một cơ sở dữ liệu marketing chất
lượng cao và được cập nhật. Đặt mục tiêu mỗi tháng một cán bộ ở bộ phận marketing
phải viết thư cho một số lượng doanh nghiệp.
Thư Marketing trực tiếp nên báo cho khách hàng chờ đợi cuộc liên hệ điện
trình nên động viên việc tham quan này và giải thích về những gì CQXTĐT có thể hỗ
trợ nhà đầu tư để lập kế hoạch và thực hiện chuyến tham quan như vậy.
1.6.4.Thăm thực địa
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Khi nhà đầu tư hoặc một nhóm du khách tới thăm địa bàn CQXTĐT cần thu
hút đầu tư thì đây thực sự là cơ hội marketing quan trọng cho CQXTĐT. Trong phần
lớn các trường hợp, những thông tin thu được trong chuyến đi thăm thực địa và
những yêu cầu cung cấp thông tin sau chuyến tham quan sẽ là cơ hội cuối cùng của
CQXTĐT để gây ảnh hưởng tới quyết định đầu tư.
1.6.5. Những hoạt động sau chuyến thăm quan
Điều quan trọng là phải tiếp tục chuyến tham quan, cung cấp tiếp thông tin
như đã hứa và kiểm tra xem nhà đầu tư còn cần gì nữa không. Đây cũng là giai
đoạn bắt đầu các cuộc đàm phán chi tiết với nhà đầu tư nếu họ thực sự quan tâm
tới nước bạn.
1.6.6. Quyết định đầu tư
Việc quyết định đầu tư là dấu hiệu kết thúc giai đoạn vận động đầu tư – công
ty đã bị thuyết phục xây dựng nhà máy trong nước bạn. Dầu sao, công việc của
CQXTĐT không phải đã hoàn toàn xong ở đây. Vẫn còn những công việc đáng kể
cần phải làm để chắc chắn rằng việc đầu tư được triển khai có kết quả và hiệu quả.
Rất nhiều dự án đầu tư đã bị huỷ ngay cả sau khi quyết định đầu tư, vì nhà đầu tư gặp
phải khó khăn của khu vực đầu tư liên quan đến việc xây dựng công trình, thuê mướn
công nhân, cung cấp điện nước,… Điều quan trọng là CQXTĐT phải luôn theo sát
quá trình này để giúp đỡ khi cần thiết.
1.6.7. Hỗ trợ nhà đầu triển khai
Một lỗi bất cẩn phổ biến với các CQXTĐT thường gặp là dừng mọi việc ngay
sau khi nhà đầu tư đã quyết định đầu tư. Theo số liệu thống kê của một số nước, có
tới 60% dòng FDI vào một nước là do mở rộng và tái đầu tư. Do vậy cần phải giữ
liên hệ thường xuyên với các nhà đầu tư để đảm bảo mọi nhu cầu của họ được giải
quyết. Cho dù một công ty không định mở rộng đầu tư thì việc làm đó cũng là công
cụ hữu hiệu nhất để thu hút đầu tư mới. Như đã đề cập ở trên, quy trình dự án không