Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP BIDV CHI NHÁNH HÀ TÂY 2
1.1.3 Các hình thức huy động vốn của NH TMCP BIDV Hà Tây 5
1.3.1.2 Chính sách lãi suất và tín dụng của ngân hàng 11
1.3.1.3 Hình thức huy động vốn 11
1.3.1.4 Uy tín, vị thế của ngân hàng 11
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN
HÀNG TMCP BIDV CHI NHÁNH HÀ TÂY 15
2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP BIDV chi nhánh Hà Tây 15
2.1.1Lịch sử hình thành,chức năng nhiệm vụ của ngân hàng BIDV chi nhánh Hà Tây. .15
2.6 Các biện pháp BIDV Hà Tây đã đề ra nhằm nâng cao chất lượng huy động vốn 33
Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý 33
2.7 Đánh giá chất lượng nghiệp vụ huy động vốn tại BIDV Hà Tây 34
2.7.1 Những kết quả đạt được 34
PHẦN III 39
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP BIDV CHI NHÁNH HÀ TÂY 39
3.1. Định hướng hoạt động nghiệp vụ huy động vốn của BIDV Hà Tây 39
3.1.3Dự báo các yếu tố tác động tới nghiệp vụ huy động vốn trong thời gian tới 40
3.3Kiến nghị 50
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng BIDV 50
3.3.2Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 51
KẾT LUẬN 53
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP BIDV CHI NHÁNH HÀ TÂY
1.1. Hoạt động nghiệp vụ huy động vốn tại ngân hàng BIDV Hà Tây
1.1.1. Khái niệm hoạt động nghiệp vụ huy động vốn và các hình thức huy động
vốn tại BIDV Hà Tây
1.1.1.1. Khái niệm hoạt động nghiệp vụ huy động vốn
Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời, nhàn rỗi từ các cá
nhân và tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau để tạo nên nguồn vốn hoạt động của
ngân hàng.
1.1.1.2. Chức năng của BIDV chi nhánh Hà Tây
- Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, HTM đóng vai
trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này,
ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho
vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay
và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
- Chức năng trung gian tài chính
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức
năng trung gian tín dụng, ngân hàng là “cầu nối ” giữa cung và cầu vốn trong nền kinh
tế, khơi nguồn vốn từ những người có vốn nhàn rỗi sang những người có nhu cầu về
vốn.
Như vậy, Ngân hàng Thương mại vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
- Chức năng trung gian thanh toán
NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các
thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng
tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho
Dòng tiền này của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cá nhân gửi vào ngân
hàng thương mại với mục địch hưởng lãi. Người gửi tiền chỉ được lĩnh tiền sau một
thời hạn nhất định từ một vài tháng đến một vài năm. Tuy nhiên, do những lý do khác
nhau, người gửi tiền có thể được rút trước thời hạn, trường hợp này người gửi iền
không được hưởng lãi, hoặc được hưởng lãi theo lãi suất thấp tùy theo quy định của
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 3 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
mỗi ngân hàng. Trường hợp đến hạn rút tiền nhưng khách hàng không đến rút tiền thì
coi như gửi tiếp kỳ hạn mới.
Tiền gửi tiết kiệm:
Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác
nhận trên thẻ tiết kiệm và được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút ra theo yêu cầu mà không cần
báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Đối với khách hàng khi chọn hình thức tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì mục
tiêu an toàn tiện lợi quan trọng hơn mục tiêu sinh lời. Đối với ngân hàng, vì loại tiền
này khách hàng muốn rút ra bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo
tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy ngân
hàng thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi
tiền nhất định theo thoải thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Mục tiêu quan trọng của khách hàng khi chọn hình thức này là lợi nhuận có
được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quạn trọng để thu hút được đối tượng
khách hàng này. Dĩ nhiên, lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn lãi
suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Mức lãi suất còn thay đổi theo kỳ hạn gửi (3, 6, 9
ngân hàng thanh toán hộ cho các đối tác của họ bất kì lúc nào, tuy nhên nguồn này lại
có chi phí nhỏ do chủ tài khoản không quan tâm đến lãi suất mà chủ yếu là quan tâm
đến mục đích thanh toán của khoản tiền. Nguồn này ngoài việc có chi phí thấp nó còn
đem lại lợi nhuận bền vững cho ngân hàng thông qua các khoản phí dịch vụ chuyển
tiền.
- Huy động vốn thông qua tiền gửi có kỳ hạn
Đây là nguồn quan trọng của chi nhánh luôn được quan tâm hàng đầu bởi
những đặc tính của nó, đặc điểm của những khoản tiền này là có quy mô lớn và có
thời hạn nhưng thời hạn thường ngắn vì chủ yếu mục đích của nó là để thanh toán
hoặc giao dịch. Đây là khoản tiền gửi của các doanh nghiệp khi họ chưa sử dụng đến,
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 5 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
hoặc thời hạn sử dụng khoản tiền đó còn lâu nên chủ tài khoản muốn gửi có thời hạn
để hưởng mức lãi cao hơn.
- Huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm
Đây là nguồn khá bền vững cho ngân hàng, bởi khoản tiền gửi là của khách
hàng cá nhân, họ muốn gửi vào ngân hàng để đảm bảo an toàn và sinh lời. Nguồn tiền
này có thời gian đáo hạn dài, đảm bảo được nguồn vốn hoạt động bền vững cho ngân
hàng. Chi nhánh cũng luôn quan tâm đến nguồn gửi này và luôn cố gắng tạo ra những
điều kiện và sản phẩm tốt nhất nhằm đáp ứng yêu cầu, sự hài lòng của khách hàng.
- Huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá
Ngân hàng hiện nay đang phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, chứng chỉ
tiền gửi, trái phiếu,…. Đặc biệt nguồn trung và dài hạn của ngân hàng chủ yếu được
hình thành qua việc phát hành trái phiếu, các giấy tờ có giá loại kì hạn trên 1 năm.
Trong khi đó ngân hàng có nhiều dự án có thời hạn dài và có quy mô lớn đòi hỏi
nguồn vốn trung và dài hạn rất lớn nhưng nguồn huy động từ các hình thức khác
không đủ sử dụng cho các dự án đó nên việc huy động bằng việc phát hành các giấy tờ
có giá khác là cần thiết và đáp ứng nhu cầu vốn cho ngân hàng.
1.3.1 Chất lượng huy động vốn tại ngân hàng TMCP BIDV Hà Tây
việc marketing, trích khấu hao máy móc, thiết bị sử dụng trong quá trình giao
dịch,thậm chí trả lương cho bảo vệ phụ trách trông xe cho khách hàng…
Một ngân hàng huy động vốn đạt hiệu quả cao xét trên khía cạnh chi phí huy
động khi nó đảm bảo được những yêu cầu sau:
Ngân hàng huy động đáp ứng đầy đủ được nhanh chóng những yêu cầu về vốn
cũng như nhu cầu thanh toán của khách hàng với mức chi phí huy động thấp nhất có
thể. Nguồn vốn huy động của ngân hàng có tính ổ định cao nhưng vẫn đảm bảo được
khả năng sinh lời trong quá trình sử dụng vốn.
Ngân hàng có thể gia tăng lợi nhuận mà không phải chịu rủi ro cao do sức ép
chi phí vốn. Ngoài ra, các ngân hàng thường đánh giá chi phí huy động vốn qua chỉ
tiêu chi phí trả lãi bình quân gia quyền:
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền mà ngân hàng phải bỏ ra cho 1 đồng vốn huy
động được.
- Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao, người vay lại muốn lãi suất thấp. Là trung gian
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 7 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
đóng vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, ngân hàng phải tìm cách điều chỉnh mức
lãi suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên, trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo
lợi ích của ngân hàng. Vì vậy trong huy động vốn, mỗi ngân hàng đều cố gắng áp
dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy
động vốn bình quân là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để cho vay với một mức lãi suất
chấp nhận được trên thị trường.
Mặt khác, cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân, sự đa dạng hoá trong lãi
suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết, Sự đa dạng hoá lãi suất
làm cho tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra. Nếu có chính
sách lãi suất phù hợp, hiệu quả, ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn
hoàn thanh kế hoạch về nguồn vốn.
hình thức huy động đa dạng về kỳ hạn, loại tiền. Nếu những ngân hàng có quan hệ
quốc tế rộng thì nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ phải lớn, hay nếu có chiến lược sử
dụng vốn để cho vay dài hạn thì cần tăng cường huy động vốn trung và dài hạn.
- Tính ổn định của nguồn vốn:
Tính ổn định ở đây bao gồm ổn định về khối lượng, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu
nguồn.
Công tác huy động vốn không thể có hiệu quả khi mà nguồn vốn huy động
được lại không đạt được quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng hay
không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh; cơ cấu vốn của ngân
hàng lại không có sự hợp lý giữa các nguồn vốn huy động ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn, giữa vốn ngoại tệ và vốn nội tệ. Đối với ngân hàng, do mỗi nguồn vốn có những
điểm mạnh, điểm yếu riêng trong việc khai thác và huy động nên cơ cấu vốn biến đổi
sẽ dẫn tới sự biến đổi trong cơ cấu “đầu ra”: cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo sự
thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Cơ cấu nguồn vốn huy
động phụ thuộc không chỉ vào một phần kế hoạch của ngân hàng mà còn chịu sự tác
động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu tiếp
cận thị trường.
- Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu chính trên, chất lượng công tác huy động vốn còn được đánh
giá qua một số chỉ tiêu:
Mức độ hoạt động của vốn huy động: Được đánh giá qua chỉ tiêu hệ số sử dụng
vốn . Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến 1 càng tốt, điều này thể hiện nguồn vốn huy
động được sử dụng tối đa.
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 9 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
Mức độ thuận tiện khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút
tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng …nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí
cho khách hàng.
Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định.
động vốn và sử dụng vốn.
Mặt khác, trong chiến lược kinh doanh của mình, ngân hàng cần phải đặc biệt
chú trọng vào chi phí vốn, mà ngân hàng phải chịu trong khâu huy động. Phải tìm
kiếm nguồn vốn rẻ, thời hạn dài thông qua việc lựa chọn các hình thức huy động
khách nhau. Có như vậy ngân hàng mới chủ động trong tìm kiếm và sử dụng vốn.
Đây thật sự là thách thức không nhỏ cho các NHTM trong nước, vì hoạt động
của các NHTM trong nước vẫn chỉ xoay quanh các dịch vụ truyền thống còn các dịch
vụ ngân hàng hiện đại thì rất ít ngân hàng có thể thực hiện. Điều này có tác động
mạnh mẽ đến việc xây dựng sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung ứng ra thị trường, bởi
lẽ, dịch vụ ngân hàng là cơ sở của thương hiệu của các NHTM. Vấn đề cốt lõi trong
việc giữ gìn và phát triển thương hiệu bền vững là phải kết hợp hoàn hảo giữa chiến
lược thương hiệu với chiến lược xây dựng và thực thi sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Do vậy, các NHTM cần nhìn nhận tiềm lực thực tế của ngân hàng mình để xác định
danh mục các sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ cung ứng ra thị trường.
1.3.1.2 Chính sách lãi suất và tín dụng của ngân hàng
Lãi suất được coi là giá cả của các khoản vốn mà ngân hàng huy động và các
khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng. Mức lãi suất thường được quyết
định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Nhưng không phải lúc nào các ngân hàng
cũng huy động theo lãi suất thị trường. Đôi khi, họ thường sử dụng lãi suất như một
công cụ quan trọng trong việc thay đổi quy mô và cơ cấu nguồn vốn.
1.3.1.3 Hình thức huy động vốn
Hình thức huy động vốn là các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng nhằm chiếm dụng tạm thời những khoản vốn của họ. Chẳng hạn khi ngân
hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ thanh toán bằng thẻ hoặc sec, khách hàng sẽ
phải mở một tài khoản tại ngân hàng và gửi tiền vào đó. Hoạt động ngân hàng càn
phát triển thì càng suất hiện nhiều hình thức huy động vốn.
1.3.1.4 Uy tín, vị thế của ngân hàng
Trong quá trình hoạt động, để thu hút được những khách hàng trung thành với
mình, các ngân hàng cần phải thiết lập hình ảnh của mình trên thị trường. Uy tín, vị
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 11 Lớp:
Cùng với việc đổi mới hoạt động ngân hàng, các ngân hang thương mại ngày
càng chú trọng tới việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân
hàng, đặc biệt là khâu thanh toán. Nhờ đó làm cho vốn luôn chuyển nhanh, thuận tiện,
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 12 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
đảm bảo an toàn cho khách hàng trong việc gửi tiền, rút tiền, và vay vốn. Nếu thực
hiện tốt khâu này thì sẽ hạn chế được việc lưu thông bằng tiền mặt vừa không hiệu
quả vừa không an toàn. Ngoài ra nếu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên thì
ngân hàng sẽ thu hút được càng nhiều các khoản tiền nhàn rỗi trong nên kinh tế vào hệ
thống ngân hàng, và góp phần làm giảm chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm…
Ngân hàng phải tiếp tục trang bị những công nghện hiện đại, nhất là khâu thanh
toán. Mặt khác ngân hàng cần nghiên cứu để đưa ra các hình thức huy động vốn phù
hợp. Từ đó tạo cho khâu thanh toán luân chuyển vốn nhanh và thuận tiện cho công tác
kiểm soát.
1.3.2 Các nhân tố từ phía khách hàng
1.3.2.1 Thói quen và tâm lý khách hàng
Yếu tố tiết kiệm của dân cư lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốt như thu nhập
của dân cư, thói quen chi tiêu bằng tiền mặt và đặc biệt là sự ổn định của nền kinh tế.
Nếu nền kinh tế mất ổn định giá trị đồng tiền luôn biến động thì xu hướng chung của
dân cư sẽ đổi đồng tiền bản tệ ra các đồng tiền mạnh (Ngoại tệ) hay cất trữ vàng bạc,
mua bất động sản là những tài sản có tính ổn định cao hơn. Ngoài ra việc phân bố
dân cư ở các vùng lãnh thổ khách nhau thì yếu tố tâm lý, văn hóa và lối sống cũng
khách nhau. Do đó, ngân hàng phải nắm bắt được yếu tố tâm lý của dân, từ đó đưa ra
các hình thức huy động vốn phù hợp.
1.3.2.2 Nhận thức của dân chúng
Thương hiệu giúp doanh nghiệp duy trì lượng khách hàng truyền thống, đồng
thời, thu hút thêm các khách hàng mới, các khách hàng tiềm năng. Thực tế cho thấy,
người tiêu dùng thường bị lôi kéo, chinh phục bởi những hàng hoá có thương hiệu nổi
tiếng, ưa chuộng và ổn định. Những doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng lâu đời sẽ
tranh và hòa nhập được với nền tài chính thế giới. Cạnh tranh cũng là động lực giúp
ngân hàng khảng định vị thế của mình trong vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát
triển dịch vụ trong tương lai.
- Tình trạng Đô la hóa:
Với tình trạng Đô la hóa cao như việt nam thì việc huy động vốn từ người dân
gặp nhiều khó khăn. Do người dân lo sợ sự mất giá của nội tệ, ưa chuộng cất trữ ngoại
tệ nên các NHTM sẽ khó mà huy động nguồn vốn bằng nội tệ. Chính sách khách
hàng, các dịch vụ ngân hàng, Trong đó các dịch vụ huy động vốn như: Tư vấn, chiết
khấu, kèm theo nghiệp vụ huy động vốn có vai trò hỗ trợ quan trọng. Qua đó nhằm
tạo ra những tiện ích hấp dẫn khách hàng và có thể tăng sức cạnh tranh trong công tác
huy động vốn của NHTM.
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 14 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
PHẦN II
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP BIDV CHI NHÁNH HÀ TÂY
2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP BIDV chi nhánh Hà Tây
2.1.1 Lịch sử hình thành,chức năng nhiệm vụ của ngân hàng BIDV chi nhánh
Hà Tây
- Lịch sử hình thành NH TMCP BIDV
Ngân hàng TM Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam được chính thức thành
lập ngày 26/04/1957, theo quyết định 177/TTg của thủ tướng chính phủ với tên gọi
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam.
- Từ 1981 đến 1989: Mang tên Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam
- Từ 1990 đến 27/04/2012: Mang tên Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV)
- Từ 27/04/2012 đến nay: Chính thức trở thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam (BIDV).
Danh hiệu mà BIBV đạt được gần đây nhất là:
tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, có quền tự chủ kinh doanh theo cấp và chịu sự rằng
buộc về nghĩa vụ và quền lợi đối với Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam. Do đó sự
hình thành và phát triên cũng như chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP ĐT&PT
chi nhánh Hà Tây không tách rời với sự đi lên và phát triển của hệ thống Ngân hàng
TMCP ĐT&PT Việt nam.
Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam chi nhánh Hà Tây lấy phương châm hoạt
động “ Hiệu quả kinh doanh của khách hàng là phương châm hoạt động của
chúng tôi”
Sự phát triển và đóng góp của BIDV Hà Tây, nhất là trong những năm gần đây
đã được ghi nhận bằng huân chương lao động hạng 3 ( 1995- 1999) và huân chương
lao động hạng nhì (1999-2004) do nhà nước trao tặng và nhiều bằng khen của đảng và
nhà nước, cán bộ , ngành, của tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tây (cũ). Căn cứ kết quả thực
hiện phấn đấu các năm liên tục, đặc biệt giai đoạn 2006-2008, chi nhánh đã được các
cấp và liên bộ xét duyệt nâng hạng chi nhánh lên doanh nghiệp hạng Nhất từ
01/01/2009.
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 16 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
- Chức năng nhiệm vụ của NH TMCP BIDV chi nhánh Hà Tây
Hiện nay với tư cách là một Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam,
BIDV Hà Tây thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đa dạng, phục vụ chủ yếu lĩnh vực
đầu tư và phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trong hoạt động kinh
doanh, BIDV Hà Tây luôn bám sát 04 định hướng lớn của ngành cũng như tư tưởng
và chỉ đạo của ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam. Đồng thời cũng
hình thành và đúc rút 04 giá trị cốt lõi.
“Hướng đến khách hàng – Đổi mới phát phát triển – Chuyên nghiệp sáng
tạo – Trách nhiệm xã hội ”
Trong quá trình xây dựng và phát triển BIDV Hà Tây đã không ngừng hoàn
thiện các dịch vụ của ngân hàng nhằm thu hút tối đa và thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng dựa trên cơ sở là các hoạt động chính như sau.
Từ tháng 10 năm 2008,chi nhánh đã chuyển đổi cơ cấu tổ chức theo chủ trương
của Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam, phòng ban được chia thành 05 khối được
thể hiện qua sơ đồ.
Sơ đồ 1. Sơ đồ bộ máy tổ chức của BIDV Hà Tây
2.2 Kết quả huy động vốn của BIDV Hà Tây
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 18 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển, môi
trường cạnh tranh giữa các ngân hàng tăng lên, việc huy động vốn từ đó cũng gặp phải
những khó khăn nhật định như:
Chích sách tỷ giá luôn thay đổi không ổn định.
Cạnh tranh giữa các TCTD và các NHTM khác trên địa bàn.
Trình độ cán bộ chưa theo kịp thay đổi của nền kinh tế.
Dịch vụ NH chưa đáp ứng được những nhu cầu đa dạng của người dân.
2.2.1 Về huy động vốn
- Thuận lợi
Ngân hàng nằm trên địa bàn có lượng dân cư đông đúc, kinh tế đang dịch
chuyển sang địa bàn mà ngân hàng hoạt động.
Ngân hàng luôn nhận được sự chỉ đạo kịp thời từ phía NHTW và NHTM CP
BIDV.
Đội ngũ cán bộ nhiệt tình và có trình độ chuyên môn.
Uy tín thương hiệu lâu năm.
- Khó khăn
Nền kinh tế chưa có bước định hướng rõ rệt, tâm lý dự trữ vang còn phổ biến,
lãi suất điều chỉnh liên tục gây ra tâm lý bất ổn cho khách hàng…vv.
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn
Năm 2010, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế những năm trước nên
công các huy động vốn còn gặp khó khăn chưa thể hoàn thành được kế hoạch đề ra.
Nhưng sang năm 2011 và 2012, chi nhánh đã hoàn thành xuất xắc kế hoạch đề ra, thể
gặp một số khó khăn, do tăng trưởng nóng và ảnh hưởng mạnh bởi sự suy thoái kinh
tế và đóng băng Bất Động Sản. Hoạt động tín dụng của BIDV Hà Tây cũng không
nằm ngoài sự ảnh hưởng này. Hoạt động tín dụng của chi nhánh mặc dù có những khó
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 20 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
khăn nhất định do nhều cơ chế chính sách và sự thay đổi từng bước cho phù hợp với
thông lệ quốc tế và WTO.
Nhưng với phương châm ‘chất lượng – tăng trưởng bền vững – hiệu quả, an
toàn’, chi nhánh đã tập trung được trí tuệ của tập thể, bám sát chỉ đạo của trung ương,
để hoàn thành tốt kế hoạch được giao. Điều đó được thể hiện qua bảng tình hình sử
dụng vốn sau:
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng vốn BIDV Hà Tây
(Đơng vị: Tỷ đồng)
Năm
Chỉ tiêu
2010 2011 2012
So Sánh
2011/2010
So Sánh
2012/2011
+/- % +/- %
Chỉ tiêu quy mô
Dư nợ tín dụng cuối kỳ 2014 2377 3063 363 18.02 686 28.86
Huy động vốn cuôi kỳ 3008 3372 4332 364 12.13 960 28.47
Chỉ tiêu cơ cấu
Ngắn hạn 1260 1609 2144 349 27.7 535 33.25
Trung, dài hạn 754 768 919 14 1.86 151 19.66
Tỷ trọng DNTDH/TDN 37% 35% 30% -0.02 - -0.05 -
Tỷ trọngDN bán lẻ/TDN 16% 17% 14% 0.01 - -0.03 -
Thu dịch vụ ròng 34 39,5 37
Tỷ trọng
Dịch vụ bảo lãnh 60% 65% 60%
Dịch vụ thanh toán và tài trợ thương mại 27,5% 20% 20%
Kinh doanh ngoại tệ 3,5% 5% 9%
Dịch vụ thẻ, các dịch vụ khác 9% 10% 11%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2010-2012)
Theo bảng số liệu báo cáo kết quả tổng kết hoạt động kinh doanh của BIDV Hà
Tây năm 2010-2012 ta thấy: Hoạt động dịch vụ của BIDV Hà Tây có những bươc
phát triển tốt. Tốc độ thu từ dịch vụ luôn vượt chỉ tiêu được giao. Năm 2010 là 34 tỷ.
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 22 Lớp:
K3NH
Trường Đại học Thành Tây Khoa: Kinh tế tài chính ngân hàng
Năm 2011 là 39,5 tỷ tăng 5,5 tỷ so với năm 2010. Năm 2012 là 37 tỷ, có phần giảm đi
một chút nhưng cũng phù hợp với sự biến động chung của hệ thống ngân hàng trong
năm. Khi mà sự sát nhập giữa các ngân hàng đang có su hướng tăng bơi sự làm ăn
thua lỗ và cho vay tín dụng quá nóng dẫn tới mất thanh khoản và khả năng thu hồi
vốn. Những kết quả mà BIDV Hà Tây đạt được là do nỗ lực của toàn chi nhánh trong
việc nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ.
- Khó khăn
Trong những năm gần đây tình hình kinh tế Việt Nam và thế giới gặp phải
những bất ổn mạnh mẽ. Chính sự bất ổn ấy đã ảnh hưởng trực tiếp tới công tác tín
dụng của ngân hàng. Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, BĐS đóng băng…vv
Chính sách thắt chặt tín dụng của nhà nước cũng đãn tác động mạnh tới hoạt
động cho vay của ngân hàng.
Ngoài những mối quan hệ chạt chẽ giữa nghiệp vụ mà ngân hàng cung cấp,
hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng còn chịu sự ảnh hưởng cua nhiều yếu tố cả bên
ngoài cũng như nội tại của ngân hàng. Để hoạt động sử dụng vố có hiệu quả ngân
hàng phải nâng cáo chất lượng tín dụng của mình, trình độ cán bộ tín dụng, công tác
nguồn vốn, kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế…vv.
khả năng huy động vốn của NHTM giảm.
2.3.2 Môi trường xã hội và môi trường tự nhiên
Mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa riêng, văn hóa chính là yếu tố tạo nên
bẳn sắc dân tộc như: tập quán, thói quen, tâm lý….Đối với ngân hàng hoạt động huy
động vốn là hoạt động chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường văn hóa. Cụ thể ở các
nước phát triển người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để hưởng những lợi ích
trong thanh toán, hưởng lãi và trong tiềm thức họ ngân hàng là một phần không thể
thiếu được, là một phần tất yếu của nền kinh tế.
Do vậy ngân hàng gặp không mấy kho khăn trong việc huy động vốn nhàn rỗi
trong dân cư và tổ chức kinh tế. Ngược lại ở những nước đang phát triển như Việt
Nam hiên nay vẫn chưa quen sử dụng dịch vụ ngân hàng. Mặt khác ngân hàng chưa
thực sự tạo được lòng tìn đối với người dân sau hàng loạt sự kiện xảy. Ngân hàng
chưa chú trọng đến công tác Marketing, tiếp thị, quản cáo…người dân còn thiếu hiểu
biết về chủ trương chính sách của nhà nước, hoạt động của ngân hàng vì vậy cho đến
nay vẫn còn tình trọng có tiền nhưng không muốn gửi vào ngân hàng vì không biết
phải làm những thủ tục nào, người dân ngại mất thời gian do thủ tục rườm rà…
Quy mô dân cư, chất lượng đời sống của người dân không chỉ là yếu tố ảnh
hưởng đến số lượng kết cấu các sản phẩm dịch vụ của NHTM mà nó còn là yếu tố rất
Sinh viên: Nguyễn Xuân Trường 24 Lớp:
K3NH