BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ " BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ " doc - Pdf 11




Cơ quan quản lý : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài : Th.S Trần Thị Quỳnh Như Hà Nội - 2012

www.khcnmt-bvhttdl.vn
MỤC LỤC

Trang
TRANG PHỤ BÌA
MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
A. MỞ ĐẦU 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu, 2
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu tài liệu và phân tích tài liệu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5. Cách tiếp cận đề tài, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 11
6. Ý nghĩa đề tài 12
7. Kết quả nghiên cứu 13
8. Nội dung nghiên cứu 15
B. NỘI DUNG 16
Chương 1: Những vấn đề khái quát về tranh sơn mài Việt Nam 17
1.1. Khái niệm về sơn mài, tranh sơn mài 17
1.1.1. Nguồn gốc xuất xứ 17
1.1.2. Những nền tảng cho sự hình thành tranh sơn mài 21

2.3. Đánh gia tranh sơn mài Việt Nam qua thông tin
trong nước và nước ngoài 133
2.3.1. Kết quả điều tra khảo sát xã hội học qua người dân đối với tranh sơn mài 133
2.3.2.Các thông tin trong nước, ngoài nước đánh giá tranh sơn mài Việt Nam 141
Chương 3: Xu hướng thẩm mỹ và sự phát triển của tranh
sơn mài Việt Nam trong bối cảnh văn hóa giao lưu, hội nhập 151
3.1. Khảo sát về cách thể hiện, phương pháp sáng tác xu hướng thẩm mỹ
www.khcnmt-bvhttdl.vn
qua các giai đoạn của tranh sơn mài Việt Nam tại một số triển lãm lớn 151
3.2. Tranh sơn mài đương đại Việt Nam tại một số triển lãm quốc tế gần đây 154
3.2.1. Tranh sơn mài Việt Nam trong cuộc thi và triển lãm Mỹ thuật ASEAN 154
3.2.2. Tranh sơn mài tại một số triển lãm quốc tế khác 158
3.3. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với việc lưu giữ, bảo quản, tu sửa,
phục chế tranh sơn mài 159
3.3.1. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với việc sưu tầm bảo quản tranh sơn mài 159
3.3.2. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với việc tu sửa phục chế tranh sơn mài 162
3.4. Đào tạo nghề làm tranh sơn mài và nghiên cứu khoa học cần thiết và khó khăn 163
3.5. Tranh sơn mài Việt Nam trong bối cảnh văn hóa giao lưu hội nhập
quốc tế và thời kỳ nghệ thuật hậu hiện đại 171
3.5.1. Xu hướng hiện đại và hậu hiện đại trong mỹ thuật 171
3.5.2. Tranh sơn mài truyền thống Việt Nam trong bối cảnh văn hóa giao lưu,
hội nhập quốc tế 174
3.6. Tranh sơn mài - Quốc họa Việt Nam 178
3.7. Các giải pháp đề xuất, kiến nghị để khôi phục, chấn hưng phát triển nghề sơn
ta cổ truyền, mỹ nghệ sơn mài đích thực, tranh sơn mài truyền thống Việt Nam 180
KẾT LUẬN 190
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
C. PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Vài nét về vùng nguyên liệu, cây sơn Việt Nam
Phụ lục 2: Các phường nghề, làng nghề sơn truyền thống nổi tiềng Việt Nam

22 Văn hóa, Thể thao và Du lịch VH, TT và DL
23 Khoa học xã hội KHXH
24 Nghiên cứu văn hóa NCVH
25 Dân chủ cộng hòa DCCH
26 Mỹ thuật Nhiếp ảnh MTNA
27 Trung tâm bảo quản tu sửa tác phẩm mỹ thuật TTBQTSTPMT
28 Trung tâm giám định tác phẩm mỹ thuật TTGĐTPMT
29 Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam BTMTVN
30 Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa CNHTXHCN
www.khcnmt-bvhttdl.vn
1

A. MỞ ĐẦU
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến mỹ thuật, hội họa Việt Nam, chúng ta tự hào về tranh sơn mài. Phải
khẳng định tranh sơn mài Việt Nam do người Việt Nam sáng tạo trên cơ sở nghệ thuật
truyền thống dân tộc kết hợp lý thuyết tạo hình Phương Đông - Phương Tây đã trở nên
một giá trị nghệ thuật đặc trưng của Việt Nam, tạo cho mỹ thuật Việt Nam một sắc
thái mới, bản sắc và tiên tiến hiện đại. Nghệ thuật sơn mài Việt Nam đã có sự phát
triển rất đáng tự hào trên cả lĩnh vực tạo hình và trang trí thủ công mỹ nghệ. Tranh sơn
mài Việt Nam với ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện độc đáo, quý giá là niềm tự hào của
giới mỹ thuật, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, góp sức đắt giá vào sự phong phú,
mới lạ của nghệ thuật tạo hình thế giới.
Nghiên cứu thực trạng tranh sơn mài Việt Nam một mặt giúp chúng ta nhìn thấy
những giá trị, phẩm chất quý giá của loại tranh độc đáo do tài năng của các nghệ sĩ
Việt Nam làm nên. Thể hiện trí thông minh, khả năng tìm tòi sáng tạo của nghệ nhân,
họa sĩ Việt Nam, đã làm nên kỳ tích, tạo nên tác phẩm nghệ thuật vô giá mang đậm
bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó chúng ta tìm thấy những tồn tại, những khiếm khuyết

và nghệ nhân Đinh Văn Thành đã mạnh dạn thử nghiệm đưa kỹ thuật sơn ta vào làm
tranh nghệ thuật. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất hiện từ đó [62, tr 130].
Để có cái nhìn khái quát về tranh sơn mài Việt Nam, trong đề tài này đề cập đến
tranh sơn cổ (sơn quang dầu), sơn mài thủ công mỹ nghệ, tranh sơn mài mỹ nghệ bên
canh tranh sơn mài tạo hình. Tranh sơn mài theo lối nói dân gian, thói quen của người
Việt Nam để chỉ chung loại tranh vẽ bằng sơn ta.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu xác định đặc trưng và tinh hoa nghệ thuật tranh sơn mài Việt Nam
(làm bật lên đặc trưng và tinh hoa, thấy được sự khác với tranh sơn mài nước ngoài)
Trên cơ sở tìm hiểu xuất xứ, chất liệu, kỹ thuật, nghệ thuật, sự phát triển, những
thành tựu… để tìm ra những đặc trưng và tinh hoa nghệ thuật của loại hình hội hoạ độc
đáo của Việt Nam - Tranh sơn mài (giới hạn vào mảng tranh mỹ nghệ và tranh tạo hình).
www.khcnmt-bvhttdl.vn
3

- Nêu phương hướng phát triển tranh sơn mài Việt Nam .
+ Trên cơ sở khảo sát thực trạng từ nghiên cứu nguồn nguyên vật liệu làm tranh
(cây sơn), thợ, nghệ nhân chế tác chất liệu, hoạ sĩ sáng tác tranh sơn mài Việt Nam.
+ Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của chất liệu, sự tìm tòi, thể nghiệm của
nghệ nhân, nghệ sĩ.
+ Trên cơ sở tìm hiểu tranh sơn mài Việt Nam trong bối cảnh văn hoá hiện nay:
giao lưu, hội nhập, văn hoá góp phần cho sự phát triển bền vững của Văn hoá - Xã hội
(trong đó còn là tiềm năng của Du lịch).
- Đề tài này giúp:
+ Thấy được vị trí vai trò của tranh sơn mài Việt Nam góp phần tôn vinh mỹ
thuật Việt Nam , văn hoá Việt Nam; góp phần làm phong phú văn hoá khu vực và thế
giới.
+ Góp phần là tài liệu dự báo về nhu cầu và hướng thẩm mỹ về tranh sơn mài của
xã hội trong và ngoài nước
+ Đề xuất sự phát triển tranh sơn mài Việt Nam không chỉ là vấn đề phát triển,

Lưu Bình Dương Lễ, Trương Chi, Thị Màu lên chùa, Súy Vân, các tích trong Tam
Quốc diễn nghĩa của Trung Quốc. Hiện nay đề tài tập trung miêu tả các sinh hoạt
thành thị, nông thôn Việt Nam ở các bức tranh sơn mài mỹ nghệ hình ảnh nhân vật
luôn gắn với khung cảnh thiên nhiên trữ tình, là hình ảnh gợi tả mang tính tượng trưng.
Kích cỡ tranh sơn mài mỹ nghệ khá phong phú từ cỡ nhỏ đến tấm lớn diện tích hàng
chục m
2
. Tranh sơn mài mỹ nghệ có tác dụng lớn trong đời sống dùng để trang trí
trong nhà, hội trường, công trình văn hóa trong nước cũng như xuất khẩu.
- Tranh sơn mài tạo hình
Từ nền tảng giá trị truyền thống của nghề sơn được tích lũy ở các nghệ nhân
nghề sơn, các họa sỹ Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã sáng tạo, dùng làm
chất liệu hội họa Việt Nam. Tranh sơn mài tạo hình Việt Nam đã hình thành từ đó và
ngày càng phát triển.
Nhắc đến tranh sơn mài tạo hình Việt Nam, lịch sử ra đời gắn với sự tìm tòi, thể
nghiệm của nghệ nhân Đinh Văn Thành và các sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật
Đông Dương hồi đó (nay là các danh họa Việt Nam) là Trần Văn Cẩn, Trần Quang
Trân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Khang đầu những năm 30 của thể kỷ XX. Từ đó Mỹ
thuật Việt Nam có thêm một hướng đi mới trong Tranh nghệ thuật tạo hình: Sơn mài -
Đây là sự đột phá có tích lịch sử.
www.khcnmt-bvhttdl.vn
5

Tranh nghệ thuật sơn mài Việt Nam mang phẩm chất quý giá; sự kết hợp nhuần
nhụy giữa chất liệu đậm chất Á Đông với thủ pháp tạo hình hiện đại (học tập cách tạo
hình Châu Âu) với tâm hồn Việt đã được người nghệ sỹ Việt Nam thể hiện thành công.
Sự độc đáo của tranh sơn mài Việt Nam còn ở chất liệu và kỹ thuật thể hiện. Vấn
đề này có những nét tương đồng và khác biệt ở cách chế tác sản phẩm thủ công truyền
thống thể hiện tranh vẽ mà chất liệu làm từ nhựa cây sơn ở các làng nghề, cơ sở sản
xuất thủ công, mỹ nghệ Việt Nam và ở một số quốc gia Châu Á khác. Chính các nghệ

sơn khác (sơn Nhật, sơn công nghiệp, sơn hạt điều ), có người khai thác nhiều cách
thể hiện, sử dụng nhiều chất liệu bất cứ nguyên liệu gì, gắn các chất liệu lên bề mặt
và không mài chính vì thế đã phá vỡ cách thể hiện truyền thống. Làm như vậy là
hay hay không hay? có cần bảo tồn tranh nghệ thuật sơn mài truyền thống hay không?
Vậy chúng ta hãy đi tìm lời giải đáp? Đó chính là phương hướng phát triển của tranh
nghệ thuật sơn mài Việt Nam!
Tranh sơn mài Việt Nam: tranh mỹ nghệ, tranh tạo hình là hai dòng chảy song
song tồn tại và cùng phát triển đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ phong phú của xã hội, nghệ
thuật độc đáo, ý tưởng sáng tạo trong việc làm tranh sơn mài của nghệ nhân, nghệ sỹ
Việt Nam tạo nên đặc trưng, tinh hoa tranh sơn mài Việt Nam khác với tranh sơn mài
các nước.
3.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tranh sơn mài Việt Nam, tài liệu và phân tích tài
liệu
3.2.1. Đánh giá sơ bộ mặt mạnh mặt yếu của công trình nghiên cứu về tranh sơn mài
- Cây Sơn: Nhựa cây sơn (tên khoa học của cây sơn Việt Nam là:
Rhussueeldanea, khác với cây sơn Nhật thuộc giống T/2 Canorrhealeceifara, là chất
liệu chính để làm tranh sơn mài [60, tr 246 - 261]. Trong "Nghề cổ nước Việt" phần :
Nghề sơn then, sơn thiếp. sơn mài, tác giả Vũ Từ Trang có đề cập đến vấn đề này
nhưng sơ lược. Cây Sơn cũng cũng đựơc vài tác giả nhắc đến khi đề cập đến sơn mài
nhưng chưa cho người đọc khái niệm về cây Sơn.
Trong bài báo "Thực trạng và giải pháp của nghề sơn mài truyền thống ở khu vực
Bắc Bộ", tác giả Nguyễn Lan Hương có đề cập đến vấn đề nguyên liệu, cho ta thấy
thực trạng làm nguyên liệu tranh sơn mài (sơn ta, gỗ ) đang có nguy cơ cạn kệt. Có
nơi phải sang Lào để mua nguyên liệu (nứa) nên giá nguyên liệu tăng lên. Nhu cầu về
www.khcnmt-bvhttdl.vn
7

nhựa sơn để sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhưng lại có tình trạng xuất khẩu
sơn chất lượng tốt nhập về sơn hoá học kém chất lượng (như sơn Nhật) để làm đồ sơn
mài như vậy không những gây thua thiệt về kinh tế mà cơ bản là làm mất đi bản sắc

được sự phát triển và biến đổi của làng nghề, có nơi giữ được nghề, có nơi bị mai một
(nhất là trong cơ chế thị trường hiện này).
Chúng ta thấy được những nét nổi bật trong nghề tranh sơn mài của làng trên cơ
sở đó có thể đề xuất các giải pháp bảo tồn nghề, làng nghề, phát triển văn hóa du lịch.
Tuy vậy các bài viết mới dừng lại ở mức liệt kê, tả kể chứ chưa đi sâu để tìm sự tương
đồng và khác biệt trong kỹ nghệ chế tác, tinh hoa văn hoá các làng nghề, tìm hiểu sự
phát triển hay mai một của làng nghề.
- Nói về tranh sơn cổ có bài viết ngắn của hoạ sỹ Lê Quốc Việt và Nguyễn Minh
Phước, các tác giả đã thống kê những tác phẩm sơn mài cổ còn được lưu trữ ở một số
di tích. Các tác giả có phân loại tranh và nói sơ qua về kỹ thuật thể hiện. Nghiên cứu
tranh sơn cổ Việt Nam để tìm thấy được tính ưu việt, sự tìm tòi sáng tạo của nghệ nhân,
nghệ sỹ Việt Nam. Thấy được bước phát triển của chất liệu sơn ta dùng để vẽ tranh
cũng như những hạn chế. Tuy vậy bài viết mới dừng ở sự khái quát chưa đi sâu.
- Các bài nghiên cứu như "Nghề sơn Việt Nam - cách nhìn tổng quan" của
Nguyễn Đức Bình, "Nghĩ thế nào là sơn mài" của hoạ sỹ Ngọc Thọ, "Sơn mài - sự
phát triển đột phá từ chất liệu sơn ta" của hoạ sỹ Đặng Trần Sơn, " Sơn ta với nghệ
thuật tạo hình Việt Nam" của PGS Nguyễn Bá Vân. "Những tìm tòi thể nghiệm đưa
sơn ta thành thành sơn mài hội hoạ " của hoạ sỹ Nguyễn Văn Chiến, "Dò tìm - Đối
sánh - Hấp thụ - Thăng hoa" của Nhà NCMT Thái Hanh, "Vài nét về lịch sử phát triển
của tranh sơn mài Việt Nam" cuả Nhà NCMT Đặng Thanh Vân v.v đã cho chúng ta
một số nhận xét về tranh sơn mài Việt Nam (mỹ thuật, tạo hình) cho ta thấy được sự
độc đáo, tinh hoa tranh sơn mài Việt Nam, phân biệt tranh sơn mài mỹ nghệ và tranh
sơn mài tạo hình trong đó tranh sơn mài tạo hình là một sáng tạo của nghệ sỹ Việt
Nam.
- Thấy được sự phát triển, vị trí tranh sơn mài đối với mỹ thuật, góp phần tạo nên
bản sắc văn hoá Việt Nam. Trong các bài viết có đề cập đến tính chất hoá học, vật lý,
của sơn mài. Có thể lấy lời của cố hoạ sỹ Lê Quốc Lộc - người có nhiều đóng góp với
sơn mài Việt Nam: "Sơn mài Việt Nam tuy sinh sau nhưng mau lớn những bài học
www.khcnmt-bvhttdl.vn
9

www.khcnmt-bvhttdl.vn
10

"Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam" năm 2002 (do Trường Đại học Mỹ thuật
Hà Nội - Viện Mỹ thuật tổ chức) của họa sỹ Nguyễn Văn Chiến, Đặng Trần Sơn, Phan
Thị Nghĩa có đề cập đến nhưng chỉ nói sơ qua. Cho nên cần bổ sung các thông tin
về sự đánh giá của nước ngoài đối với tranh sơn mài Việt Nam qua các triển lãm đối
ngoại. So sánh tranh sơn mài Việt Nam với tranh sử dụng chất liệu nhựa cây sơn của
Trung Quốc, Nhật Bản, chúng ta tham khảo bài "Sơn mài nghề thủ công truyền thống
ở Nhật Bản", "Vài nét khái lược về sơn mài Trung Hoa" của tác giả Nguyễn Lan
Hương, "Nghề sơn Việt Nam - cái nhìn tổng quát" của Nguyễn Đức Bình, "Dò tìm -
đối sánh - hấp thụ - thăng hoa" của Nhà NCMT Thái Hanh v.v. để có cái nhìn tổng
quan về lịch sử nghệ thuật sơn, tranh sơn, cần bổ sung về sự phát triển của tranh sơn
mài tạo hình để thấy sự khác biệt của văn hóa Việt Nam; sự ảnh hưởng của Việt Nam
đối với các nước.
Nhìn chung các bài nghiên cứu về tranh sơn mài Việt Nam khá phong phú, nội
dung đề cập nhiều khía cạnh về văn hóa sơn Việt Nam trong đó có tranh sơn mài. Tuy
vậy các tư liệu còn tản mát, rất cần một công trình nghiên cứu có tính hệ thống về
tranh sơn mài Việt Nam thông qua thực trạng và phát triển.
3.2.2. Danh mục và tóm tắt nội dung tài liệu liên quan đến đề tài
(Xem Báo cáo tổng thuật tài liệu của đề tài)
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tranh sơn mài Việt Nam
Đặt tranh sơn mài Việt Nam (bao gồm tranh mỹ nghệ, tạo hình) là đối tượng
nghiên cứu, chúng ta thấy có mối quan hệ sau:
a. Nguyên liệu, chất liệu cơ bản để vẽ tranh: nhựa cây sơn, son.
b. Công nghệ chế tác cơ bản: chế biến sơn, son, (hiện nay việc chế biến son đạt
chất lượng tốt ở Hà Nội chỉ còn một người tuổi đã cao), vàng, bạc
c. Con người:
- Nghệ nhân, thợ, sự phát triển của làng nghề.

- Tập hợp thống kê các dữ liệu, lập bản đồ, để tạo nét khái quát của đề tài; lập sơ
đồ để so sánh, đối chiếu.
- Miêu tả, phân tích về nghệ thuật, sử dụng kỹ thuật để phân tích, tính chất hóa
học, vật lý, dùng phương pháp tổng hợp để nêu bật nội dung đề tài.
www.khcnmt-bvhttdl.vn
12

5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: điều tra xã hội học bằng cách: phát phiếu điều tra, với
các nhóm người khác nhau về nghề nghiệp, độ tuổi, môi trường văn hóa phỏng vấn
các nghệ nhân, thợ, nghệ sĩ.
- Phương pháp khảo sát điền dã: thu thập số liệu, thông tin cần thiết
- Phương pháp phân tích so sánh tổng hợp, đối chiếu:
Phân tích đánh giá các nguồn tư liệu trên các kênh thông tin, đối chiếu trên thực
tế để rút ra những kết luận khoa học giữa lý luận và thực tiễn.
- Áp dụng khoa học kỹ thuật: phương pháp phân tích hóa học, vật lý, môi
trường ảnh hưởng đến việc sáng tác và lưu giữ tác phẩm nghệ thuật sơn mài Việt
Nam thế nào (điều kiện cho các bảo tàng, các nhà sưu tầm tư nhân ).
- Phương pháp liên ngành: lịch sử cụ thể, mỹ thuật học, văn hóa học, xã hội học,
khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại
- Phương pháp hệ thống hóa.
5.3. Kỹ thuật sử dụng
- Sử dụng thiết bị Camera, máy ảnh, máy ghi âm để khảo sát, điều tra, điền dã.
- Sử dụng công nghệ thông tin để tải tài liệu, liên lạc lưu trữ thông tin, tài liệu
- Sử dụng tài liệu phân tích hóa học, vật lý trong phòng thí nghiệm.
6. Ý nghĩa đề tài
6.1. Ý nghĩa về khả năng ứng dụng trong Văn hóa
Đề tài nghiên cứu "Tranh sơn mài Việt Nam - thực trạng và phát triển" sẽ là tài
liệu khoa học giúp cho các nhà quản lý văn hóa, giáo viên, sinh viên văn hóa, mỹ thuật
có cơ sở khi hoạch định chính sách, nghiên cứu và giảng dạy. Giúp cho công chúng yêu

lịch.
Giới thiệu các sản phẩm tạo dấu ấn cho sơn mài Việt Nam, tranh sơn mài Việt
Nam trên thị trường, góp phần cho xuất khẩu (nguyên liệu, sản phẩm)
Khẳng định Tranh sơn mài Việt Nam là Di sản Văn hoá góp phần làm nên bản
sắc văn hoá dân tộc Việt Nam - Phát huy và xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm bản
sắc dân tộc.
Tổ chức triển lãm giúp cho sự giới thiệu đối với công chúng góp phần nâng cao
đời sống tinh thần của nhân dân, quảng bá rộng rãi tác phẩm, tác giả với công chúng.
Tăng cường hợp tác quốc tế, giao lưu đối ngoại, thu ngoại tệ.
www.khcnmt-bvhttdl.vn
14

7.3. Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu
- Đối với nơi sản xuất nguyên vật liệu, làng nghề: Thấy được tầm quan trọng, khả
năng quý giá của nguồn nguyên liệu, địa phương cần có chế độ chính sách để bảo tồn,
phát triển nơi trồng cây sơn, công nghệ chế tác, nghề truyền thống.
- Đối với cơ sở đào tạo: Tạo lòng yêu nghề đối với nhĩmg người thợ, nghệ nhân,
các sinh viên mỹ thuật, các giảng viên, họa sĩ
- Đối với nghệ nhân nghệ sỹ sáng tác: Thấy tự hào vì mình góp phần làm nên giá
trị nghệ thuật, diện mạo của tranh sơn mài Việt Nam.
- Phát hiện những người có tay nghề cao, những tác phẩm giá trị.
7.4. Đối với phát triển lĩnh vực khoa học có liên quan
- Tạo một điểm trong diện trong hệ thống nghiên cứu các vấn đề khoa học của
đất nước, làm giàu cho ngành mỹ thuật, văn hoá, lịch sử, xã hội
Một công trình tìm hiểu về văn hoá Việt Nam, giúp là tài liệu cho các nhà khoa
học các lĩnh vực liên quan tìm hiểu để có thể hỗ trợ khi nghiên cứu các vấn đề có liên
quan. Tạo cầu nối giữa giới sáng tác với công chúng yêu nghệ thuật, yêu tranh sơn mài,
tạo cho thế hệ trẻ sự hiểu biết, thêm yêu quý di sản văn hoá.
Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền kinh tế tri thức.
7.5. Đối với công tác đào tạo cán bộ khoa học (kể cả việc nâng cao năng lực, hoàn
www.khcnmt-bvhttdl.vn
16

B. NỘI DUNG

Như mọi người đều biết, nghệ thuật sơn mài của Việt Nam trong những năm qua
đã có sự phát triển rất đang tự hào trong lĩnh vực sáng tác mỹ thuật tạo hình cũng như
trong lĩnh vực trang trí thủ công mỹ nghệ. Nhiều tác phẩm tranh sơn mài của Việt
Nam đã giành được những giải thưởng lớn ở trong nước và quốc tế. Nhiều hàng thủ
công mỹ nghệ bằng chất liệu sơn mài của nước ta đã có mặt ở thị trường các nước và
rất được mến mộ, yêu thích và thán phục.
Có thể nói rằng, xét riêng trong lĩnh vực hội họa giới mỹ thuật Việt Nam đã có
diễm phúc và tự hào bởi có trong tay mình một phương tiện, một chất liệu tuyệt vời để
biểu hiện tác phẩm vô cùng độc đáo, không những mang đậm bản sắc nghệ thuật
phương Đông mà còn đủ sức chứa đựng đầy ắp tình cảm và tâm hồn Việt Nam: sâu
trầm, tinh tế, phong phú, có duyên thầm đầy hấp dẫn; với mọi đề tài, mọi phong cách

từ mới đặt mươi năm nay để chỉ một kỹ thuật trước kia gọi là SƠN TA nhưng đã biến
hóa hẳn do nghệ thuật mài sơn.
Kỹ thuật SƠN TA cũng tương tự SƠN TÀU. SƠN TÀU - theo sách truyền - có
từ đời nhà Hán, sử dụng cùng với SƠN TA một thứ nguyên liệu là sơn sống. Chất sơn
sống này, ở nước ta, miền Phú Thọ sản xuất rất nhiều và vẫn bán sang Tàu cùng Nhật.
Từ 1931 trở về trước, công dụng SƠN TA cũng như SƠN TÀU ở Tàu và SƠN
NHẬT ở Nhật - là phủ bọc lên đồ vật làm nó tôn vẻ lộng lẫy, lên những vật dùng
thường như cái khay, cái tráp, đôi guốc đồ thờ như hương án, đài, bát đĩa đồ trang
trí như câu đối, hoành phi, bình phong màu sắc đại để có: son, đen, nâu cánh dán,
vàng bạc theo cổ truyền. Nói rõ ra, SƠN TA chỉ có công dụng trang trí, địa vị là ở
trong trang trí. Mặc dầu ở Nhật, nghệ thuật sơn có tế nhị hơn cả, nhưng chưa một nước
nào nghĩ đến tìm tòi, sử dụng nguyên liệu sơn một cách khác cổ truyền, phiêu lưu
trong nghệ thuật sơn để tìm một con đường nào tăng phẩm gia mỹ thuật sơn bằng cách
phát minh thêm khả năng của nó Song từ 1931 trở đi, nhờ sự tìm tòi thiết tha của
một số họa sĩ có tài chuyên hẳn về SƠN TA Từ cái tráp, chiếc guốc, nó (sơn ta)
vượt lên bức hội họa lồng khung quý giá, từ một phương tiện phụ thuộc làm tôn vẻ đồ
vật, nó trở nên một phương tiện độc lập diễn đạt nổi tâm hồn người nghệ sĩ, một
phương tiện phong phú SƠN TA đổi tên là SƠN MÀI. Thấy SƠN MÀI vừa xuất
www.khcnmt-bvhttdl.vn
18

hiện, hầu hết giới nghệ sĩ Việt hoan nghênh. Họ thấy ở SƠN MÀI một kỹ thuật mới,
sáng tạo do tay người mình, thích hợp với thủy thổ nước mình, thuận tiện để diễn đạt
những nhu cầu nghệ thuật của mình. Người ngoại quốc đến nước ta hoàn toàn hoan
nghênh SƠN MÀI, coi nó là một phát minh mới nhất trong hội họa [65, tr 10, 11]
- Theo Từ điển "Thuật ngữ mỹ thuật phổ thông":
+ Thuật ngữ sơn mài (A.lacquer; P.lacque) chất liệu vẽ tranh truyền thống độc
đáo của Việt Nam bao gồm sơn ta cộng với các màu son, vàng, bạc; sau này khi phát
triển còn có thêm các màu bột và màu vỏ trứng, vỏ trai. Các chất màu được vẽ lên mặt
nền là tấm vóc. Trong quá trình làm tranh, người ta dùng kỹ thuật mài (ít hay nhiều lần)

Việt Nam, trước hết, cần hiểu về "Nghề sơn ta truyền thống" của Việt Nam, bởi vì đây
chính là cái nôi, là cơ sở ban đầu để nảy sinh ra chất liệu và kỹ thuật, nảy sinh ra
phương pháp thể hiện của những tác phẩm, sản phẩm sơn mài đầy hấp dẫn, đặc sắc và
có một không hai trên thế giới.
Qua các tài liệu lịch sử và khảo cổ học thì ông cha ta đã biết dùng nhựa của cây
sơn để chế tác ra những vật dụng, đồ trang sức, đồ mỹ nghệ… từ hàng ngàn năm nay.
Tuy nhiên để trở thành một nghề với đầy đủ tầm vóc và tiêu chí của nó; có thị trường
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì nghề sơn ta mới thực sự có ở nước ta từ thế kỷ XV.
b. Tổ nghề vẽ tranh sơn
Theo Dumoutier, một học giả, nhà nghiên cứu người Pháp đã công bố năm 1892
thì người Việt Nam có nghề sơn ta từ đời Lê Nhân Tôn (1443-1459) do Trần Thượng
Công hoặc Trần Tương Công (tức Trần Lư) học được ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc).
Ông đã truyền dạy lại nghề này ở nước ta. Ông được xem như là "Vị Tổ nghề sơn ta" ở
Việt Nam mà nghề sơn ta lại chính là cha đẻ của kỹ thuật và nghệ thuật sơn mài của
chúng ta hôm nay.
Trần Lư là người làng Bình Vọng (xã Văn Bình huyện Thường Tín - Hà Nội).
Người được suy tôn là Đức Tổ nghề sơn và được lập miếu thờ (năm 1947 ngôi miếu
đã bị giặc Pháp đốt cháy trong một trận càn lớn). Trong làng còn hậu duệ của Đức Tổ
nhưng di vật và tư liệu không còn gì!
Tài liệu thành văn liên quan đến Đức Tổ nghề sơn, theo các nhà nghiên cứu trước
cho biết có 2 tác phẩm: "Toàn Việt thi lục", "Bình Vọng Trần Thị Gia phả". Khảo
cứu 2 tác phẩm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc cho rằng cuốn "Bình Vọng
www.khcnmt-bvhttdl.vn
20

Trần Thị Gia phả" do ông Nguyễn Xuân Phương chép lại vào năm 1912 có nói đến
một người có tên Trần Lư, ghi lại câu đối xưa treo ở từ đường họ Trần cho hay đây là
người dạy dân Bình Vọng nghề sơn, nội dung như sau:
- Lưỡng độ hoàng hoa danh tiến sỹ
- Bách niên đơn hoạt cố tiên dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status