TÌM HIỂU BÀI “VIỆT BẮC” CỦA TỐ HỮU - Pdf 11

TÌM HIỂU BÀI “VIỆT BẮC”
CỦA TỐ HỮU MỤC TIÊU :
- Cảm nhận được một thời kháng chiến gian khổ mà anh hùng, nhất là nghĩa tình gắn
bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, đất nước
- Nghệ thuật bài thơ đậm đà tính dân tộc, làm dạt dào thêm tình yêu quê hương đất
nước trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.

I/Tìm hiểu chung

1/ Hoàn cảnh và mục đích sáng tác

- Tháng 10/1954, Trung ương Đảng, Chính phủ về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Tố Hữu
đã từng gắn bó với Việt Bắc trong suốt những năm kháng chiến. Nhà thơ đã viết bài
thơ này.

- Một trang sử mới của đất nước, một giai đoạn mới của cách mạng mở ra. Tố Hữu
viết bài thơ này với xúc cảm của anh cán bộ kháng chiến.

+ Bài thơ nhằm tổng kết, tái hiện lại giai đoạn gian khổ, vẻ vang của cách mạng và
kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc, nó trở thành kỉ niệm khắc sâu lòng người.

+ Bài thơ là khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến, đồng
thời thể hiện tình cảm ân nghĩa thuỷ chung.

+ Bài thơ còn thể hiện những dự cảm, mong ước về tương lai giữa miền xuôi và miền


II. Đọc hiểu văn bản

1. Cuộc chia tay

- Nhà thơ tạo ra lời đối đáp giữa kẻ ở người đi

+ Việt Bắc hỏi:

Mình về có nhớ ta chăng
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn

+ Anh cán bộ kháng chiến trả lời:

“Tiến ai… hôm nay”

- Sử dụng từ ngữ diễn tả trong tình yêu đôi lứa, vợ chồng

+ Mình (trở đi trở lại)
+ Ta

- Bằng âm điệu ngọt ngào như lời ru trong thể thơ lục bát. Ba biện pháp nghệ thuật
trên đây đã đưa người đọc vào thế giới tâm tình đầy ân nghĩa, trải dài trong không
gian, thời gian tâm tưởng.

- Lời của Việt Bắc lên tiếng trước. Đây là thể hiện sự nhạy cảm về tâm hồn trước hoàn
cảnh đổi thay. Việt Bắc hỏi về thời gian “mười lăm năm ấy”, hỏi về không gian “nhìn
cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Hỏi về không gian và thời gian thường gợi kỉ

phần tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa hai người – Anh cán bộ kháng chiến và đồng bào
các dân tộc Việt Bắc. Ngôn ngữ vừa giản dị, mộc mạc diễn tả tình cảm chân thật, cuộc
chia tay bịn rịn, lưu luyến đến bâng khuâng.

- Để diễn tả cuộc chia tay đầy lưu luyến, nhà thơ sử dụng câu thơ lục bát cân xứng,
nhịp nhàng phù hợp với tâm trạng bâng khuâng của con người trong cuộc tiễn đưa:

- Mình về / mình có / nhớ chăng
Mười lăm năm ấy / thiết tha mặn nồng
Mình về / mình có / nhớ không
Nhìn cây nhớ núi / nhìn sông nhớ nguồn

- Tiếng ai / tha thiết / bên cồn
Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi
Áo chàm / đưa buổi / phân li
Cầm tay nhau biết / nói gì hôm nay.

Sự ngắt nhịp ấy chính là nhịp điệu tâm hồn. Nó tạo ra sự cộng hưởng, đồng vọng của
cả người ở, người đi. Đó là nỗi nhớ da diểt, mênh mang với thiên nhiên, con người,
với cách mạng và kháng chiến.
2. Nỗi nhớ da diết về thiên nhiên con người Việt Bắc

- Trong đoạn trích có hơn 30 từ “nhớ” (cụ thể là 35 từ)

- Tác dụng của việc lặp lại nhiều lần từ “nhớ”.

+ Về tâm lí, một hiện tượng, một âm thanh, một từ xuất hiện nhiều lần trước mắt ta,
buộc ta phải chú ý.

+ Về ý nghĩa “nhớ” gắn liền với đối tượng cụ thể. Nó khắc sâu trong tâm trạng người


Ta với mình, mình với ta
Mình ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Cũng là ba tiếng “mình”. Mình (1) và (2) chỉ người ra đi. Mình (3) chỉ người ở lại.
Tiếng gọi ấy gần gũi, thân thiết quá. Ta nghe như người yêu nói với người yêu, tiếng
của người bạn đời yêu dấu, tiếng của vợ, của chồng. Nhưng ba tiếng “mình” ấy cũng
để chỉ người ra đi. Lời hứa trở nên mặn mà, đinh ninh, sâu sắc. Nhân vật trữ tình tự
phân thân, lại hoà làm một xoáy sâu vào tiếng nói của tâm trạng để tìm sự đồng vọng
của người đọc người nghe.

- Đó là đoạn thơ:

Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
….
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

- Thiên nhiên thật tươi tắn “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Thiên nhiên mang vẻ đẹp
riêng của Việt Bắc “Mùa xuân mơ nở trắng rừng” không ở đâu có được. Không chỉ có
ở màu sắc đường nét mà cả âm vang sôi động: “ve kêu rừng phách đổ vàng”.

- Cái hay, cái đẹp của đoạn thơ là sự kết hợp đến dung dị, cứ một câu tả về thiên nhiên
là một câu nói về con người.

+ “Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng”: Con người thật bình dị, khoẻ khoắn trong lao
động. Đến những câu:


- Nhớ về những người thuỷ chung son sắt, nghĩa tình với kháng chiến:

Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Thơ hay và thấm thía bởi đề cập tới nghĩa tình con người cùng chia sẻ gian khổ và
niềm vui. Cuộc sống con người chỉ đẹp khi gian khổ càng sắt son, gắn bó. Thơ Tố
Hữu luôn đi sâu phát huy những gì tốt đẹp của truyền thống hơn là theo hướng cách
tân hiện đại. Vì thế, nhà thơ khám phá những nét riêng của cuộc sống bình dị mà ấm
áp của Việt Bắc:
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa.

- Nhưng cũng có lúc nỗi nhớ về cảnh và người Việt Bắc đẫm trong cảm xúc mơ màng,
lãng mạn:

Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đỉnh núi, nắng chiều lưng nương

Nỗi nhớ thật đẹp. Ta nhận ra trong nỗi nhớ ba đối tượng không thể tách rời: đó là nhớ
về thiên nhiên, con người cuộc kháng chiến hào hùng và niềm tin sâu sắc.

3. Nỗi nhớ về cuộc kháng chiến và niềm tin của con người

- Đoạn thơ sau:

+ “Nhớ khi giặc đến giặc lùng
… mai lên”
+ “Ai về ai có nhớ không… các khu”



+ Tố Hữu đã phản ánh cuộc chiến tranh toàn diện:

Ai về ai có nhớ không
Ngọn cờ đỏ thẳm gió lồng cửa hang
….
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu

Ta vừa đánh giặc vừa lo phát triển kinh tế, vừa đánh giặc vừa chăm lo phát triển văn
hoá. Có như vậy mới thực hiện đúng đường lối kháng chiến trường kì gian khổ nhưng
nhất định thắng lợi. Ta nói vậy vì ta có niềm tin.

- Tin vào Đảng và Bác Hồ:

ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Ở đâu, ở đâu dù u ám do quân thù tàn phá, giày xéo, đốt phá, chém giết hãy hướng về
Việt Bắc. Nơi ấy có Trung ương Đảng và Bác Hồ. Câu thơ đã gieo một niềm tin
tưởng. Nhịp thơ, lời thơ đã tạo ra giọng điệu trang trọng, lắng sâu trong niềm tin
tưởng vô bờ. Anh cán bộ kháng chiến và đồng bào các dân tộc Việt Bắc và cả chúng
ta nữa đều có niềm tin ấy.

+ Sử dụng thể thơ lục bát, một hình thức thơ ca dân tộc. Nó phát huy đầy đủ tiếng Việt
nhất là con người Việt Nam. Đó là thuỷ chung tình nghĩa, đạo lí uống nước nhớ
nguồn.

* Những suy nghĩ, tư tưởng tình cảm của con người đất nước gắn liền với đạo lí tình


- Thuỷ chung, son sắt với niềm tin vào Đảng, Bác Hồ:

+ “Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”

- Tình nghĩa thuỷ chung với nhân dân các dân tộc Việt Bắc:

+ “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

+ “Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đấy đắng cay ngọt bùi
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn xui đắp cùng”

+ “Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”

+ “Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

+ “Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
…thuỷ chung”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status