ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TIN HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
GVHD : GS. TSKH. HOÀNG VĂN KIẾM
Học viên: Vũ Đăng Khôi
(CH1101017 – Cao học CNTT K6)
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH 4
LỜI NÓI ĐẦU i
PHẦN I. DẪN NHẬP 2
PHẦN II. NỘI DUNG 4
2.1. CÁC NGUYÊN TẮC SÁNG TẠO 4
2.1.1. Nguyên tắc phân nhỏ 4
2.1.2. Nguyên tắc tách khỏi 4
2.1.3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ 4
2.1.4. Nguyên tắc phản đối xứng 4
2.1.5. Nguyên tắc kết hợp 4
2.1.6. Nguyên tắc vạn năng 5
2.1.7. Nguyên tắc chứa trong 5
2.1.8. Nguyên tắc phản trọng lượng 5
2.1.9. Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ 5
2.1.10. Nguyên tắc thực hiện sơ bộ 5
2.1.27. Nguyên tắc rẻ thay cho đắt 8
2.1.28. Nguyên tắc thay thế sơ đồ cơ học 9
2.1.29. Nguyên tắc sử dụng các kết cấu khí và lỏng 9
2.1.30. Nguyên tắc sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng 9
2.1.31. Nguyên tắc sử dụng các vật liệu nhiều lỗ 9
2.1.32. Nguyên tắc thay đổi màu sắc 9
2.1.33. Nguyên tắc đồng nhất 10
2.1.34. Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần 10
2.1.35. Nguyên tắc thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng 10
2.1.36. Nguyên tắc sử dụng chuyển pha 10
2.1.37. Nguyên tắc sử dụng sự nở nhiệt 10
2.1.38. Nguyên tắc sử dụng các chất oxi hóa mạnh 10
2.1.39. Nguyên tắc thay đổi độ trơ 11
2.1.40. Nguyên tắc sử dụng các vật liệu hợp thành 11
2.2. ÁP DỤNG MỘT SỐ NGUYÊN TẮC SÁNG TẠO TRONG PHÁT
TRIỂN CHUỘT MÁY TÍNH 11
(8) Nguyên tắc thay thế sơ đồ cơ học 23
(9) Nguyên tắc thay đổi các thông số lý hóa 23
PHẦN III. KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PPNCKH trong Tin học - i - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên: Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
LỜI NÓI ĐẦU
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Tin học là một môn học bắt buộc
thuộc chương trình đào tạo cao học ngành Công nghệ thông tin tại trường Đại
học Công nghệ thông tin – Đại học Quốc gia TP. HCM.
Ngoài các buổi học được giảng viên truyền đạt trực tiếp trên lớp, các học
viên được giao tìm hiểu các chủ đề liên quan đến môn học để thấu hiểu sâu sắc
từng vấn đề đó và trình bày lại những hiểu biết thông qua một bài tiểu luận.
Qua thời gian tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu, em đã đúc kết lại những vấn đề
cơ bản, quan trọng nhất của vấn đề nghiên cứu và trình bày lại trong bài tiểu
luận này với chủ đề “Nguyên tác sáng tạo áp dụng trong Tin học: sự phát
triển các thế hệ chuột máy tính”.
Tài liệu tham khảo chính của bài viết là tập tài liệu bài giảng môn Phương
pháp nghiên cứu khoa học trong Tin học của GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm,
giảng viên phụ trách môn học này. Ngoài ra, bài viết cũng tham khảo thêm một
số tài liệu khác có liên quan đến chủ đề báo cáo được liệt kê ở phần tài liệu tham
khảo.
PPNCKH trong Tin học - 2 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
lợi. Mọi người có thể dùng tính sáng tạo của mình để đặt vấn đề một cách bao quát,
phát triển các phương án lựa chọn, làm phong phú các khả năng và tưởng tượng các
hậu quả có thể nảy sinh. Tóm lại, ta làm được gì mới, khác và có ích lợi, đấy là sáng
tạo. Sự sáng tạo nảy sinh ở mọi tầng lớp và mọi giai đoạn trong cuộc sống của chúng
ta.
PPNCKH trong Tin học - 3 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Ðối với một công ty hay tổ chức, tài nguyên quan trọng nhất chính là nguồn nhân
lực, tức là những người làm việc cho công ty, tổ chức. Họ gồm các thợ bảo trì, những
người bán hàng, các công nhân trong dây chuyền sản xuất, những người đánh máy…
và các cán bộ quản lý mọi cấp bậc. Nguồn nhân lực của công ty làm cho các tài
nguyên khác hoạt động, mang lại hiệu quả cao. Thiếu nhân sự tốt, một công ty, tổ
chức, dù được trang bị máy móc hoàn hảo nhất, được tài trợ tốt nhất, sẽ hoạt động kém
hiệu quả.
Lĩnh vực Tin học cũng trải qua những giai đoạn phát triển mang tính đột phá như
máy tính cá nhân, máy tính để bản, netbook, máy tính bảng, … Nghĩa là trong lĩnh vực
Tin học cũng có rất nhiều sự “sáng tạo” trong đó.
Để minh chứng cho sự sáng tạo áp dụng trong Tin học và để thấy được bản chất
của các nguyên tắc sáng tạo cũng như việc áp dụng các nguyên tắc đó một cách cụ thể
như thế nào, bài viết đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong Tin học, đó là quá trình ra
đời và phát triển của “chuột máy tính” – một thiết bị không thể thiếu của một hệ
thống máy tính.
Nội dung chính của tiểu luận bao gồm 3 phần: phần đầu giới thiệu sơ lược các
nguyên tắc sáng tạo, trong đó đăc biệt nhấn mạnh đến các nguyên tắc đã được áp dụng
để phát triển các thế hệ chuột máy tính, phần tiếp theo trình bày quá trình phát triển
của chuột máy tính và sự áp dụng các nguyên tắc sáng tạo trong đó, phần cuối cùng là
một vài nhận xét, kết luận về chủ đề.
Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt
động kế cận.
Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất hoặc kế cận.
2.1.6. Nguyên tắc vạn năng
Đối tượng thực hiện một số chức năng khác nhau, do đó không cần sự tham gia
của các đối tượng khác.
2.1.7. Nguyên tắc chứa trong
Một đối tượng được đặt bên trong đối tượng khác và bản thân nó lại chứa
đối tượng thứ ba
Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong đối tượng khác.
2.1.8. Nguyên tắc phản trọng lượng
Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách gắn nó với các đối tượng khác
có lực nâng.
Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng tương tác với môi trường như sử
dụng các lực thủy động, khí động
2.1.9. Nguyên tắc gây ứng suất sơ bộ
Gây ứng suất trước với đối tượng để chống lại ứng suất không cho phép hoặc
không mong muốn khi đối tượng làm việc (hoặc gây ứng suất trước để khi làm việc sẽ
dùng ứng suất ngược lại ).
2.1.10. Nguyên tắc thực hiện sơ bộ
Thực hiện trước sự thay đổi cần có, hoàn toàn hoặc từng phần, đối với đối
tượng.
Cần sắp xếp đối tượng trước, sao cho chúng có thể hoạt động từ vị trí
thuận lợi nhất, không mất thời gian dịch chuyển.
2.1.11. Nguyên tắc dự phòng
PPNCKH trong Tin học - 6 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Bù đắp độ tin cậy không lớn của đối tượng bằng cách chuẩn bị trước các phương
tiện báo động, ứng cứu, an toàn.
Sử dụng mặt sau của diện tích cho trước.
Sử dụng các luồng ánh sáng tới diện tích bên cạnh hoặc tới mặt sau của
diện tích cho trước.
2.1.18. Nguyên tắc sử dụng các dao động cơ học
Làm đối tượng dao động. Nếu đã có dao động, tăng tầng số dao động (đến
tầng số siêu âm).
Sử dụng tầng số cộng hưởng.
Thay vì dùng các bộ rung cơ học, dùng các bộ rung áp điện.
Sử dụng siêu âm kết hợp với trường điện từ.
2.1.19. Nguyên tắc tác động theo chu kỳ
Chuyển tác động liên tục thành tác động theo chu kỳ (xung).
Nếu đã có tác động theo chu kỳ, hãy thay đổi chu kỳ.
Sử dụng các khoảng thời gian giữa các xung để thực hiện tác động khác.
2.1.20. Nguyên tắc liên tục tác động có ích
Thực hiện công việc một cách liên tục (tất cả các phần của đối tượng cần
luôn luôn làm việc ở chế độ đủ tải).
Khắc phục vận hành không tải và trung gian.
Chuyển chuyển động tịnh tiến qua lại thành chuyển động qua.
2.1.21. Nguyên tắc vượt nhanh
Vượt qua các giai đoạn có hại hoặc nguy hiểm với vận tốc lớn.
PPNCKH trong Tin học - 8 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Vượt nhanh để có được hiệu ứng cần thiết.
2.1.22. Nguyên tắc biến hại thành lợi
Sử dụng những tác nhân có hại (thí dụ tác động có hại của môi trường) để
thu được hiệu ứng có lợi.
Khắc phục tác nhân có hại bằng cách kết hợp nó với tác nhân có hại khác.
Tăng cường tác nhân có hại đến mức nó không còn có hại nữa.
2.1.23. Nguyên tắc quan hệ phản hồi
Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng: nạp
khí, nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực.
2.1.30. Nguyên tắc sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng
Sử dụng các vỏ dẻo và màng mỏng thay cho các kết cấu khối.
Cách ly đối tượng với môi trường bên ngoài bằng các vỏ dẻo và màng
mỏng.
2.1.31. Nguyên tắc sử dụng các vật liệu nhiều lỗ
Làm đối tượng có nhiều lỗ hoặc sử dụng thêm những chi tiết có nhiều lỗ
(miếng đệm, tấm phủ…)
Nếu đối tượng đã có nhiều lỗ, sơ bộ tẩm nó bằng chất nào đó.
2.1.32. Nguyên tắc thay đổi màu sắc
Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoài
Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên ngoài.
Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng
các chất phụ gia màu, hùynh quang.
PPNCKH trong Tin học - 10 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh dấu.
Sử dụng các hình vẽ, ký hiệu thích hợp.
2.1.33. Nguyên tắc đồng nhất
Những đối tượng, tương tác với đối tượng cho trước, phải được làm từ cùng một
vật liệu (hoặc từ vật liệu gần về các tính chất) với vật liệu chế tạo đối tượng cho trước.
2.1.34. Nguyên tắc phân hủy hoặc tái sinh các phần
Phần đối tượng đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc trở nên không càn thiết phải
tự phân hủy (hoà tan, bay hơi ) hoặc phải biến dạng.
Các phần mất mát của đối tượng phải được phục hồi trực tiếp trong quá
trình làm việc.
2.1.35. Nguyên tắc thay đổi các thông số hoá lý của đối tượng
Thay đổi trạng thái đối tượng.
Để sử dụng chuột máy tính ta phải sử dụng màn hình máy tính để quan sát toạ độ
và thao tác di chuyển của chuột trên màn hình.
(A) Các loại chuột máy tính:
Chuột máy tính phân loại theo nguyên lý hoạt động có hai loại chính: Chuột bi và
chuột quang.
(1) Chuột bi
Chuột bi là chuột sử dụng nguyên lý xác định chiều lăn của một viên bi khi thay
đổi khi di chuyển chuột để xác định sự thay đổi toạ độ của con trỏ trên màn hình máy
tính.
PPNCKH trong Tin học - 12 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của chuột bi có dây bao gồm:
Viên bi được đặt tại đáy chuột, có khả năng tiếp xúc với bề mặt bằng phẳng
nơi chuột tiếp xúc. Viên bi có thể lăn tự do theo các chiều khác nhau.
Hai thanh lăn trong bố trí tiếp xúc với viên bi. Bất kỳ sự di chuyển của viên
bi theo phương nào đều được quy đổi chuyển động theo hai phương và làm
quay hai thanh lăn này. Tại các đầu thanh lăn có các đĩa đục lỗ đồng trục với
thanh lăn dùng để xác định sự quay của thanh lăn.
Hai bộ cảm biến ánh sáng (phát và thu) để xác định chiều quay, tốc độ quay
tại các đĩa đục lỗ trên thanh lăn.
Mạch phân tích và chuyển đổi tín hiệu. Dây dẫn và đầu cắm theo kiểu giao
tiếp của chuột truyền kết quả điều khiển về máy tính.
(2) Chuột quang
Chuột quang hoạt động trên nguyên lý phát hiện phản xạ thay đổi của ánh sáng
(hoặc la de) phát ra từ một nguồn cấp để xác định sự thay đổi toạ độ của con trỏ trên
màn hình máy tính.
Ưu điểm của chuột quang:
- Độ phân giải đạt được cao hơn nên cho kết quả chính xác hơn so với chuột bi
(B) Độ phân giải
Độ phân giải là một thông số kỹ thuật của chuột máy tính tính theo dpi, độ phân
giải càng cao thì sự điều khiển chuột càng chính xác. Các chuột bi thường có độ phân
giải thấp, chuột quang có độ phân giải cao hơn và có thể đạt đến 5600dpi đối với một
số loại thiết kế cho games thủ.
(C) Các kiểu giao tiếp của chuột máy tính
PPNCKH trong Tin học - 14 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Chuột máy tính bắt buộc phải được kết nối với máy tính thông qua các chuẩn
cắm hoặc một thiết bị khác nếu là chuột không dùng dây.
Kiểu giao tiếp trước đây đối với chuột máy tính thường là: COM, DIN, tuy nhiên
đến nay các dạng cổng này không còn được tiếp tục sử dụng. Kiểu giao tiếp thông
dụng cho đến năm 2007 là giao tiếp PS/2. Giao tiếp qua cổng USB sẽ dần được thay
thế cổng PS/2 bởi tốc độ và các khả năng mở rộng tính năng trên chuột.
(D) Các nút trên chuột máy tính
Chuột máy tính theo thiết kế ban đầu chỉ gồm hai nút: Nút phải chuột và nút trái
chuột với chức năng lựa chọn và mở rộng. Theo nhu cầu sử dụng, chuột máy tính ngày
được bổ sung thêm các nút chức năng và công dụng.
Nút giữa: Mở rộng tính năng của chuột máy tính.
Nút cuộn: Thường được bố trí giữa nút trái và phải của chuột. Nút thường có
dạng bánh xe tròn xoay hoặc công tắc hai chiều. Nút cuộn thường được kết hợp với
nút giữa. Nút cuộn thường sử dụng để di nhanh chóng các thanh trượt (scrollbar) -
thường sử dụng nhiều khi lướt web, soạn thảo văn bản hoặc các ứng dụng khác cần
quan sát nhiều hơn giới hạn của màn hình hiển thị.
Các nút mở rộng khác: ngoài các nút cơ bản trên, các nút mở rộng khác chưa
được đưa vào tiêu chuẩn của thiết kế chuột. Các nút mở rộng thêm thường được thiết
kế do các hãng sản xuất khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi khác cho người sử
dụng máy tính. Khi sử dụng các nút mở rộng hoặc các tính năng mở rộng của chuột
cần phải cài thêm các phần mềm hỗ trợ của hãng sản xuất.
và tổng kết thành giá trị tọa độ tương ứng của chuột trên màn hình. Kiểu thiết kế này
được sử dụng trong suốt thập kỉ 80 và 90. Kiểu dáng chuột hiện đại mà ta thấy được
thiết kế ban đầu tại học viện EPFL (trái tim công nghệ của châu Âu vào thời kì đó)
dưới sự dẫn dắt của tiến sĩ Jean Daniel, sau đó sản phẩm hoàn thiện được tung ra thị
trường lần đầu tiên thông qua một chi nhánh của EPFL mà sau này trở thành một trong
những nhà sản xuất thiết bị trỏ (Pointing Device) tên tuổi – Logitech.
Hình 1. Thiết bị trỏ (chuột máy tính) đầu tiên
A.2. Quang học:
Cơ chế của chuột quang là bước tiến đáng kể trong chế tạo chuột. Nó loại bỏ
hoàn toàn thành phần cơ học (bi và bánh xe), thay bằng một thiết bị bắt hình siêu nhỏ.
PPNCKH trong Tin học - 16 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
Thiết bị này sẽ liên tục "chụp" lại bề mặt mà người dùng di chuột và thông qua phép
so sánh giữa những bức hình này, bộ xử lý trong chuột sẽ tính toán được tọa độ. Nói
một cách nôm na, chuột bi sử dụng đầu cảm ứng quang để bắt chuyển động của viên bi
còn chuột quang sử dụng thiết bị ghi hình để bắt chuyển động của bề mặt. Trên thực
tế, để tính toán chính xác thì hình ảnh chụp phải tốt. Vì thế, nhiệm vụ quan trọng đầu
tiên là soi sáng bề mặt và một đèn LED đỏ được sử dụng cho việc này. Khi chiếu sáng
bề mặt, tia sáng sẽ bị phản chiếu và hội tụ thông qua một thấu kính trước khi chạm vào
bộ cảm ứng. Nhờ thế, hình ảnh sẽ rất chi tiết. Đôi khi, chuột quang học sử dụng đèn
LED bị hiểu nhầm là chuột laser (đề cập sau) do ánh sáng đỏ mà nó phát ra.
Ưu điểm của thế hệ chuột quang học là không có các bộ phận cơ nên hoàn toàn không
sợ hỏng hóc do ăn mòn hay bụi bẩn. Việc bảo trì cũng rất đơn giản (chỉ cần lau mắt
đọc là xong). Thêm vào đó là độ chi tiết và độ nhạy của cơ chế cảm ứng quang cũng
tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chuột quang không thể làm việc trên các bề mặt bóng
hoặc trong suốt, còn các bề mặt sặc sỡ thì chuột hoạt động không chính xác. Điều này
đúng với những loại chuột quang thuộc thế hệ đầu tiên. Ngoài ra, một số loại chuột rẻ
tiền có hệ thống xử lý hình ảnh kém sẽ không đủ khả năng tính toán khi người dùng di
chậm chạp dần dần bị loại khỏi máy tính thế hệ mới. Ngoài ra, sự thống trị của USB
cũng góp phần "tiễn" nó vào dĩ vãng.
Hình 4. Cổng kết nối COM của chuột- PS2: được dùng trong thời gian khá dài và bây giờ vẫn còn, mỗi bo mạch chủ
vẫn có hai cổng PS2 dành cho bàn phím và chuột. Tuy nhiên cũng bị ảnh hưởng của
chuẩn USB mà PS2 dần bị đẩy tới bờ "tuyệt chủng". Hầu hết các loại chuột mới đều sử
dụng cổng USB và đi kèm một adapter chuyển đổi USB PS2.
Hình 5. Cổng kết nối PS/2 của chuột
- USB: Đây là chuẩn giao tiếp thông dụng nhất hiện nay đối với các loại chuột dù
"có đuôi" hay "không đuôi", ta khó có thể tìm được loại chuột nào không yêu cầu một
cổng USB trống trên máy tính. Ưu điểm của USB chính là băng thông rộng hơn nhiều
lần so với serial hay PS2, vì thế các loại chuột cao cấp có thể gửi số lượng lớn tín hiệu
định vị tới PC và như vậy, tính chính xác cũng như độ nhạy sẽ tăng đáng kể. Một số
PPNCKH trong Tin học - 18 - GVHD: GS. TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Học viên:Vũ Đăng Khôi Cao học CNTT khóa 6/2011
nhà sản xuất còn sử dụng kênh dữ liệu 16-bit tăng cường độ chính xác và giảm độ trễ
so với kết nối 8-bit thường thấy trên dòng chuột "bình dân".
Hình 6. Cổng kết USB của chuộtB.2. Không dây:
- Sóng Radio: Đây là kiểu kết nối không dây đầu tiên và cũng thông dụng nhất
được các nhà sản xuất trang bị cho chuột không dây của họ. Một bộ chuột máy tính
của nó.
C. Phím bấm và bánh xe cuộn
Ngược với thiết kế bên trong, nút bấm của chuột cải tiến khá chậm chạp và hầu
như chỉ thay đổi về số lượng, kiểu dáng và vị trí mà thôi. Chú chuột "tổ" do Engelbart
phát minh đầu tiên chỉ có một nút bấm và sau đó không lâu tăng lên 3 nút. Những loại
chuột ban đầu thường có từ một tới ba nút và về sau tăng lên bốn hoặc hơn. Tuy vậy,
về cơ bản, mỗi loại chuột đều có tối thiểu hai nút bấm chính. Nhiệm vụ của nút bên
trái là chọn và khởi động các đối tượng, nút phải để mở các menu tính năng của đối
tượng mà người dùng đã chọn.
Những năm cuối thế kỉ 20, chuột máy tính có một số cải tiến về phím bấm. Sản
phẩm thời kì này thường có 5 phím khác nhau. Tùy thuộc vào yêu cầu của người dùng
mà những phím phụ này có nhiều chức năng riêng biệt ví dụ như Forward (tiến) hoặc
Backward (lùi) khi duyệt web, chúng cũng có thể được gán nhiều tính năng tùy chọn
nhờ vào phần mềm đi kèm. Theo Douglas Engelbart, số lượng phím bấm tối ưu của
chuột nên "càng nhiều càng tốt" và thực tế đã cho thấy điều đó là đúng.
Một phát minh quan trọng trong thiết kế chuột nói riêng và các thiết bị trỏ nói chung
chính là bánh xe nhỏ ở giữa hai nút bấm mà chúng ta thường thấy ngày nay. Nó sử
dụng cho các tác vụ cuộn trang hoặc phóng to/thu nhỏ các đối tượng. Về sau, Logitech
và Microsoft giới thiệu phiên bản tiên tiến hơn có tên gọi "bánh xe nghiêng" (tilt-
wheel) dành cho những sản phẩm cao cấp của họ. Với bánh xe mới, người dùng có thể
gạt sang hai bên để thực hiện chức năng cuộn ngang. Đôi khi, ta cũng có thể tìm thấy
những sản phẩm sử dụng công nghệ cảm ứng thay vì bánh xe vốn dễ bám bụi và trục
trặc, điển hình như V500 của Logitech. D. Tốc độ và độ chính xác