Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy
hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan
trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia. Hoạt
động xuất nhập khẩu đã góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân
sách, đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán giải quyết công
ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam từ nền kinh tế lạc hậu và kém phát triển chuyển sang xây
dựng nền kinh tế thị trường thì việc mở rộng buôn bán, quan hệ với nước
ngoài là hết sức cần thiết. Sau khi nhận thức được những sai lầm trong
đường lối kinh tế, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm thực hiện công cuộc đổi
mới theo hướng "mở cửa" nền kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu, không
ngừng mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với các nước trên thế giới, phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Nhờ vậy, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt
động XNK nói riêng của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những
thành tựu đáng kể và ngày càng khẳng định vị trí của mình trong toàn bộ
nền kinh tế.
Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh XNK cần phải nâng cao chất
lượng và đa dạng hoá các mặt hàng, muốn vậy phải có sự đầu tư thích đáng
cho quá trình sản xuất, kinh doanh như đổi mới công nghệ, máy móc, trang
thiết bị. Nhưng trên thực tế, vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động
trên lĩnh vực này còn ít ỏi, không thể giúp cho các doanh nghiệp tự đổi mới
công nghệ nâng cao chất lượng. Xuất phát từ thực tế này và để đạt được
mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra thì cần có sự đầu tư của NHTM, đặc
biệt là NHNT với tư cách là trung tâm cung ứng vốn, hỗ trợ đắc lực cho
lĩnh vực XNK của nền kinh tế.

Hoạt động tín dụng tài trợ XNK là một hoạt động hết sức phức tạp,
chứa đựng nhiều rủi ro. Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh tế

nghiệm thực tế của hoạt động này để từ đó đưa ra một số khuyến nghị
nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động tín dụng XNK tại Chi nhánh. Song do
kiến thức còn hạn chế, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót nhất định,
em rất mong được sự chỉ dạy của thầy cô giáo và góp ý của các bạn để bài
viết được hoàn thiện tốt hơn.
Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Phạm
Hồng Vân người đã tận tình giúp đỡ em trong việc chọn đề tài, hướng dẫn
phương hướng triển khai đề tài và tổng kết các kết quả nghiên cứu một
cách có hệ thống.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị tại NHNT Hà
Nội, đặc biệt là phòng Tín dụng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như
chỉ bảo hướng dẫn em hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, tháng 4/2003
Sinh viên
Lê Tuấn Anh

3

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ CHO XUẤT NHẬP KHẨU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu
1. 1. Sự cần thiết của hoạt động xuất nhập khẩu.
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa
vào nền sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài.
Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu... mà mỗi
quốc gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định.
Để đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày
càng đa dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những
sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở

nghệ cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu có thể diễn ra thuận lợi
hơn nhờ nguồn ngoại tệ thu được và mối quan hệ quốc tế mà nó tạo ra.
* Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Nhập khẩu tạo ra hàng hoá bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong
nước và thay thế những sản phẩm trong nước không sản xuất được hay sản
xuất với chi phí cao hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng nội địa một
cách tốt nhất, từ đó tạo sự ổn định về cung-cầu trong nước và cao hơn là sự
ổn định kinh tế vĩ mô.
- Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng
kĩ thuật, đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc
cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng
như góp phần định hướng sản phẩm, định hướng thị trường cho xuất khẩu.

5

Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.
1. 2. Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu.
Như đã nói trên, trong nền kinh tế mở các doanh nghiệp luôn phải
đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt. Họ không chỉ phải cạnh tranh với các
nhà sản xuất trong nước mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nước
ngoài. Để chiến thắng trong cạnh tranh, ngoài việc cần thiết phải có sự hỗ
trợ của Nhà nước như sự ưu đãi về thuế, sự điều chỉnh tỉ giá hối đoái phù
hợp... các doanh nghiệp còn cần phải có một tiềm lực tài chính mạnh để
thực hiện các hoạt động như đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm máy

Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá máy móc thiết bị thường
kéo dài từ nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thường nhu cầu tài trợ
thường nảy sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
+- Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại
diện tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Để hoàn thành tốt giai
đoạn này các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến hành
nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trưng bày, giới
thiệu. Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính
xác cho đàm phán hợp đồng. Chi phí cho những hoạt động này không phải
nhỏ, đặc biệt với các cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
- Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trường hợp nhà xuất khẩu chưa có
uy tín cao ở nước ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng
hoặc bảo đảm hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc
giao hàng hoặc hoàn thành công trình không đúng như thoả thuận.
Trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập
khẩu là người nước ngoài đang gặp khó khăn về tài chính, nhà xuất khẩu có

7

thể đề nghị ngân hàng của mình cung cấp tín dụng tương đương với số tiền
đặt cọc và nhà nhập khẩu có nghĩa vụ chi trả cho khoản tín dụng đó
- Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu
sẽ tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn
như, nhà máy, xí nghiệp... việc này thường đi kèm với chi phí lớn vượt quá
mức đặt cọc.
- Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh
toán tiếp theo của người mua, trong thời gian này thường nảy sinh các nhu
cầu tài chính cao về vật tư và chi phí liên quan khác vượt qua các khoản
thanh toán giữa chừng.
- Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể

- Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện
cung ứng hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo
hiểm đối với các nhà nhập khẩu.
- Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi
xuất trình chứng từ (có thư tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì
thường nhà nhập khẩu chỉ có thể nhận được hàng khi giá trị trên hoá đơn đã
ghi rõ hoặc có thể tài trợ được.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán
tiếp thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời
gian từ khi nhập hàng về tới khi hàng hoá được tiêu thụ.
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà
nhập khẩu sẽ có nhu cầu được tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản
phẩm mới tới khi tiêu thụ được các sản phẩm làm ra và thu được tiền hàng.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho XNK ở trên ta có thể khẳng
định rằng hoạt động kinh doanh XNK có một nhu cầu tài trợ rất lớn. Vậy

9

thì để đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dưới đây là một
số nguồn tài trợ thường dùng cho XNK. 10

1.3. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoạt động XNK là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do
vậy nó cũng được tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những
nguồn tài trợ thường được sử dụng là:
* Tín dụng thương mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ
được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với

doanh mà không dẫn đến phải chia quyền kiểm soát doanh nghiệp như khi
sử dụng cổ phiếu thường. Tuy nhiên, với trái phiếu doanh nghiệp thường
phải trả lợi tức cố định cho dù hoạt động kinh doanh có lãi hay không. Điều
này dễ làm tăng khả năng phá sản đối với doanh nghiệp khi gặp khó khăn
về tài chính. Ngoài ra, với thị trường tài chính chưa phát triển như đã nói
trên thì hình thức này cũng khó phát huy tốt được ưu thế của nó.
* Tín dụng ngân hàng: Ngân hàng có thể tài trợ cho các doanh
nghiệp thông qua nhiều hình thức và với những mục đích sử dụng khác
nhau như: cho vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp
đồng, cho vay có đảm bảo... để thu mua dự trữ, sản xuất, nhập khẩu nguyên
vật liệu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. Hoặc cho vay dài hạn để đầu tư dự
án, mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ... Tuỳ vào từng
doanh nghiệp mà Ngân hàng có thể áp dụng những hình thức nhất định sao
cho thuận lợi với cả hai bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng ngân
hàng là có khả năng linh hoạt về lãi suất cũng như thời hạn.
* Các nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên các doanh
nghiệp XNK còn có thể được tài trợ bằng các nguồn như đầu tư nước
ngoài, vay nợ viện trợ của nước ngoài, hỗ trợ của Chính phủ... Hiện nay các
nguồn này thường cũng được sử dụng thông qua các Ngân hàng.
Như vậy, nguồn tài trợ cho XNK rất đa dạng nhưng trong đó nguồn
tín dụng ngân hàng nhờ có những ưu thế riêng nên vẫn nắm giữ một vị trí

12

đặ c biệt đối với sự phát triễn của đất nước nói chung vá hoạt động XNK
nói riêng13


- Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
Kinh doanh có hiệu quả là yêu cầu của hạch toán kinh tế đồng thời
cũng là một trong những điều kiện cung cấp tín dụng của ngân hàng. Do
đó, tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu
quả kinh doanh, nâng cao mức doanh lợi. Bên cạnh đó, với khả năng linh
hoạt về thời hạn và lãi suất của tín dụng ngân hàng sẽ khuyến khích sự chủ
động và sáng tạo của các doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn sao cho phù
hợp với nhu cầu về vốn trong mỗi thời kỳ khác nhau.
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt dộng XNK diễn ra thuận
lợi và nhanh chóng hơn.
- Thứ tư, xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK
cao và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa người mua và người bán sự có
mặt của ngân hàng sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn
chế được những rủi ro không thanh toán khi ngân hàng đứng ra đảm bảo
cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và ngược lại nhờ nguồn tín dụng của
ngân hàng nhà nhập khẩu thực hiện được những nhập khẩu quan trọng
trong khi khả năng tài chính của họ chưa đáp ứng được.
- Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của
nước ngoài cho hoạt động XNK. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ
của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó được
thực hiện qua các ngân hàng nước sở tại.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK càng có ý
nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nước, trong đó
có chính sách hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ
cung cấp cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi xuất ưu đãi
mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh
doanh của mình.

15

Thông thường mức ký quỹ L/C phụ thuộc vào các yếu tố sau.
+ Khả năng thanh toán của khách hàng.
+ Đối tượng khách hàng

17

+ Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thấp, loại L/C trả
ngay thì bắt buộc mức ký quỹ cao hơn.
+ Loại hàng hoá nhập khẩu, khả năng tiêu thụ.
Trên cơ sở các yếu tố trên, ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ, nếu
như khách hàng không có đủ số dư trên tài khoản thì phải tiến hành làm
đơn xin vay ngoại tệ ký quỹ L/C.
- Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh toán toàn bộ
chứng từ giao hàng.
Theo hình thức này khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh
doanh mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đồng thời khách hàng phải lên kế hoách tài chính nhằm xác định khả năng
thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt
với ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản
ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức
ngân hàng chấp nhận tài trợ.
* Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C
đã được chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà
nhập khẩu. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ
sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có
thể thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng
trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán.

* t/3600) - P
Trong đó:
Tck: Giá trị chiết khấu
M: Mệnh giá hối phiếu

19

Lck: Lãi suất chiết khấu
t: Thời hạn chiết khấu(ngày)
P: lệ phí
Có 2 hình thức chiết khấu:
- Chiết khấu miễn truy đòi
Ngân hàng mua lại bộ chứng từ của người xuất khẩu, giá mua sẽ thấp
hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại chi phí chiết khấu và thời
gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhạap khẩu nước ngoài. Chiết khấu
miễn truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hãn bộ chứng từ cho ngân
hàng, nhạn tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm thu tiền và
quyền sữ dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng. ở Việt Nam
các ngân hàng ít sữ dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi
ro cho ngân hàng.
- Chiết khấu được phép truy đòi
Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối
phiếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếu(nhà xuất khẩu ) và giá trị
chiết khấu cao hơn.
- Chấp nhận hối phiếu:
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký
chấp nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu
và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính. Thực chất
ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên khi đến
hạn, nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì người cho vay

+ Những khoản mua bán phải tồn tại một cách hợp pháp, phải
có đủ tư cách pháp lý độc lập với quyền một người thứ ba.
+ Hàng hoá đã được cung ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng
cho những khoản thanh toán này.
+ Thời hạn thanh toán này tối đa là 180 ngày.

21

+ Không có quyền cấm chuyển nhượng các khoản thanh toán
này của người nhập khẩu hoặc nước nhập khẩu.
- Bao thanh toán từng phần (forfaiting): cũng là nghiệp vụ mua bán
những khoản thanh toán chưa tới thời hạn như factaring nhưng khác ở một
số điểm sau:
+ Forfaiting chỉ bao những khoản thanh toán cụ thể riêng lẻ
trong toàn bộ quá trình XNK dài hạn và cho từng đối tượng nhập khẩu riêng.
+ Thời hạn thanh toán của factoring tối đa là 6 tháng trong khi
thời hạn đối với forfaiting là 6 tháng đến 10 năm. Forfaiting được coi là
hình thức tín dụng trung và dài hạn.
+ Factaring phục vụ cho những hoạt động XNK không sử dụng tới
tín dụng chứng từ còn forfaiting lại dựa vào chúng và sự bảo đảm của ngân hàng.
* Tín dụng thuê mua
Thuê mua là hình thức tài trợ vốn, ra đời ở Mỹ vào năm 1952, sau đó
nhanh chóng thâm nhập vào Châu Âu đầu những năm 1960 và dần dần hiện
nay đang được các nước trên thế giới áp dụng.
Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó
người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người đi
thuê sử dụng. Người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt
thời gian thuê và khi kết thúc thời hạn họ có thể được quyền sở hữu tài sản
thuê hoặc được mua lại tài sản thuê hay là được quyền thuê tiếp. Điều này
tuỳ thuộc vào thoả thuận của hai bên khi ký hợp đồng thuê. Có hai loại

vậy, nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thường là
ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán. Ngược lại, do không biết rõ hoặc
không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân
hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay
vốn nước ngoài dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài
chính. Trách nhiệm của ngân hàng bảo lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam
kết với nước ngoài trong trường hợp người xin bảo lãnh không thực hiện đủ
nghiệp vụ nào đó với nước bên ngoài.

23

Bảo lãnh cũng có nhiều hình thức khác nhau:
+ Mở thư tín dụng trả chậm
+ Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu
+ Phát hành thư bảo lãnh với người nước ngoài
+ Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài... .
Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này
- Đối với nhà nhập khẩu (bên được bảo lãnh): được hưởng một
khoản vốn của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá
bán đã tính lãi rồi) chi trả một khoản phí cho người bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được
thanh toán nợ. Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ
chiết khấu tại một ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu vốn của mình.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất kì ngân hàng nào, khi tiến
hành bảo lãnh, nghĩa là được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về phía bên
xuất khẩu, bên nhập khẩu. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho
vay trừu tượng nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà
chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay.
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông

tế.
Như chúng ta đã biết,trong quan hệ XNk thường luôn có một phía đối
tác nước ngoài, và như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh XNK trong nước
cũng như ngân hàng tài trợ rất khó nắm bát được tất cả các thông tin cần thiết
về đối tác một cách chính xác. Do đó, khả năng xảy ra rủi ro đã xảy ra thì tổn
thất không thể tránh khỏi đối với doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Mặc dù,
về nguyên tắc trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và đơn vị được tài trợ
luôn có những điều khoản quy định roc ràng quyền hạn của ngân hàng cũng
như trách nhiệm của doanh nghiệp, các điều khoản này nhằm đảm bảo khả
năng trả nợ của doanh nghiệp và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả.
Đông thời đơn vị được tài trợ cũng luôn phải có tài sản thế chấp đảm bảo
khoản vay. Tuy nhiên, những tài sản thế chấp này lại chính là lô hàng đó.
Thậm chí ngay cả khi hợp đồng XNK hàng hoá của doanh nghiệp là hoàn hảo

25

Trích đoạn Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam Về công tác sử dụng vốn. Về công tác huy động vốn Về hoạt động sử dụng vốn tài trợ các hoạt động xuất nhập khẩu Những tồn tại và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status