Tiểu luận: HỢP ĐỒNG GIA CÔNG QUỐC TẾ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG - Pdf 11

Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 1 Tiểu luận HỢP ĐỒNG GIA CÔNG QUỐC TẾ VÀ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 2
I. CÁC HÌNH THỨC GIA CÔNG XUẤT KHẨU
I.1 Theo quyền sở hữu nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm:
 Hình thức nhận nguyên liệu giao thành phẩm
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau
thời gian sản xuất, chế tạo sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Trong trường hợp

 Sản xuất chế biến
 Lắp ráp, tháo dỡ, phá dỡ
 Tái chế
 Chọn lọc, phân loại, làm sạch, làm mới
 Đóng gói, kẻ ký hiệu
 Gia công pha chế
II. TRÌNH TỰ HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU
II.1 Nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng
 Đối với đơn vị kinh doanh quốc tế, việc nghiên cứu thị trường có ý nghĩa rất quan
trọng. Trong việc nghiên cứu đó, những nội dung mà công ty cần tập trung nắm vững
là: Điều kiện chính trị, thương mại nói chung, luật pháp và chính sách buôn bán, điều
kiện về tiền tệ, tín dụng, điều kiện vận tải và giá cước trên thị trường đó; nhu cầu về
hàng hoá bao gồm thị hiếu và khối lượng cầu; tình hình cung ở thị trường đó như các
hãng cung cấp, tình hình cạnh tranh…
 Riêng đối với gia công xuất khẩu hàng may mặc thì công ty cần nghiên cứu đó là thị
trường hạn ngạch hay phi hạn ngạch. Nếu là thị trường hạn ngạch phải đệ đơn lên bộ
thương mại xin hạn ngạch hay tìm đơn vị trong nước được bộ cấp hạn ngạch để tiến
hành uỷ thác gia công.
 Đặc thù của gia công hàng may mặc là thực hiện hợp đồng kéo dài do vậy nghiên cứu
điều kiện chính trị, thương mại phải có dự đoán trước dựa trên cơ sở thực tế. Nếu điều
kiện chính trị ở nước đó không ổn định thì có thể không thu được phí gia công hay
hợp đồng bị huỷ bỏ bất kỳ lúc nào.
 Mỗi nước đều có chính sách thương mại áp dụng cho từng quốc gia ví dụ: Mỹ xây
dựng nên ba loại chính sách áp dụng cho ba loại nước khác nhau trên quan hệ của
nước đó với nước Mỹ. Bởi vậy, việc nghiên cứu chính sách buôn bán cũng như hệ
thống pháp luật của mỗi thị trường là rất quan trọng. Nó không những quyết định đến
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động gia công xuất
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 4

khẩu nói riêng. Chẳng hạn luật pháp của Mỹ quy định hàng may mặc của Việt Nam

Đây là thông tin mà công ty cho là rất quan trọng và đưa thành nguyên tắc với bất kỳ
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 5

khách hàng nào. Thông tin này có thể thu được từ khách hàng hay những tổ chức tín
dụng. Nếu họ là thương gia có uy tín thì sẽ nâng uy tín của công ty nên rất nhiều.
Song ngược lại, uy tín của công ty bị tổn thương và nhiều khi không được thanh toán.
 Một nhân tố quan trọng mà công ty tập trung nghiên cứu là triển vọng về lĩnh vực mà
họ kinh doanh, phải xem xét kênh phân phối hàng hóa, doanh số bán để xác định
đúng đắn khả năng phát triển của đối tác. Điều này quyết định mở rộng mặt hàng kinh
doanh và mối quan hệ lâu dài giữa công ty với họ.
 Đối với đối tác trong nước việc tìm hiểu có phần đơn giản hơn. Tuy vậy công ty vẫn
nắm thông tin về khả năng tài chính, thái độ và uy tín kinh doanh của họ. Việc lựa
chọn cuối cùng còn phụ thuộc vào mức độ hiện đại của máy móc, thiết bị và trình độ
tay nghề của công nhân, khả năng thực hiện gia công có đúng chất lượng có đúng kỹ
thuật và thời hạn hợp đồng hay không.
II.2. Đàm phán và ký kết hợp đồng
Trong giao dịch ngoại thương các bên thường có sự khác biệt nhau về chính kiến, về pháp
luật, về tập quán ngôn ngữ tư duy truyền thống và quyền lợi. Những sự khác biệt đó dẫn đến
sự xung đột. Muốn giải quyết xung đột đó, người ta phải trao đổi ý kiến với nhau. Trong hoạt
động gia công quốc tế những vấn đề thường trở thành nội dung của các cuộc đàm phán là:
 Phẩm chất
 Số lượng
 Bao bì đóng gói
 Giao hàng
 Giá cả gia công
 Thanh toán
 Phạt và bồi thường thiệt hại
Ba giai đoạn của đàm phán là: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn đàm phán và giai đoạn sau đàm
phán. Trong đó giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn quan trọng nhất, nó quyết định 80% kết quả
của đàm phán.

 Các điều khoản về phẩm chất quy cách: Là điều khoản rất quan trọng để xác định
đối tượng của hợp đồng. Thường thì phẩm chất quy cách được quy định chi tiết tỉ
mĩ trong hợp đồng gia công hoặc quy định tương tự như mẫu mã hai bên đã thoả
thuận có xác định bằng văn bản của cơ quan kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm.
Hai bên thoả thuận chọn cơ quan kiểm nghiệm của nước đặt gia công hay nước
nhận gia công. Văn bản kiểm nghiệm phẩm chất và quy cách thành phẩm được mỗi
bên giữ một bản, cơ quan kiểm nghiệm giữ một bản.
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 7

 Điều khoản về nguyên vật liệu: nguyên vật liệu là đối tượng của hợp đồng gia công
thường toàn bộ nguyên vật liệu để sản xuất, chế biến sản phẩm gia công nhưng
cũng có khi chỉ nguyên vật liệu chính. Điều khoản về nguyên vật liệu phải được
quy định cụ thể về loại nguyên vật liệu, tên nguyên vật liệu, số lượng phẩm
chất…và tỷ lệ tiêu hao nguyên vật liệu.
 Điều khoản về giá cả: Đây là điều khoản cơ bản của tất cả các loại hợp đồng. Trong
hợp đồng gia công cho nước ngoài, việc quy định giá cả hết sức chi tiết, cụ thể đối
với từng loại sản phẩm, từng công đoạn.
 Điều khoản về phương thức thanh toán: Là điều khoản quan trọng được các bên
quan tâm thoả thuận khi ký kết hợp đồng. Thông thường trong hợp đồng gia công
cho nước ngoài áp dụng phương thức thanh toán bằng ngoại tệ mạnh và theo thủ
tục L/C.
 Điều khoản về thời hạn giao hàng và hình thức giao hàng: Điều khoản này quy định
chính xác thời hạn giao nguyên vật liệu chính và phụ, thời hạn giao sản phẩm. Đây
là điều khoản quan trọng đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện dúng thời hạn,
không gây mất ổn định trong sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến quyền lợi của các
bên.
 Điều khoản về kiểm tra hàng hoá: Đây là điều khoản quan trọng quy định việc
kiểm tra nguyên vật liệu, thành phẩm thuộc cơ quan nào. Trong trường hợp hai bên
đã thoả thuận cơ quan kiểm tra thuộc phía Việt Nam mà vào thời điểm kiểm tra bên
đặt gia công lại cử chuyên gia sang thì quyết định của chuyên gia được coi là quyết

 Xin giấy phép nhập khẩu: Sau khi ký hợp đồng gia công, bên đặt gia công phải tiến
hành giao nguyên phụ liệu để bên nhận gia công tiến hành gia công. Bên nhận gia
công phải tiến hành xin giấy phép của Bộ thương mại để đưa số nguyên phụ liệu của
bên đặt gia công vào trong nước.
 Mở và kiểm tra L/C: Đối với trường hợp thanh toán qua thư tín dụng.
 Tổ chức gia công chuẩn bị để giao hàng: Đây là vấn đề mấu chốt trong quá trình thực
hiện hợp đồng gia công, nó quyết định uy tín cũng như đảm bảo hợp đồng. Các vấn
đề chủ yếu bao gồm: Tiến hành gia công thử, tổ chức gia công, đóng gói bao bì hàng
xuất khẩu, kẻ vẽ ký mã hiệu, kiểm tra chất lượng hàng hoá.
 Thuê tàu chở hàng (hoặc uỷ thác thuê tàu) theo các điều kiện ghi trong hợp đồng.
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 9

 Làm thủ tục hải quan: bên nhận gia công phải khai báo hàng hoá lên tờ khai để cơ
quan hải quan kiểm tra
 Giao hàng hoá lên tàu hoặc đại lý vận tải
 Làm thủ tục thanh toán
 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại

III. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM

Lâu nay vẫn có ý kiến cho rằng Việt Nam bị rơi vào “bẫy gia công”, rằng gia công chỉ
là bán mồ hôi với giá rẻ, công đoạn gia công là công đoạn tạo ra “giá trị gia tăng” thấp nhất
trong chuỗi giá trị, và vì thế cần chấm dứt chuyện này càng sớm càng tốt.

Nhưng nếu đi sâu phân tích ta dễ dàng nhận thấy gia công không phải là nguyên nhân
kìm hãm sự phát triển kinh tế Việt Nam, mà trái lại, chính thị trường lao động Việt Nam với
lợi thế giá nhân công rẻ là cơ sở thu hút các hợp đồng gia công xuất khẩu từ nước ngoài. Đó
là một thực tế phản ánh tình hình gia công xuất khẩu đã và đang tồn tại ở Việt Nam.

III.1 Kinh tế gia công là xu hướng của kinh tế toàn cầu

ngược, chứ tuyệt nhiên không phải là cái gì đó yếu kém cần ngăn chặn hay từ bỏ. III.2 Nguy cơ biến thành bãi thải công nghệ rác

Kinh tế gia công không nhất thiết biến đất nước thành bãi thải công nghệ. Việc công nghệ
nào được sử dụng – Công nghệ cao hay công nghệ thấp là do hiệu quả kinh tế quyết định, và
không phải lúc nào sử dụng công nghệ cao cũng có hiệu quả hơn dùng công nghệ thấp. Nếu
nói công nghệ tiêu tốn nhiều năng lượng hoặc gây ô nhiễm môi trường, thì đó không phải là
hậu quả mang lại của nền kinh tế gia công, mà là do sơ hở trong qui hoạch, quản lý của các
cơ quan chức năng, hoặc do lỗi của các đơn vị sản xuất vì lợi ích cá nhân đã nhắm mắt làm
lơ, sản xuất không đi đôi với công tác bảo vệ môi trường.

III.3 Kinh tế gia công không đảm bảo tốt đời sống vật chất cho người lao động
Thường có quan điểm cho rằng nền kinh tế gia công là nền kinh tế thâm dụng lao động,
lương trả cho công nhân chỉ đủ sống ở mức tằn tiện… nhận định như vậy là đã lộn ngược vấn
đề, lấy nguyên nhân làm hệ quả. Về bản chất, gia công không đương nhiên đồng nghĩa với
thâm dụng lao động. Mức độ thâm dụng lao động phụ thuộc vào giá nhân công của nước sở
tại ở mỗi giai đoạn nhất định.

Ví dụ cụ thể nếu Việt Nam thuê doanh nghiệp Đức sản xuất linh kiện xe hơi, hoặc lắp ráp
hàng điện tử, họ sẽ dùng công nghệ hiện đại đòi hỏi rất ít lao động sống. Đó là do nhân công
của Đức đắt đỏ, nên dùng máy móc sẽ có lợi hơn.

Với các nước kém phát triển thì ngược lại, dùng lao động nhân công có lợi hơn dùng lao
động máy móc. Do giá nhân công ở đây rẻ nên các nước khác phát triển sẽ thường chủ động
giao công đoạn đòi hỏi nhiều sức lao động cho các nước này thực hiện. Như thế giá lao động
rẻ là cái có trước, còn cách thức gia công thâm dụng lao động là cái có sau. Nhưng người ta
rất hay bị hiện tượng đánh lừa, cứ nghĩ rằng gia công là thâm dụng lao động. Do có thể trả
lương thấp và áp lực của Việc cạnh tranh nên các doanh nghiệp có xu hướng giảm giá gia

1%). Việt Nam có tới 70% dân số sống ở nông thôn, tức là mỗi người nông dân chỉ sử dụng
1/10 năng lực của mình, còn phần lớn thời gian là thất nghiệp. Cứ mỗi người lao động ly
nông và chuyển sang khu vực phi nông nghiệp thì sản lượng nông nghiệp không vì thế mà
giảm đi, trong khi một lượng giá trị mới lại được tạo ra trong khu vực công nghiệp, dịch vụ,
bổ sung vào GDP của đất nước. Nền kinh tế nhờ đó phát triển, đất nước giàu dần lên.

Quá trình này sẽ còn tiếp diễn cho đến khi số lao động trong khu vực nông nghiệp chỉ còn
chiếm vài %, kéo theo thu nhập đầu người của nông dân tăng lên cả chục lần so với hiện nay.

Quá trình đó đòi hỏi vốn đầu tư; vốn đầu tư tạo ra phương tiện sản xuất (nhà xưởng, máy
móc, nguyên liệu…) để người lao động có thể sử dụng sức lao động của mình và tạo ra giá trị
mới.

Với những nước đang trong quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam thì phát triển phải dựa
trên vốn đầu tư và lao động là điều đương nhiên và tất yếu. Hơn nữa, đây là con đường hợp
lý, vì nó tạo ra Việc làm, giảm thất nghiệp ở nông thôn, chuyển đổi cơ cấu lao động, giải
quyết đồng thời cả vấn đề kinh tế lẫn xã hội. Dư địa cho cách thức phát triển kiểu này của
Việt Nam còn rất lớn, không như những ý kiến cho rằng Việt Nam đã đến lúc chấm dứt phát
triển dựa trên đầu tư và lao động. Việc sử dụng vốn đầu tư sao cho hiệu quả lại là chuyện
khác, không nên lẫn lộn.

Thoạt tiên, những người lao động mới chân ướt chân ráo từ đồng quê tìm tới các khu công
nghiệp kiếm Việc làm, họ sẵn sàng nhận đồng lương rất thấp – dù sao vẫn cao hơn so với thu
nhập ở quê và có thể chấp nhận được với mức sống hiện tại.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống trung bình được nâng lên, người
công nhân bắt đầu không chấp nhận mức lương như cũ. Họ yêu sách đòi tăng lương. Cứ sau
mỗi dịp Tết là các doanh nghiệp lại đau đầu với vấn đề nhân sự. Giới chủ buộc phải nhượng
bộ, tăng lương cho công nhân. Cứ như thế tiền lương của công nhân tăng dần lên. Nhân công
dần đắt đỏ buộc chủ doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ sang loại tiên tiến, ít thâm dụng
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 13

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may qua các năm
Nguồn:
http://www.Vnanet.com.vn/tin-thi-truong-hang-hoa-Vet-
nam.gplist.288.gpopen.176789.gpside.1.gpnewtitle.kim-ngach-xuat-khau-hang-det-may-cua-
Vet-nam-nam-2009-giam-nhe-0-6-so.asmx Theo số liệu thống kê, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong tháng 12/2009 đạt 881,13

14
16
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
qua các năm (tỷ USD)
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 14

Các doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu và kim ngạch xuất khẩu trên 20% gồm, các
Tổng công ty: Phong Phú, Việt Thắng, Nhà Bè, May 10, Dệt May Nam Định; các công ty
Dệt: Dệt kim Đông Xuân, Sợi Phú Bài. Doanh thu nội địa trên 1.000 tỷ đồng, bao gồm các
Tổng công ty: Phong Phú (2.175 tỷ đồng), Dệt May Hà Nội (1.410 tỷ đồng), Việt Thắng
(1.199 tỷ đồng); các công ty: TNHH MTV TM thời trang Dệt May Việt Nam (1.350 tỷ
đồng), Sản xuất XNK (1.125 tỷ đồng).

Nguồn:
http://www.tapchicongnghiep.vn/News/channel/1/News/310/14020/Chitiet.html

Năm 2011, toàn ngành phấn đấu tăng trưởng từ 10% - 20%, trong đó, giá trị SXCN tăng
14%, doanh thu tăng 18%, kim ngạch xuất khẩu tăng 20%; thu nhập bình quân tăng 10% và
phấn đấu tạo công ăn việc làm cho 10.000 đến 15.000 người lao động. Cũng trong năm 2011:
kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dệt may đạt 13,8 tỷ USD, xuất khẩu tơ sợi các loại ước đạt
1,8 tỷ USD. Tổng cộng kim ngạch xuất khẩu của dệt may và tơ sợi đạt 15,6 tỷ USD, tăng gần
38% so với năm 2010. Với kết quả đó, ngành tiếp tục giữ vị trí số 1 trong hoạt động xuất
khẩu của cả nước. Điểm nổi bật về hoạt động ngoại thương của ngành dệt may năm 2011, đó
là đã suất siêu 6,5 tỷ USD.

Nguồn:
http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=500399&co_id=30065
http://Vnanet.com.vn/tin-thi-truong-hang-hoa-Vet-
nam.gplist.294.gpopen.211144.gpside.1.gpnewtitle.det-may-mat-hang-co-kim-ngach-xuat-

Trong 4 thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may Vệt Nam, EU là thị trường duy nhất có
mức suy giảm nhẹ trong năm 2012, đạt 2,5 tỷ USD, giảm 3,8% so với năm 2011. Ba thị
trường Hoa Kỳ (đạt 7,5 tỷ USD), Nhật Bản (đạt 2,0 tỷ USD) và Hàn Quốc (đạt 1,1 tỷ USD)
đều có mức tăng cao hơn mức tăng chung (7,5%) của nhóm hàng này, lần lượt là 8,7%,
22,2% và 17,6%.

Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 16

Biểu đồ 3 : Tỷ trọng xuất khẩu theo các loại hình của hàng dệt may năm 2012

Từ nhiều năm qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo hình thức gia công
cho nước ngoài (xuất gia công) và xuất hàng sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu (xuất sản
xuất xuất khẩu).Năm 2012, tỷ trọng hai loại hình này chiếm hơn 96% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; trong đó, xuất gia công chiếm 75,3%, xuất sản xuất
xuất khẩu chiếm 21,2%.

Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012 theo mã HS Hàng dệt may của Việt Nam xuất ra thế giới chủ yếu là nhóm hàng bộ com- lê, quần áo đồng
bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần ống chẽn
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 17

và quần soóc dành cho phụ nữ và trẻ em gái (HS 6204 và HS 6104), bộ com- lê, quần áo
đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần ống
chẽn và quần soóc dành cho nam giới và trẻ em trai (HS6203); các loại áo bó, áo chui đầu, áo
cài khuy, gi-lê (HS6110); áo phông, áo may ô và loại áo lót khác (HS6109)

Dự kiến trong năm 2013 ngành dệt may sẽ xuất khẩu từ 18,8-19,2 tỷ USD, đạt mức tăng
trưởng trên 10% so với cùng kỳ và tiếp tục chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu ngành gia

Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 18

những thành tựu đó đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Sau đây là
một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục những tồn tại đó và thúc đẩy hoạt động gia công
xuất khẩu của công ty.
V.1.1. Đẩy mạnh hoạt động marketing nghiên cứu và tiếp cận thị trường
Thị trường là tấm gương phản ánh mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Vậy
nghiên cứu thị trường là rất cần thiết, qua nghiên cứu thị trường sẽ giúp công ty:
 Nắm bắt được sự biến động của cầu mà nhu cầu thị trường về sản phẩm
may mặc hết sức phong phú, đa dạng, luôn thay đổi theo thị hiếu và có tính
thời vụ.
 Nghiên cứu và dự đoán thị trường sẽ giúp công ty nắm được tình hình tiêu
dùng, chi phí cho việc mua sắm hàng may mặc chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong
tổng chi phí, từ đó mà dự báo được từng nhóm khách hàng có thể. Giúp
công ty xác định được các mục tiêu và các biện pháp có thể đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng.
Trong nền kinh tế hiện đại, công tác Marketing được coi là đặc biệt quan trọng đối với
các doanh nghiệp. Nghiên cứu thị trường sẽ đem đến các thông tin làm cơ sở cho công ty
xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh của mình. Một doanh nghiệp mạnh gắn liền với
khả năng Marketing mạnh, do đó cần phải có cái nhìn mới về Marketing đặc biệt là
Marketing quốc tế, phải nhận thức được tầm quan trọng của Marketing như là một công
cụ hàng đầu của quản trị kinh doanh.
Sau đây là một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và dự báo thị trường:
 Công việc quan trọng nhất là tạo dùng được một đội ngũ cán bộ Marketing có
năng lực thông qua các biện pháp tuyển dụng mới và tổ chức đào tạo nâng cao
trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ thị trường.
 Tổ chức một phòng Marketing với đầy đủ các trang thiết bị thông tin, tin học hiện
đại, tích cực áp dụng kỹ thuật quản trị Marketing hiện đại.
 Liên kết chặt chẽ với tổng công ty dệt may Việt Nam và các tổ chức xúc tiến
thương mại ( phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam; các tổ chức xúc tiến

V.1.3. Đầu tư trang thiết bị hiện đại nâng cao chất lượng sản phẩm
Đây là một trong những vấn đề rất quan trọng, bởi vì nó giúp cho công ty cụ thế hơn
trong tình hình thị trường có sự cạnh tranh ngày một gay gắt. Đầu tư trang thiết bị hiện
đại nâng cao chất lượng sản phẩm, sẽ giúp cho khách hàng ngày một an tâm, tin tưởng
hơn vào khả năng của công ty để đáp ứng các yêu cầu của họ. Để đầu tư trang thiết bị
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 20

nâng cao chất lượng sản phẩm thì cần phải có nguồn vốn lớn, vậy nguồn vốn này lấy từ
đâu ra đây là vấn đề rất nan giải.
Thực tế trong hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc công ty còn thiếu một số thiết
bị máy mục chuyên dùng để sản xuất ra các mặt hàng có chất lượng cao. Khi thiếu trang
thiết bị để thực hiện các hợp đồng gia công công ty phải đi mượn hoặc thuê từ một số cơ
sở khác, hoặc từ khách hàng đặt gia công. Đây là vấn đề rất phiền toái vì nó làm cho quá
trình thực hiện hợp đồng gia công mất sự chủ động. Mặt khác khi khách hàng muốn đặt
hàng gia công thì họ còng phải kiểm tra trang thiết bị sản xuất để chứng tỏ rằng công ty sẽ
đáp ứng tốt các yêu cầu mà họ đặt ra.
Để nâng cao chất lượng sản phẩm ngoài việc đầu tư đổi mới trang thiết bị, công ty còng
phải đào tạo được đội ngũ người lao động có trình độ tay nghề cao và có tinh thần trách
nhiệm với công việc. Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường
lực lượng lao động của công ty thường bị xáo trộn nên công ty thường xuyên phải đào tạo
và tuyển chọn thêm những lao động từ bên ngoài vào. Công ty cần phải có chiến lược
nhân sự có thể nhằm tuyển chọn những lao động có tay nghề cao còng như mạnh dạn sa
thải những lao động có tay nghề quá thấp. Để làm được điều này công ty cần có chế độ
đãi ngộ thoả đáng nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám trong lực lượng lao động.
Mặt khác khi có trang thiết bị hiện đại rồi công ty cần phải lập kế hoạch toàn diện hơn
nữa tránh tình trạng đứt chuyền làm giảm năng suất của người lao động.
V.1.4. Phát triển các quan hệ đối tác
Quan hệ đối tác có thể coi là một tài nguyên vô hình của một doanh nghiệp. Công nghiệp
ty chính sách thể phát triển được hay không là nhê vào hai mặt: Thực lực của công ty và
các quan hệ đối tác mà công ty đó tạo dùng được. Để giữ vững được các quan hệ đó, công

tổ chức thi tuyển để có thể tuyển chọn được đội ngũ cán bộ có năng lực trong kinh doanh,
thích ứng nhanh chóng với sự thay đổi của thị trường làm cho công ty tránh được các rủi
ro trong kinh doanh, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh, tiếp thu được công nghệ sản
xuất mới, hiện đại từ phía nước ngoài, có khả năng phân tích đánh giá được tình hình sản
xuất kinh doanh, vạch ra các chủ trương, chương trình hành động thích hợp cho công ty.
Một trong những yêu cầu đặt ra cấp bách hiện nay đối với công ty là phải tạo dùng một
đội ngũ vững mạnh về quản trị Marketing, quản lý công tác xuất nhập khẩu và cán bộ có
khả năng tổ chức đàm phán trong kinh doanh quốc tế. Công ty có thể lựa chọn một trong
các phương án sau:
 Tổ chức cho các cán bộ tham gia các khoá học nghiệp vụ chuyên môn tại các
trung tâm đào tạo quản trị kinh doanh hay tại các trường đại học trong nước.
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 22

 Gửi các cán bộ cónăng lực ra nước ngoài học tập.
 Thuê chuyên gia về đào tạo tại chỗ.
Với chương trình đào tạo hợp lý công ty sẽ có một đội ngũ cán bộ quản lý vững mạnh
có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm để nâng cao khả năng
cạnh tranh của mình trên thị trường.
V.1.6 Nâng cao tỷ trọng gia công theo phương thức mua đứt bán đoạn, từng bước
tạo tiền đề chuyển sang xuất khẩu trực tiếp
Các doanh nghiệp gia công xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam hiện nay thực hiện gia
công đơn thuần là chủ yếu, điều này đó làm giảm lợi nhuận và làm chậm quá trình thâm
nhập mặt hàng của mình vào thị trường thế giới. Gia công xuất khẩu, đặc biệt là phương
thức gia công đơn thuần chỉ là hoạt động kinh doanh tạm thời trong giai đoạn trước mắt,
trong tương lai công ty cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài bằng cách xuất khẩu
trực tiếp các sản phẩm của mình. Muốn làm được điều này thì ngay bây giờ công ty cần
phải đẩy mạnh hoạt động gia công theo hình thức mua đứt bán đoạn đây là tiền đề để
công ty chuyển sang xuất khẩu trực tiếp. Gia công theo hình thức mua đứt bán đoạn sẽ
giúp công ty tìm được những nhà cung cấp nguyên phụ liệu có uy tín và chất lượng ổn
định. Mặt khác gia công theo hình thức này làm cho công ty luôn phải thích ứng với sự

tiến độ giao hàng.
Đơn giản hoá các thủ tục hành chính và chống tham nhũng trong các cơ quan chức năng
của Nhà nước như thuế vụ, hải quan, ngân hàng…cần đổi mới quy chế và cách thức làm
việc, xét duyệt đầu tư, vay vốn đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với mọi ngành
mọi cấp.
V.2.3 Nhà nước cần có các chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy các hoạt động gia công
Nước ta là một nước có nền kinh tế có xuất phát điểm rất thấp, các doanh nghiệp
thường đi sau trong quá trình hội nhập vì vậy Nhà nước cần phải có những chính sách
nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất. Có thể là:
 Về lãi vay ngân hàng:
Hiện nay ngành may mặc của nước ta các máy móc sản xuất đa phần là các máy
móc lạc hậu, một số máy móc vẫn còn mới nhưng trình độ công nghệ không cao do vậy
chất lượng sản phẩm không cao. Để đầu tư cho sản xuất thì nguồn vốn của bản thân
doanh nghiệp không thể nào đáp ứng được, do vậy cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Nhà nước cần phải có sự hỗ trợ về mặt tín dụng như đơn giản các thủ cho vay vốn, giảm
lãi vay…
Quản trị xuất nhập khẩu- TS. Bùi Thanh Tráng 24

 Về quản lý và phân bổ hạn ngạch :
Trong những năm qua Nhà nước đó có thay đổi rất nhiều trong vấn đề quản lý và
phân bổ hạn ngạch. Mặc dù với cách phân bổ hiện nay của Bộ thương mại đó có nhiều
tiến bộ nhưng vấn đề phân bổ hạn ngạch vẫn còn có nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết.
Thực tế hiện nay số lượng sản phẩm sản xuất để xuất khẩu bao giê còng lớn hơn số lượng
trong hạn ngạch. Do vậy công ty liên tục bị thiếu hạn ngạch và luôn phải lo lắng xin hạn
ngạch bổ sung hoặc tìm các doanh nghiệp khác để xuất khẩu uỷ thác. Điều này làm chi
phí sản xuất gia công tăng, đồng thời tạo ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong vấn đề xin
hạn ngạch.
V.2.4 Tăng cường cung cấp thông tin khoa học công nghệ về ngành dệt may
Trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp thường thiếu thông tin về
công nghệ và thị trường công nghệ, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất


VI. HỢP ĐỒNG GIA CÔNG NGÀNH MAY MẶC.
1. Hợp đồng gia công hàng may mặc xuất khẩu thường có dạng:
PROCESSING CONTRACT
N
o
:….
Date:….
Between: Name:
Address:…
Fax:… E_mail:….
Hereinafter called as “THE CONSIGNOR”
And: Name:…
Address:…
Fax:… Telex: … E_mail:….
Hereinafter called as “THE CONSIGNEE”
Both parties have agreed to sign this contract under the following terms and conditions:
1. Object of the contract:
2. Commodity, price and amount:
 Commodity:
 Style No:
 Quantity:

Trích đoạn Các điều kiện khác:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status