SỰ KHÁC NHAU GIỮA ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM - Pdf 11

Trường ĐH kinh tế TP.HCM
Khoa ngân hàng
Tên đề tài:
Danh sách nhóm (NH12)
Trần Ngọc Phương
Nguyễn Thanh Hồng
Hứa Thiếu Nam
Nguyễn Văn Hư
Thành phố Hồ chí minh, tháng 9 năm 2010
1
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
2.3.2 Khác nhau 9
3 Thực trạng về thị trường tái bảo hiểm Việt Nam 10
4 Giải pháp cho hoạt động tái bảo hiểm Việt Nam 12
3
1
2 Cơ sở lý luận
2.1 Đồng bảo hiểm
2.1.1 Định nghĩa
Đồng bảo hiểm là sự phân chia theo tỷ lệ đối với cùng một rủi ro giữa nhiều người bảo
hiểm với nhau qua sơ đồ sau:
Mối quan hệ trong đồng bảo hiểm
Như vậy mỗi nhà đồng bảo hiểm chấp nhận một phần trăm nào đó của rủi ro, đổi lại
cũng chỉ nhận được một tỷ lệ tương ứng về phí và cũng phải chỉ trả một tỷ lệ bồi thường như
thế.
2.1.2 Mức chấp nhận
Tỷ lệ phần trăm rủi ro đựơc chấp nhận bởi mỗi nhà đồng bảo hiểm tùy thuộc vào các
đặc điểm đựoc xác định trước. Nó bị chi phối bởi khả năng tài chính của mỗi người. Vì thế
mỗi người đồng bảo hiểm phải xác định cho mình một “Mức chấp nhận” hay còn gọi là
“Mức ký kết”.
Mức chấp nhận là số tiền tối đa mà một nhà bảo hiểm có thể chấp nhận đảm bảo đối với
một rủi ro nhất định.
Mức chấp nhận này được xác định theo loại và bản chất của rủi ro.
2.1.3 Phương diện pháp lý của đồng bảo hiểm
Về mặt pháp lý, người tham gia bảo hiểm phải biết tất cả các nhà đồng bảo hiểm. Khi
có tổn thất xảy ra, anh ta phải thực hiện việc khiếu nại đòi bồi thường đối với mỗi người nói
trên. Mỗi người đồng bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm co phần của mình và không phải chịu
trách nhiệm cho nhau. Như vậy, đồng bảo hiểm có thể coi là một rủi ro được đảm bảo bởi
nhiều hợp đồng dưới giá trị.
2.1.4 Phương diện ứng dụng
Trong thực tế, nếu đồng bảo hiểm được thể hiện bằng hàng loạt các hợp đồng riêng lẻ

lại cho họ một phần phí bảo hiểm qua hợp đồng tái bảo hiểm.
Có thể thấy sự cần thiết của tái bảo hiểm qua các lý do sau:
An toàn: một trong những lý do để mua bảo hiểm là người được bảo hiểm muốn giảm
bớt lo âu về sự không chắc chắn của tổn thất. Mua bảo hiểm tạo ra yếu tố an tâm. Tổ chức
bảo hiểm cũng tìm kiếm sự an toàn, an tâm và đạt được những điều này bằng việc tái bảo
hiểm.
Góp phần ổn định tỉ lệ bồi thường: tổ chức bảo hiểm gốc có thể tránh sự biến động
trong các khoản chi bồi thường trong một năm và qua nhiều năm bằng việc tái bảo hiểm.
5
Người được bảo hiểm
Người tái bảo hiểm
(Người nhận tái bảo hiểm)
Người tái bảo hiểm
(Người nhận chuyển nhượng tái bảo hiểm)
Người bảo hiểm gốc
(Người nhượng tái bảo hiểm)
Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng chuyển nhượng TBH
Hợp đồng TBH
Tăng cường khả năng nhận bảo hiểm: tổ chức bảo hiểm có thể có giới hạn về tài chính
đối với mức độ rủi ro mà họ có thể chấp nhận. Vì vậy dịch vụ có thể bị từ chối hay chỉ được
chấp nhận một phần. Bằng cách tái bảo hiểm tổ chức bảo hiểm gốc có khả năng tăng năng
lực của họ đê chấp nhận dịch vụ.
Lợi ích “vĩ mô” trên thị trường bảo hiểm: một lời ích cuối cùng là chi phí rủi ro được
dàn trải trong toàn thị trường bảo hiểm thế giới. Rất nhiều các tổ chức tái bảo hiểm hàng đầu
ở các nước như: Đức, Thụy Sĩ, Nhật BẢn, Mỹ, Pháp, Anh. Bằng việc tái bảo hiểm cho các
tổ chức này và một số tổ chức khác, rủi ro không chỉ tác động vào một nền kinh tế mà rủi ro
của một quốc gia được san sẻ trên toàn thế giới.
2.2.4 Phân loại tái bảo hiểm:
Căn cứ vào tính chất các loại tái bảo hiểm, toàn bộ các hợp đồng tái bảo hiểm được

• Có tính chất bắt buộc đối với cả bên nhượng tái bảo hiểm và bên nhận tái bảo
hiểm. Khi phát sinh các dịch vụ qui định, bắt buộc tổ chức nhựơng tái bảo hiểm
phải có nghĩa vụ chuyển nhượng, đồng thời các dịch vụ tổ chức chuyển nhượng
giao đều bắt buộc tổ chức nhận tái bảo hiểm có trách nhiệm phải nhận, không
được phép từ chối.
6
• Mang tính chất toàn diện, bao gồm tất cả các loại nghiệp vụ. Mọi nghiệp vụ tổ
chức nhượng tái bảo hiểm trực tiếp từ những người tham gia bảo hiểm đều có
thể thu xếp chào tái bằng một hợp đồng tái bảo hiểm cố định.
• Hợp đồng mang tính chất lâu dài, thời hạn có thể là một năm hoặc là vô hạn
định.
• Khi xét thấy có vấn đề nghi vấn, không còn tiếp tục được nữa thì cả hai bên đều
có quyền từ bỏ hợp đồng nhưng phải được thông báo trước ít nhất là 30 ngày.
2.2.4.3 Tái bảo hiểm mở sẵn hay dự ước
Đây là loại tái bảo hiểm kết hợp giữa tái bảo hiểm tạm thời với tái bảo hiểm cố định.
Hợp đồng tái bảo hiểm loại này mang những đặc điểm sau:
Tổ chức nhượng tái bảo hiểm có quyền tự do lựa chọn, tùy ý tái bảo hiểm theo phương
thức nào nhưng tỏ chức nhận tái bảo hiểm bắt buộc nhận mọi dịch vụ mà tổ chức nhượng tái
bảo hiểm chuyển giao.
Tái bảo hiểm mở sẵn không đưocwj áp dụng cho mọi nghiệp vụ tổ chức nhượng nhận
bảo hiểm mà chỉ áp dụng cho một loại nghiệp vụ đặc biệt.
Kỳ hạn của hợp đồng tái bảo hiểm mở sẵn không nhất thiết phải trùng với kỳ hạn của
hợp đồng bảo hiểm gốc.
2.2.5 Các phương thức tái bảo hiểm
Để tiến hành phân tán rủi ro, các tổ chức bảo hiểm đã vận dụng nhiều phương thức tái
bảo hiểm khác nhau. Có thể chia ra làm hai phương thức tái bảo hiểm khác nhau căn cứ vào
việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng tái bảo hiểm, hai phương
thức đó là: tái bảo hiểm tỷ lệ và tái bảo hiểm không tỷ lệ.
2.2.5.1 Tái bảo hiểm tỷ lệ
Tái bảo hiểm tỷ lệ là tái bảo hiểm thực hiện việc phân chia rủi ro theo tỷ lệ trên số tiền

hiểm giống như việc phân chia trách nhiệm trong phương thức tái bảo hiểm thặng dư, chỉ
khác ở chỗ tái bảo hiểm thặng dư dựa vào số tiền bảo hiểm, còn tái bảo hiểm vượt mức bồi
thường dựa vào số tiền bồi thường.
Trách nhiệm của tổ chức nhận tái bảo hiểm được xếp theo các lớp. Tổ chức nhận tái bảo
hiểm nhận bảo hiểm lớp nào thì khi tổn thất xảy ra sẽ bồi thường theo lớp đó.
2.2.5.1.4 Tái bảo hiểm vượt mức tỷ lệ tổn thất
Theo phương thức tái bảo hiểm này tổ chức nhượng tái bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi
thường trong trường hợp kết quả toàn bộ jnghiệp vj của tổ chức nhượng tái bảo hiểm có tỷ lệ
bồi thường nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ bồi thường nhất định. Phần tỷ lệ bồi thường thực tế vượt
quá tỷ lệ bồi thường giữ lại được tổ chức nhượng tái bảo hiểm chuyển giao cho các tổ chức
nhận tái bảo hiểm .
Những tổ chức nhận tái bảo hiểm theo phương thức này không phải gánh chịu trách
nhiệm bồi thường đến một tỷ lệ vô hạn. Mà tùy theo khả năng thực tế, tổ chức nhận tái bảo
hiểm có thể nhận bồi thường trong khoảng tỷ lệ phần trăm nhất định. Khi xảy ra tổn thất sẽ
phải bồi thường theo tỷ lệ nhận tái này. Trong đó tỷ lệ bồi thường được xác định:
Phí bảo hiểm trả cho tổ chức nhận tái bảo hiểm vượt mức tỷ lệ tổn thất thường được
tính dựa trên cơ sở số liệu thống kê tình hình tổn thất trong 10 năm trước đó để tính ra tỷ lệ
tổn thất bình quân một năm, cộng thêm hệ số an toàn và những chi phí liên quan đến hợp
đồng để tổ chức nhận tái bảo hiểm không bị lỗ.
2.3 So sánh đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm
2.3.1 Giống nhau
Đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm đều là các kỹ thuật phân chia rủi ro giúp nhà bảo hiểm tránh
việc chấp nhận đảm bảo cho một rủi ro có giá trị quá lớn. Bởi vì, trong trường hợp tổn thất,
phí bảo hiểm thu được không đủ để bù đắp: không thể chỉ một tổn thất mà có thể đe dọa cả
cộng đồng bảo hiểm.
8
Tỷ lệ tổn thất =
Phí thu
Số tiền bồi thường
x 100%

đồng bảo hiểm và các phần rủi
ro mà họ chấp nhận đảm bảo do
người bảo hiểm chủ trì đứng ra
đại diện trong mối quan hệ với
khách hàng.
Trong thực tế, có nhiều hợp
đồng được thiết lập (hợp đồng
BH, hợp đồng TBH, hợp đồng
chuyển nhượng TBH…).
Khả năng một nhà
bảo hiểm gánh chịu toàn
bộ tổn thất
Mỗi nhà đồng bảo hiểm chấp
nhận một phần trăm nào đó của
rủi ro và cũng phải chỉ trả một
tỷ lệ bồi thường như thế. Không
có trường hợp: một nhà đồng
bảo hiểm phải gánh chịu toàn bộ
tổn thất.
Người bảo hiểm gốc có thể
phải gánh chịu toàn bộ tổn thất
nếu như rủi ro xảy ra nằm ngoài
thời gian có hiệu lực của hợp
đồng TBH. (Vì thời hạn bắt đầu
và kết thúc trách nhiệm của hợp
đồng tái bảo hiểm có thể không
trùng với trách nhiệm của hợp
đồng bảo hiểm gốc nên sẽ gây
bất lợi cho người bảo hiểm
gốc).

- Đóng góp vào GDP (%)
0,49 0,57 1,46 1,85 1,74 2,11
+ Phi nhân thọ
0,46 0,40 0,49 0,65 0,61 0,72
+ Nhân thọ
0,12 0,81 0.97 0,81 0,83
+ Hoạt động đầu tư
0,03 0,05 0,16 0,23 0,33 0,56
- Phí bảo hiểm bình quân đầu
người (nghìn đồng)
17 27 88 164 177 208
3. Đóng góp vào ổn định kinh
tế - xã hội
909 1.494 4.949 9.373 9.957 14.199
- Bồi thường và trả tiền bảo
hiểm (tỷ đồng)
760 789 1.400 4.469 5.690 6.422
- Lập dự phòng nghiệp vụ để
đảm bảo trách nhiệm đã cam kết
(tỷ đồng)
149 705 3.549 4.904 4.267 7.777
4. Đầu tư trở lại nền kinh tế (tỷ
đồng)
1.232 2.664 9.955 25.724 30.661 44.945
6. Năng lực tài chính ngành
bảo hiểm

- Tổng tài sản (tỷ đồng)
1.703 3.692 12.503 31.871 39.698 58.000
- Tổng dự phòng nghiệp vụ (tỷ

Phi nhân thọ 1.641 2.047 2.732
Nhân thọ 53 437 69
Tổng phí bảo hiểm giữ lại 11.962 12.414 14.895
Phi nhân thọ 3.992 4.356 5.526
Nhân thọ 7.970 8.058 9.369
Bảng số liệu cho thấy tái bảo hiểm chỉ chiếm phần tỉ trọng nhỏ trên tổng số phí bảo hiểm gốc.
Tuy nhiên hoạt động tái bảo hiểm của khả năng phát triển mạnh trong tương lai vì Kể từ khi
quy định các DN buộc phải tái ít nhất 20% qua Tổng CTCP Tái bảo hiểm Việt Nam (Vinare)
bị bãi bỏ đã khiến cho lĩnh vực này trở nên cạnh tranh hơn. Không chỉ nhận/nhượng tái trong
nước, một số DN bảo hiểm đã mạnh dạn nhận/nhượng tái từ thị trường bảo hiểm nước ngoài.
Nhiều DN bảo hiểm phi nhân thọ đang tích cực tăng vốn với mục tiêu nâng tỷ lệ giữ lại và mở
rộng họat động kinh doanh tái bảo hiểm. Hoạt động tái bảo hiểm hiện chủ yếu diễn ra trong
lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, khu vực có nhiều DN trong nước tham gia. Theo số liệu từ
Bộ Tài chính, năm 2009, phí bảo hiểm giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là 9.366
tỷ đồng, chiếm 68,5% phí bảo hiểm gốc, tăng 1,5% so với tỷ lệ phí bảo hiểm giữ lại năm
2008. Phí nhượng tái toàn thị trường năm 2009 đạt 4.302 tỷ đồng, trong đó phí tái trong nước
khoảng 1.937 tỷ đồng và phần lớn được tái qua Vinare. Năm 2009, doanh thu phí nhận tái của
11
Vinare đạt trên 1.100 tỷ đồng, tăng 2,41% so với 2008. Phí nhượng tái là 776,3 tỷ đồng, tăng
0,19% so với năm 2008; trong đó nhượng cho các DN trong nước 362,1 tỷ đồng, tăng 29,18%
so với năm 2008, nhượng cho các DN nước ngoài 414 tỷ đồng. Doanh thu phí giữ lại đạt 338
tỷ đồng, tăng 7,89% so với năm 2008, đạt tỷ lệ phí giữ lại 30,3%.
Theo đánh giá của Vinare, sở dĩ hoạt động tái bảo hiểm năm 2009 sôi động là do kinh tế Việt
Nam vẫn tăng trưởng khá tốt (5,32%), cho dù khủng hoảng kinh tế thế giới chưa chấm dứt.
Đây là cơ sở để thị trường bảo hiểm tiếp tục phát triển mạnh mẽ (phi nhân thọ tăng 21%). Bên
cạnh đó, các DN bảo hiểm đã linh hoạt hơn trong việc tái bảo hiểm trên cơ sở phân tích đánh
giá rủi ro các mảng nghiệp vụ.
Vẫn theo đánh giá của Vinare, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 dự kiến khoảng
6,5%, trong đó các ngành công nghiệp và xây dựng tăng 7%, dịch vụ 7,5%, tổng kim ngạch
xuất khẩu dự kiến tăng 6%, thu hút vốn FDI dự kiến đạt khoảng 22 - 25 tỷ USD. Tăng trưởng

Theo quy định của Thông tư 155/2007/TT-BTC thì mức giữ lại có thể là 10% vốn chủ sở hữu
(tối thiểu 300 tỷ đồng theo quy định), tương đương 1,8 triệu USD. Thực tế, phần lớn DN bảo
hiểm chỉ giữ lại ở mức 100.000 đến 500.000 USD do nhiều yếu tố không đáp ứng được như:
chưa có chiến lược kinh doanh hoặc chiến lược kinh doanh chưa rõ ràng, một số ít DN chưa
góp đủ vốn pháp định, khả năng thanh toán có vấn đề do tình hình nợ đọng và đầu tư dài hạn
nhiều hơn quy định, doanh thu ít và cơ cấu thu không hợp lý, tỷ lệ tổn thất cao, biên khả năng
thanh toán không vững chắc Hơn nữa, quy định mức giữ lại 10% vốn chủ sở hữu là quá cao
trong tình hình Việt Nam hiện nay. Theo tài liệu của Singapore College of Insurance thì mức
giữ lại thông thường chỉ khoảng 0,5% đến 2,5% vốn chủ sở hữu hoặc không hơn 20% vốn lưu
động.
Ở Việt Nam, Công ty Tái bảo hiểm Vinare có nhiệm vụ tái lại cho các công ty bảo hiểm để
tăng phần giữ lại trong nước. Theo số liệu từ Vinare, tổng phí giữ lại cho thị trường trong
nước đạt gần 400 tỷ đồng/năm, chiếm 80% tổng phí tái bảo hiểm qua tái bảo hiểm bắt buộc.
Hiện nay, có một số công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm trên mức được giữ lại và thực hiện tái
lại phần giữ lại vượt mức (Retrosession) cho các công ty bảo hiểm khác. Việc làm này không
đúng luật, vì hoạt động tái lại tạo ra một rủi ro mới (nếu công ty bảo hiểm nhận tái lại không
có khả năng trả bồi thường thì công ty tái lại phải chịu trách nhiệm) nhưng không có vốn đảm
bảo. Hay nói cách khác, công ty bảo hiểm này kinh doanh tái bảo hiểm mà không cần vốn và
giấy phép. Mặt khác, việc vừa thực hiện tái bảo hiểm lần đầu (sơ cấp) mà công ty tái bảo hiểm
chuyên nghiệp không thực hiện, vừa thực hiện tái lại (thứ cấp) là nhiệm vụ chính của công ty
tái bảo hiểm, sẽ dẫn đến nhiều rủi ro về quản lý rủi ro do hiện tượng nhận trùng như đã nêu ở
trên, nếu bộ phận tái bảo hiểm của công ty không thật chuyên nghiệp như một công ty tái bảo
hiểm chuyên nghiệp. Việc này chỉ thực hiện được khi được Bộ Tài chính kiểm tra và cấp giấy
phép hoạt động tái bảo hiểm chuyên nghiệp. Hoạt động tái lại của các công ty bảo hiểm chưa
nhiều và còn nhỏ. Tuy nhiên, trong tình hình kinh doanh bảo hiểm gặp khó khăn như hiện
nay, xu hướng này có thể sẽ được bành trướng và chính là một nguy cơ tiềm ẩn.
Tái bảo hiểm, xử lý vấn đề ngoại tệ ra sao?
Chúng ta đều biết, ngoại tệ là vấn đề khó khăn chung của cả nước với tình trạng nhập siêu khá
cao như hiện nay.
13

14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
15
1
Nguyễn Nam Cường (nguồn đầu tư chứng khoán online www.gic.com)
2 Sách Nguyên Lý và Thực Hành Bảo Hiểm (2007 – Nhà xuất bản tài chính)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status