Chứng minh Sự tăng trưởng kinh tế đất nước sẽ kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm - Pdf 11

class="bi x0 y0 w1 h1"
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
Mục lục
LỜI PHÊ CỦA THẦY 5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5
Lời mở đầu 6
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM 7
I.Khái quát chung: 7
1.Nguồn gốc của bảo hiểm: 7
2.Định nghĩa: 7
3.Bản chất của bảo hiểm 8
2

3
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
2.Bảo hiểm Việt Nam phát triển cùng nền kinh tế nước nhà: 22
Phần kết luận 34
4
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
LỜI PHÊ CỦA THẦY
5
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt
là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Nền kinh tế của đất nước đang từng
bước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và dần khẳng định tiềm năng phát triển của mình. Đứng
trước ngưỡng cửa hội nhập đã tạo ra cho kinh tế Việt Nam những cơ hội lớn để có thể vươn lên,
song cũng gây ra không ít khó khăn và thử thách nhất định cho các doanh nghiệp trong nước.Cùng
với sự phát triển của kinh tế đất nước. Ngành bảo hiểm ở Việt Nam cũng đứng trước những cơ hội
và thách thức nhất định. Những hợp đồng kinh tế được ký kết ngày càng gia tăng về mặt số lượng
cũng như giá trị của nó ngày một lớn dần và lợi nhuận cũng như rủi ro luôn song hành cùng nhau
trong các hợp đồng này. Có thể nhận thấy rằng kinh tế tăng trưởng, đời sống xã hội ngày một phát
triển tất yếu đã kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm.
Sự ảnh hưởng sự phát triển của nền kinh tế đến sự phát triển của ngành bảo hiểm thể hiện ở rất nhiều
mặt: từ sự tăng về số lượng công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tạo một môi trường mới cạnh
tranh cho các doanh nghiệp. Thị trường bảo hiểm đã phát triển cả về số lượng. gia tăng số lượng sản
phẩm cung cấp, tăng chất lượng của dịch vụ, khách hàng được phục vụ một cách chu đáo.
Bài tiểu luận sau đây sẽ làm rõ hơn sự ảnh hưởng của sự phát triển của nền kinh tế với sự phát triển
của ngành bảo hiểm.
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn hẹp, tầm nhìn của sinh viên còn hạn chế nên bài tiểu luận còn
nhiều thiếu sót. Rất mong sự đóng góp của thầy và các bạn.!
6
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3

NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ
bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt
hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban
hành ngày 09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm
mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên
cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người
thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm."
Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:
“Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những
thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người
được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo
hiểm”.
3. Bản chất của bảo hiểm
Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại
tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích
bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất
được thường xuyên, liên tục. Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro,
quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ
cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp
vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được
bồi thường.
Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số
người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn
tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số
đông (the law of large numbers), càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi
người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.
II. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát triển cao ở nhiều nước
trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như đối tượng được bảo hiểm ngày càng rộng mở và trở

NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
4. Nguyên tắc bồi thường:
“Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất
phát sinh từ trách nhiệm pháp lý”. Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của
bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm chính là nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho
người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra.
Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường
như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn
thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Trong
bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong
một rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại
thực tế. Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn
thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ
được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại.
5. Nguyên tắc thế quyền:
Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo
hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi
thường cho mình. Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều
thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất. Khi số
tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý
nghĩa. Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất. Trong trường
hợp này, người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên
quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản,
giấy tờ, chứng từ, thư từ cần thiết cho người bảo hiểm.
III. Các loại hình bảo hiểm:
Các loại hình bảo hiểm rất đa dạng và có thể phân lọai dựa trên những tiêu chí khác nhau.
1. Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm :
Theo tiêu chí này, bảo hiểm có thể phân ra thành:
 Bảo hiểm xã hội (social insurance): là chế độ bảo hiểm của nhà nước, của đoàn thể xã
hội hoặc của các công ty nhằm trợ cấp cho các viên chức nhà nước, người làm công

11
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
 Bảo hiểm nhân thọ (life insurance): Bảo hiểm nhân thọ là việc bảo hiểm các rủi ro có
liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Đối với mỗi cá nhân,
mỗi gia đình, bảo hiểm nhân thọ giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp rủi ro, góp
phần ổn định cuộc sống. Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ:
- Bảo hiểm trọn đời
- Bảo hiểm sinh kỳ
- Bảo hiểm tử kỳ
- Bảo hiểm hỗn hợp
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ
 Bảo hiểm phi nhân thọ (non-life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách
nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.Theo
Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (ban hành 09/12/2000) thì bảo hiểm phi nhân thọ
gồm:
- Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người
- Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và
đường không
- Bảo hiểm hàng không
- Bảo hiểm xe cơ giới
- Bảo hiểm cháy, nổ
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm chung
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
- Bảo hiểm nông nghiệp
Ngoài ra, bảo hiểm phi nhân thọ cũng còn một số loại nghiệp vụ khác như: bảo hiểm
xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm du lịch, bảo hiểm trách nhiệm của người sử
dụng lao động

buộc.
13
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
IV. Tác dụng và vai trò của bảo hiểm :
Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quan chung với sự
phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nước, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn,
cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, sự tồn tại
của một thị trường bảo hiểm mạnh là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh tế thành
công nào. Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện. Ngoài việc giúp bù đắp thiệt
hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn
vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác. Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm
có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống,
công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường
1. Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất:
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất
phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi
thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ
đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi
thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người. Khi có tổn thất xảy đến với
đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó,
ổn định đời sống và quá trình sản xuất - kinh doanh.
Việc mua bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các công
ty bảo hiểm. Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống
hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất - kinh doanh
không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề.
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện
một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp
nhất những tổn thất có thể xảy ra. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được
giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh.
14

15
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh
doanh, trong cuộc sống cho con người.
16
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
PHẦN 2: MINH CHỨNG SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ KÉO THEO SỰ
PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM
I. Sự tác động của môi trường kinh tế nói chung đến sự phát triển của bảo hiểm:
Môi trường kinh tế là một trong những môi trường vĩ mô tác động đến ngành bảo hiểm và
một câu hỏi thường hay được đặt ra là “vì sao các quốc gia giàu có và phát triển thì bảo hiểm thương
mại lại phát triển ở đó?”. Và câu trả lời đó là do ở các quốc gia này có sự tích lũy rất lớn về của cải
cần được bảo hiểm (gia sản lớn, các khoản đầu tư quan trọng, những nguồn thu nhập cao…) và trình
độ nhận thức của người dân ở mức cao.
Quy mô và cơ cấu ngành của nền kinh tế một quốc gia có ảnh hưởng đến sự phát triển của thị
trường bảo hiểm không hề nhỏ chút nào. Những quốc gia có tỷ trọng ngành nông nghiệp lớn thì thị
trường bảo hiểm kém phát triển hơn những quốc gia có ngành sản xuất dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn
hơn.
Đặc trưng của bảo hiểm là nhận phí trước và chi trả, bồi thường sau do đó lạm phát là kẻ thù
của các nhà bảo hiểm. Đối với các hợp đồng dài hạn thì ảnh hưởng này dễ thấy trong khi đó, đối với
các hợp đồng ngắn hạn thì điều này ít thấy hơn, tuy nhiên trong những trường hợp mà việc giải quyết
quyền lợi được thực hiện một thời gian rất lâu sau ngày khiếu nại thì ảnh hưởng của lạm phát là đáng
kể. Lạm phát vừa ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của cải các tổ chức bảo hiểm, vừa tác động gián
tiếp đến qua sức mua của bên mua bảo hiểm. Tâm lý định giá cao các khoản phí bỏ ra hiện tại và
định giá thấp các khoản thu nhập trong tương lai tạo ra một lực cản khi ra quyết định mua bảo hiểm.
Sự hình thành và phát triển của cung, cầu bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi độ
nhạy cảm tài chính. Sự biến động của lãi suất tiền gửi, sự ổn định hay bất ổn của thị trường chứng
khoán…, cũng có thể làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng – tiết kiệm – đầu tư, danh mục đầu tư làm thay
đổi lượng cầu dịch vụ bảo hiểm ( đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ). Nó cũng là động lực buộc các nhà
bảo hiểm nghiên cứu thiết kế và triển khai thị trường bảo hiểm những sản phẩm bảo hiểm hiện đại

nổi tiếng trong việc biết cách làm cho khách hàng trung thành với mình, với mạng lới phân
phối của các công ty bảo hiểm Đức dày đặc đại lý chuyên nghiệp, đại lý bán chuyên nghiệp
đã làm cho các công ty bảo hiểm nước ngoài khó thâm nhập được vào thị trường Đức.
18
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
Ở Pháp bảo hiểm nhân thọ có tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt các hợp đồng có tính chất
tiết kiệm. Có được điều này là nhờ những khuyến khích của Nhà nước thông qua các qui định
về thuế, nỗ lực của các công ty bảo hiểm nhân thọ cũng như tốc độ phát triển rất nhanh của
hoạt động Ngân hàng - bảo hiểm (Bancassurance) trước tiên là trong bảo hiểm nhân thọ (và
gần đây cả trong bảo hiểm phi nhân thọ)
2. Mỹ:
Là thị trường bảo hiểm hiện có qui mô lớn nhất thế giới, có gần 6.000 công ty bảo
hiểm tham gia hoạt động, trong đó có hơn 150 công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp, điển hình
là các tập đoàn bảo hiểm, tái bảo hiểm hàng đầu thế giới như AIG (American International
Group), Prudential Ins Co of American, Metropolitan Life, Aetna Life, New York Life,
Employers Re Ngành bảo hiểm sử dụng nhiều lực lượng lao động bậc nhất trong nền kinh
tế Mỹ. Bên cạnh đó, việc kiểm tra, giám sát bảo hiểm được thực hiện nghiêm ngặt nhằm bảo
vệ quyền lợi của người được bảo hiểm.
3. Australia:
Là nước có ngành bảo hiểm phát triển khá toàn diện. Với số lượng các công ty bảo
hiểm tương đối lớn- hơn 50 công ty bảo hiểm nhân thọ, 160 công ty bảo hiểm phi nhân thọ,
gần 30 công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp. Thị trường này cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi
thị trường bảo hiểm Anh. Các hình thức phân phối bảo hiểm rất phát triển, nhất là kênh phân
phối qua môi giới.
4. Mỹ La Tinh:
Khó có thể so sánh với các thị trường đã phát triển nói trên, các thị trường bảo hiểm
như Braxin, Achentina, Chilê, Côlômbia, Vênêzuêla, Pêru, trong suốt thời gian dài được đặc
trưng bởi một cơ chế chỉ huy từ phía cơ quan kiểm tra bảo hiểm với các quy định ngặt nghèo
về thành lập công ty bảo hiểm mới và sự áp đặt điều kiện, biểu phí bảo hiểm, tỷ lệ hoa hồng
trả cho các trung gian bảo hiểm, chương trình tái bảo hiểm dành cho các doanh nghiệp bảo

một thị trường tiềm năng rộng lớn của ngành bảo hiểm thế giới.
6. Châu Phi:
Hiện nay thị trường bảo hiểm Phi Châu chỉ chiếm 1%-1,5% doanh thu phí bảo hiểm
của thế giới, trong đó Nam Phi chiếm hơn 80%. Sự phát triển của bảo hiểm ở Châu Phi bị hạn
chế bởi thu nhập của phần lớn các hộ gia đình còn quá thấp, nội chiến và chính trị bất ổn, sự
20
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
mất giá đồng tiền, thị trường tài chính phát triển không đầy đủ, luật pháp không phù hợp cho
sự phát triển thị trường.
III. Tác động của sự phát triển kinh tế đối với ngành bảo hiểm ở Việt Nam
Trong phần tiếp theo của bài tiểu luận sẽ tìm hiểu về sự phát triển của ngành bảo hiểm
Việt Nam trong thời gian vừa qua như một minh chứng về sự tăng trưởng kinh tế sẽ kéo
theo sự phát triển của ngành bảo hiểm .Ở phần này, bài làm sẽ không đi vào phân tích tình
hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua mà chỉ thể hiện sự phát triển của ngành bảo hiểm
thông qua các số liệu gắn liền với các cột mốc quan trọng của nền kinh tế Việt Nam để làm
sáng tỏ nhận định của đề tài nghiên cứu.
1. Sơ lược quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam:
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các đại lý bảo hiểm hoả hoạn và bảo hiểm nhân thọ
của các công ty bảo hiểm Pháp đã ký được những hợp đồng bảo hiểm đầu tiên ở nước ta, hoạt
động kinh doanh bảo hiểm đã được biết đến nhưng không đáng kể.
Giai đoạn từ 1954 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam đã tồn tại 57 công ty bảo hiểm
dưới nhiều loại hình pháp lý: công ty cổ phần, công ty tương hỗ và công ty bảo hiểm nước
ngoài. Ở miền Bắc vào năm 1964, Chính phủ đã ký Quyết định 1979/CP ngày 17-12-1964
cho phép thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài
chính. Bảo Việt chính thức hoạt động vào tháng 1 năm 1965, thực hiện hai chức năng quản lý
nhà nước và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. Sự độc quyền khiến hoạt động bảo
hiểm trước năm 1990 được biết đến dưới tên là bảo hiểm nhà nước. Mặc dù có vị trí nhỏ bé
với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất, nhưng ngành bảo hiểm Việt Nam đã góp phần đáng
kể trong chia sẻ rủi ro của những ngành kinh tế quan trọng như ngoại thương, vận tải đường
biển, hàng không thông qua hoạt động bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và hoạt động đại lý

đời, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng
loạt các công ty bảo hiểm ra đời thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đã tạo
một diện mạo mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
Việt Nam ra đời càng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các công
ty được diễn ra lành mạnh và đúng hướng. Nếu như trước năm 1993, ở nước ta
chỉ có Bảo Việt độc quyền kinh doanh, hoạt động dưới hình thức bao cấp thì
đến hết năm 2002 đã có tới 23 doanh nghiệp thuộc nhiều loại hình sở hữu tham
22
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
gia kinh doanh. Bên cạnh đó, sự hiện diện của hơn 40 văn phòng đại diện của
các công ty bảo hiểm nước ngoài có uy tín càng đẩy mạnh sự phát triển của
ngành bảo hiểm.
 Doanh thu và số lượng sản phẩm của ngành bảo hiểm tăng lên.
 Doanh thu.
Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành có những bước tăng trưởng
mạnh mẽ kể từ khi Nhà nước quyết định mở cửa ngành bảo hiểm. Trong
thời gian từ năm 1995 đến 2002, mức tăng trưởng bình quân doanh thu
dịch vụ bảo hiểm là 29,1%/năm. Trong giai đoạn này, doanh thu phí bảo
hiểm phi nhân thọ tăng gần 6 lần, năm 2002 đạt 2.624 tỷ đồng. Doanh
thu phí bảo hiểm nhân thọ năm đầu tiên hoạt động (1996) chỉ là chưa tới
1 tỷ đồng thì tới cuối năm 2002, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của
toàn thị trường đạt 4.368 tỷ đồng. Đây là một mức tăng rất cao trong bối
cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực đang lâm vào khó khăn.
Trong những năm này, Việt Nam được đánh giá là một trong
những thị trường bảo hiểm giàu tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất, ổn định nhất trong khu vực. Qua hơn 10 năm phát triển
(1993-2003), ngành bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng rất cao so với các
nước khác. Tuy nhiên, đến hết năm 2003, tỷ lệ tổng doanh thu phí bảo
hiểm trên GDP mới chỉ đạt 1,3%. Nếu đem so với tỷ lệ trung bình 8%
của thế giới hay 2,5 - 7% của các nước trong khu vực thì có thể thấy con

năm 2002, số lượng đại lý của 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua con số
70.000, trong đó, Prudential dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng đại lý, với gần
40.000 đại lý bảo hiểm đang hoạt động
2.2 Giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO:
2.2.1 Năm 2007
Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, bảo hiểm Việt Nam đã ban
hành nhiều văn bản pháp quy vừa nâng cao tính quản lý Nhà nước, vừa tạo tính
24
NHÓM 25_NH K4_K33 ĐỀ TÀI 3
chủ động, sáng tạo cho doanh nghiệp bảo hiểm, vừa bảo vệ quyền lợi người
tham gia bảo hiểm và đã góp phần tích cực phát triển thị trường bảo hiểm Việt
Nam, như: Nghị định (NĐ) 45, 46 ra ngày 27.3.2007, Thông tư 155, 156
hướng dẫn thi hành NĐ 45, NĐ 46 ngày 20.12.2007, Thông tư liên tịch Bộ
Công an, Bộ Tài chính số 41 và QĐ 28 ngày 14.4.2007 về bảo hiểm cháy nổ
bắt buộc, QĐ 96 ngày 19.11.2007 và QĐ 102 ngày 14.12.2007 về triển khai
bảo hiểm liên kết chung và bảo hiểm liên kết đơn vị… Đây là những tiền đề cơ
bản tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển. Tuy nhiên,
thiên tai, tai nạn xảy ra trong năm 2007 tương đối nhiều đã gây ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Trong năm 2007, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm đã
tăng lên, tổng số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có mặt tại thị trường Việt
Nam là 23 doanh nghiệp, 9 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 1 doanh nghiệp tái
bảo hiểm, 8 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Hầu hết các doanh nghiệp bảo
hiểm đều thành lập bộ phận chuyên trách đầu tư, các doanh nghiệp có quy mô
lớn đã thành lập ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty đầu tư tài chính, công
ty quản lý quỹ. Một số doanh nghiệp bảo hiểm đã chọn được đối tác chiến lược
là những tập đoàn bảo hiểm, tài chính hàng đầu quốc tế như Bảo Việt với
HSBC, Bảo Minh với AXA, VINARE với Swiss Re vừa thu được nguồn thặng
dư vốn lớn, vừa tiếp thu được kinh nghiệm công nghệ quản lý bảo hiểm, đầu tư
và phát triển sản phẩm bảo hiểm mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status