Sự phát triển kinh tế đất nước sẽ kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm ví dụ ở việt nam - Pdf 11

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG

BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI 3:

GVHD: TS. Nguyễn Tấn Hoàng
SVTH: Nhóm 3 - NH10 - K33
Nhận xét của giáo viên

2. Phát triển kinh tế 18
3. Sự phát triển của thị trường tài chính 18
4. Sự ủng hộ của nhà nước Việt Nam 19
PHẦN MỞ RỘNG: SINGAPORE- MỘT QUỐC GIA PHÁT TRIỂN MẠNH TRONG
LĨNH VỰC BẢO HIỂM 20
LỜI KẾT THÚC.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
4
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay hoạt động bảo hiểm ngày càng sôi động và đã trở thành một trong những
ngành dịch vụ đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế nước nhà.
Bảo hiểm xuất hiện ở nước ta vào những năm 1963 nhưng chỉ phát triển và thật sự đạt
những thành tựu to lớn vào những năm gần đây khi nền kinh tế đang ngày càng tăng trưởng
và vững mạnh. Cũng giống như các ngành dịch vụ khác, hoạt động của ngành bảo hiểm chịu
ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: hệ thống pháp lý, môi trường kinh tế - xã hội, công
nghệ,…trong đó sự phát triển của kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của
ngành bảo hiểm hiện nay.
Bài tiểu luận này chúng em xin đưa ra vài ví dụ thực tiễn chứng minh sự tăng trưởng
kinh tế đất nước sẽ kéo theo sự phát triển của ngành bảo hiểm.
5
PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm Bảo hiểm :
Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người
tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ
chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi
trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.
Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự
thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham
gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba
(người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty

còn có các đặc trưng chủ yếu sau: Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn:
thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi
ro được bảo hiểm xảy ra.
PHẦN 2: SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Thực trạng bảo hiểm trước năm 2006:
Bảo hiểm có mặt ở nước ta từ năm 1963, lúc đó Bộ Tài chính đã tiến hành nghiên cứu,
xúc tiến thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam với sự cộng tác của công ty bảo hiểm nhân dân
Trung Hoa.
Ngày 17/12/1964 bằng Quyết định số 179/CP của hội đồng Chính phủ, theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài chính, công ty bảo hiểm Việt Nam, tên giao dịch là Bảo Việt được
thành lập và chính thức khai trương hoạt động ngày 15/01/1965 với số vốn điều lệ là 10 triệu
đồng Việt Nam (tương đương 2 triệu USD vào thời điểm đó), dưới sự quản lý trực tiếp của
Bộ Tài chính. Trong thời gian này, Bảo Việt mới chỉ triển khai mảng bảo hiểm phi nhân thọ
chủ yếu là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất - nhập khẩu, bảo
hiểm tàu biển. Doanh thu của Công ty tại thời điểm này chỉ đạt 800 nghìn đồng Việt Nam với
tổng tài sản là 900 triệu đồng. Trong giai đoạn từ năm 1964 tới năm 1975, Bảo Việt chỉ phục
vụ một nhóm nhỏ khách hàng là các đơn vị kinh tế nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất
7
nhập khẩu, tầu biển thuộc Miền Bắc. Vì những năm này đất nước ta đang trong chiến tranh,
nền kinh tế chưa phát triển, xã hội không ổn định nên rất ít người tham gia loại hình bảo
hiểm.
Vào năm 1976, Bộ trưởng Bộ Kinh tế tài chính Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng
hoà miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành lập công ty bảo hiểm, tái bảo
hiểm Việt Nam (viết tắt là BAVINA), thuộc Tổng nha tài chính Chính phủ cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Và vào năm 1977 Bộ trưởng Bộ Tài chính ra quyết định
số 61/TCQĐ/TCCB về việc sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại thành phố
Hồ Chí Minh. Như vậy, kể từ đây, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnh
miền Nam.
Chính sách mở cửa của nước ta vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho ngành kinh tế phát
triển cũng như tạo cơ hội cho ngành bảo hiểm Việt Nam được học hỏi và tiếp cận với những

hải truyền thống chỉ chiếm 65% tổng doanh thu bảo hiểm gốc. Các nghiệp vụ khác như bảo
hiểm con người, xe cơ giới đã chiếm khoảng 25% tổng doanh thu nhưng năm 1996, doanh số
của Bảo Việt đã tăng lên đáng kể đó là đạt 970 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ bảo hiểm phi
nhân thọ đạt 882 tỷ, doanh thu từ đầu tư tài chính đạt 80 tỷ đồng.
Với môi trường đầu tư ngày càng được hoàn thiện thì nhiều công ty bảo hiểm trong
nước và nước ngoài đã thành lập ở Việt Nam:
DNBH Phi nhân thọ VN: Bảo Minh (1994), PJICO (1995), Bảo Long (1995), PVI
(1996), PTI (1998)…
DNBH Phi nhân thọ có vốn nước ngoài: VIA (1996), UIC (1997), Allianz (1999), Việt
Úc (1999)…
DNBH Nhân thọ VN: Bảo Việt Nhân thọ (1996 triển khai thí điểm).
DNBH Nhân thọ có vốn nước ngoài: Bảo Minh CMG (1999), Prudential (1999),
Manulife (1999)…
DN môi giới BH AON (1999)…
DN tái BH VINARE (1994).
9
2. Thực trạng bảo hiểm sau năm 2006:
a. Những điều kiện kinh tế - xã hội giúp bảo hiểm phát triển :
Năm 2006 là năm diễn ra các sự kiện lớn: Việt Nam tổ chức thành công hội nghị
APEC, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO mở ra một thời kỳ mới với nhiều
thời cơ vận hội cũng như thách thức cho sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và phát triển
của ngành bảo hiểm nói riêng. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,2%, xuất khẩu 39,6 tỉ USD, đầu
tư nước ngoài, FDI đạt 10,2 tỉ USD, chỉ số CPI tăng gần 7% thấp hơn tăng GDP và thấp hơn
dự kiến, là tiền đề cơ bản để phát triển bảo hiểm. Tuy nhiên, trong năm 2006 đã xảy ra 02 cơn
bão gây thiệt hại nặng nề cho khu vực miền Trung và 01 cơn bão bất thường gây thiệt hại cho
khu vực Nam Trung Bộ và miền Tây Nam Bộ, ảnh hưởng nhiều tới bảo hiểm Phi nhân thọ.
Sự phát triển nóng của thị trường chứng khoán, giá vàng và đô la nhiều lúc biến động. Lãi
suất tiền gửi tiếp tục tăng đã ảnh hưởng tới thị trường bảo hiểm Nhân thọ. Nền kinh tế Việt
Nam tiếp tục mở cửa và hội nhập quốc tế với mức độ sâu rộng hơn, các ngành công nghiệp
vận tải biển và đóng tàu, hàng không dân dụng, dệt may, giày da có những bước phát triển đột

giảm và giãn thuế TNDN 2008, miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009, Những giải pháp
trên đã phát huy tác dụng tích cực. Tăng trưởng kinh tế GDP năm 2009 đạt 5,32%, đầu tư
toàn xã hội chiếm 42,5% GDP, FDI thu hút được 20 tỉ USD, ODA thu hút 8,1 tỉ USD, xuất
khẩu đạt 56,6 tỉ USD, nhập khẩu đạt 68,8 tỉ USD. Ngành bảo hiểm nắm bắt những cơ hội trên
để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ là tấm lá chắn kinh tế của nền kinh tế xã hội trước những
rủi ro thiên tai tai nạn sự cố bất ngờ được bảo hiểm.
Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam tiếp tục ổn định và phát triển vào năm 2010, GDP
tăng trưởng 6,25% so với cùng kỳ năm ngoái, FDI tăng 5,9%. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng
15,7%, nhập siêu ước tính 6.7 tỉ USD bằng 21%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,8%, tỉ giá hối
đoái, lãi suất ngân hàng, giá vàng, chứng khoán tuy có biến động nhỏ nhưng đã được xử lý
kịp thời tạo thế ổn định phát triển kinh tế.
Đến nay tất cả các DNBH đều đóng đủ vốn pháp định theo đúng lộ trình 3 năm sau
ngày ban hành NĐ 46/2007/NĐ-CP, hầu hết các DNBH đã sửa đổi bổ sung quy trình và thủ
tục khai thác bảo hiểm, giám định tổn thất và giải quyết bồi thường. Nhiều DNBH đã đưa dữ
liệu trên vào phần mềm quản lý phát huy được hiệu quả nhanh chóng, kịp thời chính xác. Các
DNBH đã tích cực phát triển sản phẩm bảo hiểm mới, mở rộng kênh phân phối sản phẩm,
tăng cường dịch vụ chăm sóc khách hàng, xây dựng uy tín thương hiệu.
11
b. Sự phát triển của bảo hiểm :
 Sự gia nhập ngày càng nhiều của các công ty trong ngành:
Nhờ những điều kiện kinh tế phát triển dẫn đến môi trường kinh doanh ngày càng
được hoàn thiện và mang đến thuận lợi cho nhà đầu tư thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp
gia nhập ngành bảo hiểm hơn. Cụ thể tính đến hết năm 2006, trước thời điểm cam kết WTO
có hiệu lực, thị trường BHVN đã có 21 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (trong đó có 2
DNBH nhà nước, 4 DNBH liên doanh, 5 DNBH có 100% vốn nước ngoài), 7 doanh nghiệp
bảo hiểm Nhân thọ (trong đó có 1 DNBH nhà nước và 6 DNBH 100% vốn nước ngoài), 8 DN
môi giới BH (trong đó có 5 công ty cổ phần và 3 công ty 100% vốn nước ngoài), 1 DN tái bảo
hiểm là công ty cổ phần.
Trong khi đó tính đến hết tháng 6/2010 số lượng công ty bảo hiểm có mặt trên thị
trường tăng gần gấp đôi thể hiện nhà đầu tư nhận thức đây là một thị lĩnh vực tiềm năng và có

đại học và sau đại học. Năm 1993, ngành BH mới có 500 cán bộ, công nhân viên, đến nay,
toàn ngành đã có tới 14.000 cán bộ, công nhân viên và 140.000 đại lý BH, trong đó có 90.000
đại lý BH NT chuyên nghiệp. Một con số chứng minh cụ thể như sau tính đến cuối kì năm
2009 số lượng đại lý bảo hiểm (cá nhân kinh doanh) là 94.626 người tăng 31,3%, trong đó
Prudential là 33.324 người, Bảo Việt 18.149 người và Dai-ichi 14.198 người. Số lượng đại lý
mới tuyển dụng trong năm là 88.198 người, trong đó Prudential 33.878 người, AIA 13.872 và
Dai-ichi 11.089 người.
Hơn thế nữa sự ra đời các công ty BH có vốn nước ngoài đã là tấm gương cho các
DNBH học tập kinh nghiệm, phương thức quản lý điều hành DNBH, nghiên cứu, phát triển
sản phẩm BH, phát triển kênh phân phối qua khâu trung gian BH là môi giới BH, đại lý BH.
Gần đây, trong quá trình cổ phần hóa, các DNBH đã hướng tới chọn đối tác chiến lược là các
công ty BH hàng đầu quốc tế để tiếp thu phương pháp, kinh nghiệm, công nghệ quản lý, điều
hành của họ.
 Doanh thu bảo hiểm, năng lực tài chính ngày một tăng:
Đối mặt với những bước thăng trầm của nền kinh tế thị trường cùng với sự cạnh
tranh gay gắt khi mà số lượng doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng tăng, thêm vào đó sự đa
dạng hóa các gói sảm phẩm song song với việc giảm phí bảo hiểm nhưng doanh thu bảo
hiểm luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao qua các năm, cụ thể là: Năm 1993, doanh thu BH mới
đạt 700 tỉ đồng, chiếm 0,37% GDP. Năm 2006 doanh thu BHPNT đạt 6.360 tỉ đồng tăng
13
16% so với năm 2005 chưa tính đến doanh thu của bảo hiểm Toàn cầu 46 tỉ đồng và AIG,
doanh thu bảo hiểm Nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng tăng 5% so với năm 2005. Năm 2007 doanh
thu BH đạt 17.846 tỉ đồng, chiếm 2,11% GDP, trong đó NT đạt 9.486 tỉ đồng, PNT đạt
8.360 tỉ đồng. Năm 2008 doanh thu BH ước đạt 21.314 tỉ đồng, chiếm 2,22% GDP, trong
đó NT ước đạt 10.489 tỉ đồng, tăng trưởng 11%, PNT ước đạt 10.825 tỉ đồng, tăng trưởng
29%. Năm 2009 doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 13.616 tỉ đồng tăng 2.738 tỉ đồng
đồng so với năm 2008 tương đương 25.16%, bảo hiểm nhân thọ đạt doanh thu phí bảo hiểm
11.857 tỉ đồng, tăng 14% với 4.259.766 hợp đồng bảo hiểm sản phẩm chính. Tổng doanh
thu Phí bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 14.427 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ
năm 2009, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 7.940 tỷ đồng, tăng 25%

trái phiếu chính phủ, tiền gửi ngân hàng và các khoản đầu tư có đảm bảo. Tiền lãi đầu tư đã
tạo điều kiện cho các DNBH trả bảo tức ngày một tốt hơn cho khách hàng, một phần để bù
đắp chi phí hoạt động, một phần đem lại cổ tức cho các cổ đông. Các khoản đầu tư của
DNBH là nguồn vốn trung và dài hạn cho các công trình, các dự án phát triển nền kinh tế xã
hội.
Bên cạnh việc tạo ra một kênh đầu tư an toàn, công cụ giảm thiểu tổn thất hiệu quả thì
chúng ta không thể bỏ qua một đóng góp quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế
đó chính là tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Năm 1993, ngành BH nộp ngân sách
nhà nước 68 tỉ đồng. Năm 2006 các DNBH đã đóng góp cho Ngân sách Nhà nước trên 1.000
tỉ đồng (bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân của
nhân viên bảo hiểm và đại lý bảo hiểm). Năm 2007 nộp ngân sách Nhà nước trên 1.000 tỉ
đồng (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập đại lý và thuế thu nhập doanh nghiệp).
Năm 2008, ước đạt 450 tỉ đồng. Ngoài ra, ngành BH tạo nguồn thu thuế VAT gần 1.000 tỉ
đồng, thuế thu nhập cá nhân của nhân viên và đại lý BH gần 1.000 tỉ đồng. Các DNBH đã tài
trợ cho các hoạt động thể thao, văn hóa, xã hội, từ thiện hàng trăm tỉ đồng.
Ngành BH xứng đáng là tấm lá chắn kinh tế của nền kinh tế xã hội, góp phần ổn định
sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống trước những rủi ro hiểm họa xảy ra. Năm 1993, ngành
BH giải quyết bồi thường 120 tỉ đồng, đến năm 2007, ngành BH đã giải quyết bồi thường
3.229 tỉ đồng đối với BH PNT, trả tiền BH 2.239 đối với BH NT. Năm 2008, BH PNT giải
quyết bồi thường ước đạt 4.500 tỉ đồng và trả tiền BH NT ước đạt trên 3.000 tỉ đồng. Nhiều
tổn thất lớn xảy ra đã và đang được giải quyết bồi thường. Ngoài ra, các DNBH còn tích cực
15
làm tốt công tác đề phòng, hạn chế tổn thất cho các công trình đường lánh nạn, gương cầu lồi,
hàng rào hộ lan, đường gom, đường dân sinh, khắc phục điểm đen tai nạn.
 Hoàn thiện hệ thống pháp luật dành cho hoạt động bảo hiểm:
Trước sự đóng góp đáng kể của ngành bảo hiểm cho nền kinh tế, nhà nước ta đã
không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp lý nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo
điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển. Trong đó, Luật kinh doanh BH được ban hành năm
2000, NĐ 42, NĐ 43, TT 71, TT 72 được ban hành tháng 8 năm 2001 đến nay được sửa đổi,
bổ sung thành NĐ 45, NĐ 46, TT 155, TT 156 ban hành năm 2007 hướng dẫn thi hành Luật

tác quản lý và giám sát thị trường bảo hiểm, nhằm phát triển và ổn định thị trường này theo
hướng lành mạnh.
Chế độ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm tiếp tục được tăng cường
vào năm 2010 bằng việc ban hành Thông tư 03 hướng dẫn thi hành NĐ 41 xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Cục quản lý giám sát bảo hiểm quản lý chặt
chữ khâu đào tạo đại lý cấp chứng chỉ cho 47.888 với trên 50.274 học viên tham dự. Cục quản
lý giám sát bảo hiểm đã chấp nhận về nguyên tắc cấp phép hoạt động cho công ty bảo hiểm
phi nhân thọ Cathay và công ty bảo hiểm nhân thọ Fubon. Cục quản lý giám sát bảo hiểm
đang tiến hành thanh tra và kiểm tra một số doanh nghiệp bảo hiểm theo kế hoạch năm 2010.
PHẦN 3: TRIỂN VỌNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ
TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM
Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang đứng trước những cơ hội phát triển rất lớn. Các
cơ sở cho nhận định này là:
1. Về dân số và nhu cầu đào tạo
Hiện nay dân số Việt Nam là 85 triệu người - đứng hàng thứ 13 trên thế giới. Điểm
đáng chú ý, Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm
hơn 60% tổng dân số; tuổi thọ trung bình không ngừng được cải thiện (từ 50 tuổi trong những
năm 1960 tăng lên 72 tuổi vào năm 2005). Với dân số trẻ cùng với truyền thống hiếu học
cộng với yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao sau khi Việt Nam hội nhập vào
kinh tế thế giới, dẫn đến nhu cầu đào tạo của Việt Nam ngày càng cao, đặc biệt là nhu cầu đào
17
tạo chất lượng cao cả ở trong và ngoài nước kéo theo yêu cầu tài chính cho đào tạo ngày càng
lớn.
2. Phát triển kinh tế
Từ khi thực hiện chính sách “đổi mới”, nền kinh tế Việt Nam đã có sự tiến bộ vượt
bậc và theo dự đoán Việt Nam tiếp tục đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trong thời
gian tới (dự báo trên 7%/năm); đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Theo dự báo của
Ngân hàng Thế giới: năm 2010 GDP/người của Việt Nam sẽ đạt 1.000 USD, và hơn thế nữa,
người Việt Nam có truyền thống tiết kiệm và có mức tiết kiệm/thu nhập vào hàng cao nhất thế
giới. Đáng chú ý, sự phát triển kinh tế đã làm cho tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, tạo

Việt, Prudential với các ngân hàng. Hay một hãng bảo hiểm của Pháp liên kết với bưu điện
Khách hàng sẽ tìm thấy sự thuận tiện, tiết kiệm được thời gian qua sự liên kết này khi thực
hiện các giao dịch.
 Không liên doanh mà thành lập thêm: Sự “giao thoa” giữa hoạt động kinh doanh bảo
hiểm với ngân hàng đang được thể hiện rõ trên thị trường thế giới. Hiện nay đã có nhiều tập
đoàn bảo hiểm có ngân hàng thương mại và ngược lại, nhiều ngân hàng thương mại thành lập
công ty bảo hiểm. Đây là xu hướng thể hiện sự hỗ trợ nhau cùng kinh doanh và phát triển.
Một số công ty bảo hiểm đang có dự định thành lập ngân hàng thương mại. Ngược lại, một số
ngân hàng thương mại cũng đang rục rịch lên kế hoạch thành lập các công ty bảo hiểm trực
thuộc. Lợi thế của các công ty bảo hiểm có ý định thành lập ngân hàng thương mại là kinh
nghiệm thị trường đã có, mạng lưới đại lý rộng khắp, năng lực tài chính đủ mạnh - đặc biệt là
nguồn vốn dài hạn – và lượng khách hàng tiềm năng lớn từ các đối tượng tham gia bảo hiểm
hiện có. Lợi thế của ngân hàng khi triển khai mô hình này cũng gần giống như lợi thế của các
công ty bảo hiểm muốn lập ngân hàng. Như vậy, mỗi loại hình đều muốn tham gia thêm một
dịch vụ tài chính mới. Tuy nhiên, sự “giao thoa” này không dễ dàng khi mà việc xúc tiến vẫn
đang nằm trong dự tính của các nhà hoạch định chính sách. Mặt khác, thành lập ngân hàng
thương mại trong tập đoàn bảo hiểm sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm tạo được kênh phân phối
sản phẩm bảo hiểm tốt nhất cho mình khi ngân hàng đứng ra bán sản phẩm bảo hiểm, thu phí
bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm. Ngược lại, khi khách hàng bảo hiểm gặp khó khăn trong đời
sống tiêu dùng thì người ta có quyền vay qua ngân hàng của công ty mình tham gia bảo hiểm.
Số tiền vay có thể tương đương số phí bảo hiểm mà người ta đã đóng vào.
19
4. Sự ủng hộ của Nhà nước Việt Nam
Sự ủng hộ mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam mạnh mẽ đối với sự phát triển của thị
trường thông qua việc tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh thuận lợi cho ngành
cũng như thực thi chính sách hội nhập nhằm tiếp thu công nghệ kinh doanh, công nghệ quản
lý tiên tiến cho sự phát triển của ngành:
 Xây dựng Học viện bảo hiểm để đào tạo cán bộ cho ngành bảo hiểm Việt Nam.
 Các công ty có điều kiện xây dựng phần mềm quản lý bảo hiểm trong đó có quản lý
hợp đồng bảo hiểm, khách hàng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, phân

ngành bảo hiểm.
b. Internet cũng sẽ phát triển ở tầm quan trọng như là một nguồn thông tin và một
nền tảng cho các giao dịch và thanh toán. Nó cho phép giảm chi phí hơn nữa, và cạnh tranh
ngày càng tăng bằng cách cho phép người tiêu dùng so sánh và lựa chọn các sản phẩm cạnh
tranh trên quy mô mà không có phương tiện nào khác thực hiện được.
c. Có ba phương pháp cơ bản trong việc tiếp cận để nâng cao hiệu quả của kênh
phân phối bảo hiểm tại Singapore:
• Thứ nhất, mở ra các kênh phân phối khác, bao gồm phân phối trung gian độc lập,
bancassurance (tổ chức ngân hàng tham gia bảo hiểm), tiếp thị trực tiếp, internet và tiếp thị
qua điện thoại để giảm chi phí và cải thiện dịch vụ cho người tiêu dùng.
• Thứ hai, nâng cao tính chuyên nghiệp của hệ thống phân phối truyền thống, hệ thống
này sẽ có một vai trò quan trọng trong thời gian tới. Để nâng cao trình độ kỹ năng và năng
suất trong số các chi nhánh, khuyến khích sự phát triển của một lớp trung gian đủ điều kiện để
phân phối một phạm vi rộng hơn các sản phẩm tài chính, MAS hiện đang thực hiện các yêu
cầu cấp giấy phép cho các cố vấn độc lập về tài chính, và mã số nhằm đạt được các tiêu chuẩn
phù hợp với việc bán các sản phẩm đầu tư khác nhau.
• Thứ ba, tiến tới đạt được sản phẩm chất lượng cao và công khai chi phí, cũng như các
tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế tốt nhất. Cải thiện công bố sẽ cho phép cạnh tranh minh bạch hơn,
và có thể khuyến khích sự phát triển của nhiều kênh phân phối hiệu quả.
21
LỜI KẾT THÚC
Bảo hiểm là một ngành quan trọng không riêng một nước mà cả thế giới, bảo hiểm
không chỉ là biện pháp di chuyển rủi ro mà còn là kênh huy động vốn đầu tư rất lớn. Bảo
hiểm rất cần thiết đối với đời sống kinh tế xã hội.
Qua bài luận này chúng ta thấy ngành bảo hiểm ngày càng lớn mạnh qua thời gian
phần lớn là do nền kinh tế đất nước ngày càng tăng trưởng và bảo hiểm phát triển cũng góp
phần tác động tích cực đến nền kinh tế.
Vậy để ngành bảo hiểm ngày càng phát triển thì phải xây dựng một nền kinh tế vững
mạnh và ngày càng tăng trưởng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status