Đề án kinh tế bảo hiểmLời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, các tổ chức tín dụng hoạt động đa
năng, đầy sôi động. Sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn diễn
ra hàng ngày cộng thêm sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá, lạm phát khiến
cho hoạt động ngân hàng trở nên vô cùng mạo hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi
ro.
ở các nớc kinh tế phát triển, rủi ro ngân hàng là điều không thể
tránh khỏi, ngân hàng đợc ví ngân hàng nh là một chỗ trũng cho rủi
ro ở mọi hớng đổ về. ở nớc ta, thực tế cho thấy hoạt động rủi ro trong
ngân hàng càng cao hơn, bởi lẽ: môi trờng kinh tế cha ổn định, kinh
nghiệm tiếp cận của các tổ chức tín dụng còn non yếu, tình trạng chạy
theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh không lành mạnh, kém văn
minh diễn ra khá phức tạp. Chính vì vậy, bất kỳ một nứơc nào cũng
phải có một hệ thống luật pháp và đa ra các biện pháp để quản lý,
điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, giữ cho hệ thống ngân hàng
hoạt động lành mạnh, an toàn và có hiệu quả. Từ thực tế trên cho
thấy, sự ra đời của tổ chức tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, nó
bảo vệ ngời gửi tiền và đảm bảo cho các tổ chức tín dụng hoạt động
một cách lành mạnh và hiệu quả.
Tuy nhiên, thị trờng bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vừa mới thành
lập (ttháng 7/2000) còn rất non trẻ, nhng đã từng bớc khẳng định vị
trí của mình trong nền kinh tế quốc dân và trong tơng lai thị trờng bảo
hiểm tiền gửi sẽ là một thị trờng đầy triển vọng với những tiềm năng đ-
Vũ Thị Hồng Lan -
1
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
dụng bị thua lỗ, thậm chí bị phá sản.
Rủi ro tín dụng có thể do nhiều nguyên nhân:
-Do môi trờng kinh tế cha ổn định làm cho một số doanh nghiệp không
đứng vững trên thị trờng;
-Do quản lý nhà nớc còn sơ hở, tạo điều kiện cho một số cá nhân, doanh
nghiệp có hành vi lừa đảo;
-Do trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế v. v. .
Vũ Thị Hồng Lan -
3
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
Cùng với những nguyên nhân trên, khách hàng cũng góp phần tạo ra rủi ro
tín dụng. Chẳng hạn: khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, sản xuất kinh
doanh thua lỗ; hoặc ngời vay cố tình không trả nợ; hoặc tài sản thế chấp, giấy
tờ pháp lý của khách hàng không đảm bảo.
Bản thân ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng gây ra những rủi ro nh:
không chấp hành nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm quá trình xét
duyệt cho vay; không kiểm tra đợc việc sử dụng vốn của ngời vay; quá chú
trọng về lợi nhuận, đặt tiêu chuẩn về lợi nhuận lên trên các nguyên tắc, điều
kiện của tín dụng; việc xem xét cho vay không chuẩn xác nh cho vay sai mục
đích, chẳng hạn vay để đánh quả hoặc để đầu cơ tích luỹ hàng hoá chờ giá
tăng, cho vay không có biện pháp đảm bảo thích hợp.
Ngoài ra còn có nhuyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng nh có sự
thay đổi, điều chỉnh về chính trị, chính sách, chế độ luật pháp của Nhà nớc,
thay đổi địa giới hành chính của các địa phơng. . .
Những rủi ro tín dụng xảy ra có thể để lại hậu quả khôn lờng.
-Đối với kinh tế:hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên
quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanh
mức giới hạn nào đó (nh ở Mỹ là 100. 000 USD) cũng đợc bồi thờng một
phần. Hoạt động của BHTG cũng mang tính trợ giúp hạn chế, ngăn ngừa rủi
ro xảy ra đối với các TCTD chính là bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền.
Thứ hai: BHTG bảo vệ các TCTD tham gia bảo hiểm. Thể hiện trực tiếp
thông qua hoạt động ngăn ngừa, trợ giúp các TCTD tham gia bảo hiểm khi
Vũ Thị Hồng Lan -
5
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
gặp khó khăn. Sự trợ giúp có thể dới hình thức cho vay, khuyến khích các
TCTD khác cho vay, yêu cầu thay đổi về quản lý, mua nợ các TCTD khó
khăn.
Mặt khác, sự bảo vệ đó còn thể hiện gián tiếp thông qua việc tổ chức
BHTG bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền. Khi ngời gửi tiền không đợc bảo
hiểm, nếu một TCTD bị phá sản thì gửi tiền sẽ không đòi lại đợc đầy đủ giá
trị tiền gửi, thậm trí có khả năng bị mất trắng. Nếu vì một lý do nào đó,
những ngời gửi tiền nghi ngờ về sự vỡ nợ của TCTD họ sẽ rút tiền ngay lập
tức. Điều này dễ dẫn đến một phản ứng dây chuyền mọi ngời đổ xô đến rút
tiền làm cho TCTD đó bị phá sản. Chính sự cam kết bồi thờng của các tổ
chức BHTG khi TCTD tham gia làm yên lòng ngời gửi tiền, hạn chế và chấm
dứt cảnh lan truyền dòng ngời đi rút tiền, từ đó hạn chế sự vỡ nợ của các
TCTD.
Thứ ba:BHTG bảo vệ hệ thông các TCTD. Sự đổ vỡ của một tổ chức tín
dụng có thể lan truyền sang các TCTD khác do ngời gửi tiền ở các TCTD
khác nghi ngờ rằng TCTD của họ không có khả năng trả lại tiền họ đã gửi đ-
ợc. Việc một tổ chức tín dụng bị phá sản có thể châm ngòi cho các TCTD
khác bị phá sản theo. Điều này có thể nhân rộng tới khi có một vụ hoảng loạn
ngân hàng dẫn tới cả hệ thông bị phá sản. Khi có một TCTD tham gia BHTG,
chức bảo toàn tiền gửi nằm trong hệ thông ngân hàng, sau đó mới phát triển
thành tổ chức BHTG hoạt động tách biệt. Ngày nay, BHTG phát triển hết sức
mạnh mẽ với nhiều hình thức khác nhau.
Theo một tài liệu nghiên cứu của Đài Loan ở 25 hệ thống BHTG của 22 n-
ớc, cho thấy tính đa dạng của mô hình và những phơng thức BHTG, mặc dù
Vũ Thị Hồng Lan -
7
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
mục tiêu của những mô hình đó gần nh đều thống nhấtvới nhau: bảo vệ ngời
gửi tiền, duy trì sự an toàn của hệ thống ngân hàng.
Tính đa dạng thể hiện ở: trên thế giới có nhiều dạng mô hình và trong một
nớc cũng có nhiều tổ chức độc lập, cùng hoạt động theo pháp luật, mỗi tổ
chức đó thực hiện BHTG cho hệ thống theo những phạm vi nhất định.
Nhìn tổng quát trong số 22 nớc đã nghiên cứu: có 11 tổ chức công, là
những tổ chức thuộc nhà nớc (Canada, Aixơlen, ấn Độ, Hà Lan, Nigenia,
Philippin, Đài Loan, Mỹ, Trinidad & Tobaco); 8 tổ chức t của các ngân hàng
lập nên (Đan Mạch, Pháp, Đức, Aixơlen, ý, Lucxambua, Nauy, Thuỵ Sỹ); 4
tổ chức là hỗn hợp công t (Bỉ, Hung gari, Nhật, Anh).
Cũng có quốc gia hiện nay có nhiều tổ chức BHTG (Aixơlen, Nauy,
Pháp, Mỹ, Đức). Aixơlen: Có quỹ BHTG cho các ngân hàng thơng mại, là
một tổ chức bán công, thành lập từ năm 1986, lại có quỹ BHTG cho các ngân
hàng tiết kiệm, là một tổ chức t cùng thành lập năm 1986. Nauy, có 3 quỹ
BHTG riêng biệt, đều là những tổ chức t (1921, thành lập quỹ BHTG ngân
hàng thơng mại; 1938, thành lập quỹ BHTG ngân hàng tiết kiệm; 1991, thành
lập quỹ BHTG ngân hàng chính phủ). Pháp cũng có nhiều tổ chức BHTG
theo từng loại hình TCTD (mỗi hệ thống TCTD có tổ chức BHTG của hiệp
hội của tổ chức đó. Riêng các ngân hàng tơng tế, ngân hàng HTX không phải
9
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
Các ngân hàng thơng mại cũng nh các doanh nghiệp khác cũng có thể
gặp các rủi ro và hơn thế nã với hoạt động đặc biệt là kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ, hệ số rủi ro của các ngân hàng thơng mại cao hơn rất nhiều so với
các doanh nghiệp khác. Các chuyên gia ngân hàng đã đề cập rất nhiều đến
vấn đề rủi ro trong kinh doanh ngân hàng dới nhiều khía cạnh khác nhau. Có
những rủi ro khách quan do các hiện tợng thiên nhiên và xã hội diễn biến
phát triển phức tạp ngoài tầm kiểm soát của con ngời, khả năng dự tính, dự
báo của con ngời còn bị hạn chế, có những rủi ro chủ quan do sự bất cập của
con ngời, có những rủi ro do cơ chế, do đạo đức của cán bộ ngân hàng. Tuy
nhiên, không phải tất cả các loại rủi ro này đều đợc bảo hiểm. Chính vì vậy,
tổ chức BHTG đã quy định những rủi ro nào đợc bảo hiểm, những rủi ro nào
không đợc bảo hiểm.
a. Các rủi ro đợc bảo hiểm
Trong bảo hiểm tiền gửi các rủi ro sau đợc bảo hiểm:
Sự phá sản của quỹ tín dụng
Phá sản là trờng hợp quỹ tín dụng không thể trả nợ một cách đầy đủ
hoặc quỹ tín dụng không thể tiếp tục kinh doanh vì bị thiếu vốn. Trong tr-
ờng hợp này, các công việc của quỹ phải giao cho ban thanh lýtài sản xử lý
các tài sản còn lại theo đúng quy định pháp lý về phá sản của Nhà nớc.
Sự giải thể bắt buộc của quỹ tín dụng
Vũ Thị Hồng Lan -
10
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
thanh lý để trả nợ các chủ nợ cho rằng chỉ có cách này họ mới thu đợc nợ.
Lệnh của toà án cũng đợc áp dụng khi:
-Quỹ tín dụng không có phơng án hoà giải và có giải pháp tổ chức lại
hoạt động kinh doanh của quỹ theo yêu cầu của toà án.
-Quỹ tín dụng không tham gia hội nghị chủ nợ để trình bày các phơng
án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của quỹ tín
dụng.
-Trong thời hạn tổ chức lại kinh doanh, quỹ tín dụng vi phạm nghiêm
trọng những thoả thuận tại hội nghị của chủ nợ và các chủ nợ yêu cầu tuyên
bố phá sản.
-Hết thời hạn tổ chức lại kinh doanh mà quỹ tín dụng vẫn kinh doanh
khônh có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu toà án phải có tuyên bố phá sản
quỹ tín dụng.
b. Các rủi ro loại trừ
Những rủi ro loại trừ (không thuộc phạm vi bảo hiểm) là những rủi ro
gây ra sự phá sản, thanh lý hay giải thể một quỹ tín dụng trong các trờng
hợp:
Vũ Thị Hồng Lan -
12
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
Vi phạm nghiêm trọng các quy định về tiền tệ tín dụng, thanh toán
đã nêu trong pháp lệnh ngân hàng của quỹ tín dụng.
Quỹ tín dụng có điều lệ và quy chế hoạt động riêng nhng cũng phải
tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nớc. Nếu quỹ tín dụng vi phạm
nghiêm trọng các quy định về tiền tệ, tín dụng thanh toán của ngân hàng
dẫn đến phá sản thì bảo hiểm không bồi thờng.
Giải thể tự nguyện vì nguyên nhân
R: Tỷ lệ phí bảo hiểm;
90: Số ngày của một quý;
365: Số ngày trong năm;
Vì bảo hiểm chỉ bảo hiểm các khoản tiền gửi có kỳ hạn. Do đó khi báo
cáo số d tiền gửi, các quỹ tín dụng phải phân loại:
Vũ Thị Hồng Lan -
14
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
-Những khoản tiền gửi không kỳ hạn.
-Những khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Trên cơ sở phân loại quỹ, cuối mỗi quý, quỹ tín dụng có thể tính phí bảo
hiểm và trả cho ngời bảo hiểm.
4. Các hình thức của BHTG
a. BHTG bắt buộc
Chính vì BHTG có vai trò quan trọng đặc biệt nên nó luôn là một bộ
phận trong chính sách quản lý vĩ mô của nhà nớc về tài chính tiền tệ của
mỗi quốc gia. ở hầu hết các nớc, việc tham gia BHTG của các TCTD là
bắt buộc theo pháp luật nh "luật BHTG ngân hàng của Canada", "Luật về
ngành tín dụng" của Đức, "Luật BHTG " của Nhật, "Luật DDO EF No 94-
6" của Pháp. . . Trong đó, luật quy định rất cụ thể buộc các ngân hàng và
các TCTD phải tham gia BHTG. Chẳng hạn, "Luật DDO EF No 94-6" của
Pháp thông qua ngày 08/08/1994 bắt buộc tất cả các TCTD đợc cấp giấy
phép hoạt động trên lãnh thổ của Pháp phải có nghĩa vụ tham gia vào hệ
thống BHTG. ở Việt Nam, tổ chức BHTG tuy mới đợc thành lập năm 2000
nhng nó cũng bắt buộc các ngân hàng và các TCTD phải tham gia.
b. BHTG tự nguyện
mại và các TCTD là tài sản của ngời gửi tiền. Họ gửi vào ngân hàng với
nhiều động cơ và mục đích khác nhau: tiết kiệm, để dành hay tích luỹ; lấy
lãi để thanh toán hoặc đảm bảo an toàn tài sản của mình.
Nguồn vốn huy động đợc từ tầng lớp dân c và thành phần kinh tế, xã
hội là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng thơng
mại và các TCTD theo phơng thức "đi vay để cho vay". Thông qua đó, ta
thấy rõ mối quan hệ trách nhiệm giữa ngời đi huy động vốn và ngời đi gửi
tiền có sự bảo đảm pháp lý cao nhất của nhà nớc theo nguyên tắc, ngời gửi
tiền vào ngân hàng phải đợc ngân hàng có trách nhiệm bảo đảm an toàn
vốn một cách tuyệt đối.
Thêm vào đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ rất phức tạp và có nhiều rủi
ro ; tập trung chủ yếu, thờng xuyên xảy ra và lớn nhất là rủi ro trong đầu t
vốn tín dụng. Trong đó, có những rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng.
Năm 1990, ở nớc ta có 7. 660 HTX tín dụng nông thôn và quỹ tín dụng đô
thị. Song "cơn lốc" đổ vỡ tín dụng trong khoảng thời gian này đã làm tan rã
hầu hết số HTX tín dụng và quỹ tín dụng nói trên. Hàng nghìn tỷ đồng
không có khả năng thanh toán, hậu quả của nó rất nghiêm trọmg đối với
kinh tế xã hội và đến nay vẫn cha giải quyết dứt điểm đợc. Chính phủ và
ngân hàng nhà nớc đã phải trực tiếp can thiệp để làm dịu tình hình, giữ
vững ổn định kinh tế xã hội. Trong năm 1996, sau hơn 20 năm chúng ta
mới gặp lại trận lũ lịch sử trên khắp cả nớc. Thiên tai xảy ra ở 43 tỉnh,
thành phố, chỉ tính riêng thiệt hại về vật chất ớc tính trên 7. 283 tỷ đồng.
Thêm vào đó, từ năm 1997 đến nay, cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh h-
ởng sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một số nớc trong
Vũ Thị Hồng Lan -
17
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
18
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
Thực tế trên đây cho thấy việc ra đời một công ty BHTG ở Việt nam
đã trở thành nhu cầu bức xúc. Nó sẽ là chỗ dựa vững chắc để khắc phục rủi
ro tín dụng và làm lành mạnh hoạt động tín dụng của ngân hàng, giúp cho
thị trờng tài chính của ta phát triển ổn định hơn, từ đó tạo đà cho nền kinh
tế phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nớc nhanh hơn, đa nớc ta rút ngắn khoảng cách so với các nớc trong
khu vực cũng nh các nớc phát triển trên thế giới.
II. Thực trạng BHTG ở việt nam
1. Thực trạng về hoạt động BHTG ở Việt Nam hiện nay
Hệ thống ngân hàng ở Việt nam hiện nay là hệ thống ngân hàng hai
cấp, bao gồm ngân hàng nhà nớc và các ngân hàng thơng mại hoạt động
theo cơ chế thị trờng, tuan theo "pháp lệnh ngân hàng nhà nớc Việt Nam"
và " pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính". Hệ
thống các tổ chức tín dụng đã có một mạng lới rộng lớn, bao gồm ngân
hàng nhà nớc, 4 ngân hàng thơng mại quốc doanh, 51 ngân hàng cổ phần,
4 ngân hàng liên doanh với nớc ngoài, 2 công ty tài chính cổ phần, 1 quỹ
tín dụng nhân dân trung ơng, 5 quỹ tín dụng nhân dân khu vực, 900 quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở. Năm 1996 so với năm 1995, vốn huy động tiền gửi
của các ngân hàng tăng 659%, d nợ cho vay tăng 883%.
Để củng cố niềm tin của ngời gửi tiền đối với các quỹ tín dụng nhân
dân, tạo cơ sở cho các quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ổn định và phát
triển, ngày 1/ 3/ 1994 Bộ tài chính đã ban hành quyết định 101/ TCQĐ-BH
về quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các
khoản tiền gửi. Với quyết định này, lần đầu tiên nớc ta có một tổ chứclà
Vũ Thị Hồng Lan -
Vũ Thị Hồng Lan -
20
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
-Do đặc điểm phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam, hiện nay vốn
tiền gửi do 4 ngân hàng quốc doanh huy động đã chiếm khoảng 90% tổng
doanh số huy động trong toàn hiệp hội. Điều đó có nghĩa là quỹ bảo toàn
tiền gửi nếu đợc hình thành thì chủ yếu do 4 ngân hàng thơng mại quốc
doanh đóng góp, song nếu các ngân hàng quốc doanh có rủi ro thì quỹ sẽ
gặp khó khăn về vốn để đền bù, thập chí không thực hiện đợc vì doanh số
hoạt động của các ngân hàng quốc doanh rất lớn. Song, nếu các ngân hàng
khác gặp rủi ro thì quỹ sẽ thực hiện đền bù dễ dàng hơn. Đây chính là
điểm bất bình đẳng về lợi ích giữa các thành viên trong hiệp hội.
Cho đến nay, mặc dù tổ chức BHTG mới đợc thành lập vào tháng
7/2000 nhng trình độ chuyên môn cha cao, quy mô hoạt động vẫn còn nhỏ
hẹp, vốn tự có cha đủ sức đáp ứng nhu cầu BHTG đối với các ngân hàng
lớn mạnh.
Mặt khác đại bộ phận tiền gửi tại các ngân hàng thơng mại và các
TCTD cha đợc bảo hiểm. Số tiền đợc bảo hiểm mới chỉ là một bộ phận tiền
gửi tại các quỹ tín dụng nhân dân, tập trung chủ yếu tại các vùng nông
thôn và chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng số d tiền gỉ mà hệ thống
ngân hàng huy động trong toàn quốc.
Thêm vào đó, việc Bảo Việt BHTG cho các quỹ tín dụng nhân
dântheo quyết định 101/TCQ-BH với giới hạn chỉ bảo hiểm đối với tiền gửi
có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên. Trên thực tế số tiền gửi không kỳ hạn của cá
nhân và các tổ chức kinh tế xã hội là rất lớn nhng không đợc bảo hiểm,
điều đó sẽ hạn chế khả năng huy động vốn của các TCTD. Theo quy định
hiện hành Bảo Việt chỉ trả bồi thờng sau khi quỹ tín dụng tham gia bảo
hiểm ngừng hoạt động 1 tháng, và chỉ trả tiền gốc. Nh vậy, nếu là ngời gửi
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
a. Tổ chức kinh doanh BHTG
Tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính Nhà nớc, hoạt động dới sự
điều tiết của Thủ tớng Chính phủ, đợc nhà nớc cấp vốn điều lệ, hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí, có
t cách pháp nhân và đợc miễn nộp các loại thuế. Trong trờng hợp thiếu vốn
tạm thời, tổ chức BHTG phải báo cáo ngân hàng nhà nớc để ngân hàng nhà
nớc trình Thủ tớng Chính phủ xem xét cho phép tổ chức BHTG đợc vay từ
các TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ. Tuy nhiên, trong thời
gian đầu của bớc sơ khai thì ngân hàng nhà nớc có thể giúp đỡ BHTG nhng
về lâu dài ngân hàng nhà nớc không thể làm thay (vì đó là tác nghiệp cụ
thể của BHTG Việt Nam) không thuộc chức năng của ngân hàng nhà nớc.
b. Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí BHTG đợc điều chỉnh theo quyết định của Thủ tớng Chính phủ,
mức hiện hành là 0, 15%/ năm trên số d tiền gửi bình quân tại các tổ chức
tham gia BHTG, đợc nộp làm 4 lần trong năm tài chính. Có thể thấy rằng,
mức phí này áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng là cha hợp lý. Vì mức
độ rủi ro của mỗi loại hình tổ chức tín dụng có khác nhau, do mục đích và
tính chất hoạt động khác nhau, do trình độ quản trị, điều hành, kinh
nghiệm khác nhau. Ngân hàng thơng mại quốc doanh trung ơng với quy
mô huy động vốn của cá nhân có thể lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng, với
mức phí này thì phí bảo hiểm có thể lên đến con số rất lớn trong lúc mức
độ rủi ro của các cá nhân tại các ngân hàng này không đáng kể, ngợc lại ở
ngân hàng cổ phần thì cao hơn mhiều, quỹ tín dụng nhân dân do tính chất
giúp đỡ thành viên trong cộng đồng, hơn nữa mới ra đời nên rủi ro không
phải là ít, ngân hàng chính sách thì rủi ro có thể lớn hơn v. v. . . Thêm vào
đó, phí phạt đối với các trờng hợp nộp chậm là 0, 1% số tiền nộp chậm một
phải thấp thỏm lo âu!
Vũ Thị Hồng Lan -
24
- Lớp Bảo Hiểm 40B
Đề án kinh tế bảo hiểm
d. Đối tợng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính nhà nớc đợc thành lập
nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngời gửi tiền và góp phần
duy trì sự ổn định của các TCTD, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh trong
hoạt động ngân hàng. Chính vì vậy, đối tợng tham gia BHTG là tất cả các
TCTD và các tổ chức không phải là TCTD nhng đợc phép thực hiện một số
hoạt động ngân hàng theo quy định của luật các TCTD bắt buộc phải tham
gia BHTG.
e. Đối tợng đợc bảo hiểm
Theo điều 3 của NĐ 89/1999/NĐ-CP quy định " tiền gửi đợc bảo
hiểm là đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG"
nh vậy là:
-Đối tợng chính đợc điều chỉnh của NĐ này là cá nhân. Vậy thì tiền
gửi là đồng Việt Nam của các pháp nhân thì giải quyết nh thế nào? Các
ngân hàng thơng mại thì có quan hệ với các pháp nhân rất nhiều và họ có
một khối lợng tiền gửi khổng lồ. Nhng nếu theo quy định trên thì không đ-
ợc BHTG. Đây còn là vấn đề bất hợp lý và không công bằng trớc pháp luật.
Điều đó tất yếu sẽ hạn chế pháp nhân gửi vốn vào TCTD.
-Chỉ BHTG là đồng Việt Nam. Nh vậy tiền gửi ngoại tệ không đợc
bảo hiểm. Trong lúc đó NĐ63/1988 NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý
ngoại hối hiện hành thì cho phép: tổ chức cá nhân có ngoại tệ tiền mặt hợp
pháp đợc bảo đảm quyền sử dụng ngoại tệ của mình.