Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, các tổ chức tín dụng hoạt động đa
năng, đầy sôi động. Sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn diễn
ra hàng ngày cộng thêm sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá, lạm phát khiến
cho hoạt động ngân hàng trở nên vô cùng mạo hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi
ro.
ở các nớc kinh tế phát triển, rủi ro ngân hàng là điều không thể
tránh khỏi, ngân hàng đợc ví ngân hàng nh là một chỗ trũng cho rủi
ro ở mọi hớng đổ về. ở nớc ta, thực tế cho thấy hoạt động rủi ro trong
ngân hàng càng cao hơn, bởi lẽ: môi trờng kinh tế cha ổn định, kinh
nghiệm tiếp cận của các tổ chức tín dụng còn non yếu, tình trạng chạy
theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh không lành mạnh, kém văn
minh diễn ra khá phức tạp. Chính vì vậy, bất kỳ một nứơc nào cũng
phải có một hệ thống luật pháp và đa ra các biện pháp để quản lý,
điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, giữ cho hệ thống ngân hàng
hoạt động lành mạnh, an toàn và có hiệu quả. Từ thực tế trên cho
thấy, sự ra đời của tổ chức tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, nó
bảo vệ ngời gửi tiền và đảm bảo cho các tổ chức tín dụng hoạt động
một cách lành mạnh và hiệu quả.
Tuy nhiên, thị trờng bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vừa mới thành
lập (ttháng 7/2000) còn rất non trẻ, nhng đã từng bớc khẳng định vị
trí của mình trong nền kinh tế quốc dân và trong tơng lai thị trờng bảo
hiểm tiền gửi sẽ là một thị trờng đầy triển vọng với những tiềm năng đ-
ợc khai thác triệt để. Mặt khác, thị trờng bảo hiểm tiền gửi thế giới
cũng khá phát triển trong vài thập kỷ qua với nhiều hình thức khác
nhau. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu thật kỹ lỡng và đa
ra phơng hớng phát triển thị trờng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam sao
cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nớc và hoà nhập
với thị trờng bảo hiểm tiền gửi thế giới.
Trên cơ sơ đó, em chọn đề tài:
Bản thân ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng gây ra những rủi ro nh:
không chấp hành nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm quá trình xét
duyệt cho vay; không kiểm tra đợc việc sử dụng vốn của ngời vay; quá chú
trọng về lợi nhuận, đặt tiêu chuẩn về lợi nhuận lên trên các nguyên tắc, điều
kiện của tín dụng; việc xem xét cho vay không chuẩn xác nh cho vay sai mục
đích, chẳng hạn vay để đánh quả hoặc để đầu cơ tích luỹ hàng hoá chờ giá
tăng, cho vay không có biện pháp đảm bảo thích hợp.
Ngoài ra còn có nhuyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng nh có sự
thay đổi, điều chỉnh về chính trị, chính sách, chế độ luật pháp của Nhà nớc,
thay đổi địa giới hành chính của các địa phơng. . .
Những rủi ro tín dụng xảy ra có thể để lại hậu quả khôn lờng.
-Đối với kinh tế:hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên
quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanh
nghiệp, ngời gửi tiền. Nếu có rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc làm phá sản một
vài tổ chức tín dụng sẽ tạo tâm lý không an tâm đối với nhân dân, họ đua
nhau rút tiền làm phá sản hàng loạt ngân hàng và tổ chức tín dụng, làm cho
nhiều doanh nghiệp mất vốn làm ảnh hởng đến nền kinh tế nói chung.
-Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Rủi ro tín dụng ảnh hởng trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của họ nh: giảm lợi nhuận, thua lỗ hoặc mất
khả năng chi trả.
-Đối với khách hàng: có thể mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất
kinh doanh. . .
Để đối phó với những rủi ro tổn thất khong lờng trớc đợc do các rủi ro gây
ra, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhng biện pháp tốt nhất là bảo hiểm,
nghĩa là chuyển những rủi ro mà mình có thể gặp phải cho các tổ chức bảo
hiểm. Chính vì vậy, sự ra đời của bảo hiểm tiền gửi là một tất yếu khách
quan.
2. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là sự đảm bảo bằng vật chất đối với các khoản
ợc. Việc một tổ chức tín dụng bị phá sản có thể châm ngòi cho các TCTD
khác bị phá sản theo. Điều này có thể nhân rộng tới khi có một vụ hoảng loạn
ngân hàng dẫn tới cả hệ thông bị phá sản. Khi có một TCTD tham gia BHTG,
không những sẽ có tác dụng ngăn chặn sự vỡ nợ của một TCTD mà còn có
tác dụng ngăn chặn cả những vụ hoảng loạn ngân hàng, góp phần bảo vệ cho
cả hệ thống TCTD.
Thứ t: BHTG góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Với vai trò chuyển vốn từ
ngời có vốn đến ngời cần vốn, các TCTD đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
nhịp nhàng, hiệu quả. Khi hệ thống các tổ chức tín dụng mất ổn định, hoảng
loạn thì tác hại của nó với nền kinh tế cũng rất nghiêm trọng, có thể làm ng-
ng trệ, gián đoạn sản xuất gây mất trật tự an toàn xã hội. Thông qua vai trò
bảo vệ an toàn các TCTD cũng nh cả hệ thống TCTD, BHTG đã góp phần
quan trọng vào ổn định của nền kinh tế - xã hội.
Tóm lại, vai trò của BHTG rất quan trọng, nó không chỉ duy trì sự an toàn
cho các TCTD, bảo vệ ngời gửi tiền mà còn là động lực tạo đà cho nền kinh
tế phát triển nhịp nhàng, ổn định.
3. Sơ lợc về lịch sử ra đời và phát triển của BHTG
Lịch sử hoạt động ngân hàng trên thế giới cho thấy, BHTG trở thành vấn
đề tất yếu và dợc các nớc thực hiện từ rất lâu. Hệ thống quỹ tín dụng
Desjardins của Canada đợc thành lập từ năm 1900 tại Quebéc (Canada). Bên
ngoài hệ thông Desjardins, nhà nớc lập ra ba tổ chức: cơ quan bảo hiểm nông
nghiệp của Quebéc, cơ quan tín dụng và cơ quan BHTG của Quebéc. Nếu
tính từ năm 1933 (ở Mỹ), năm 1937 (ở Đức) và năm 1938 (ở Nauy) là những
nớc đã thành lập, tổ chức BHTG đã có gần 70 năm. nhng thời gian mà BHTG
phát triển mạnh nhất là thập kỷ 80, có trên 10 nớc đã lần lợt cho ra đời tổ
chức BHTG.
BHTG phát triển hết sức phong phú và đa dạng, ban đầu các nớc chỉ có tổ
chức bảo toàn tiền gửi nằm trong hệ thông ngân hàng, sau đó mới phát triển
thành tổ chức BHTG hoạt động tách biệt. Ngày nay, BHTG phát triển hết sức
bảo toàn tiền gửi của ba nhốm tổ chức tín dụng khác nhau: Nhóm tổ chức tiết
kiệm, các hợp tác xã tín dụng và các ngân hàng t nhân.
Có thể thấy rằng, BHTG phát triển tơng đối mạnh mẽ ở các nớc trên
thế giới qua các thời kỳ với nhiều hình thức và mô hình khác nhau cùng hoạt
động bổ sung, tơng hỗ cho nhau.
II. nội dung của bhtg
1. Đối tợng tham gia BHTG
Đối tợng tham gia bảo hiểm là các quỹ tín dụng nhân dân. Bảo hiểm chỉ
bảo hiểm trách nhiệm của quỹ đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn.
2. Phạm vi của BHTG
Trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng nh trong đời sống, con ngời
có thể gặp rủi ro nh: thiên tai, hoả hoạn, ốm đau, tai nạn. . . Đặ biệt trong nền
kinh tế thị trờng các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế ngoài các rủi ro trên
còn có thể gặp các rủi ro do quy luật cạnh tranh mang lại. Các rủi ro này có
thể làm doanh nghiệp bị phá sản.
Các ngân hàng thơng mại cũng nh các doanh nghiệp khác cũng có thể
gặp các rủi ro và hơn thế nã với hoạt động đặc biệt là kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ, hệ số rủi ro của các ngân hàng thơng mại cao hơn rất nhiều so với
các doanh nghiệp khác. Các chuyên gia ngân hàng đã đề cập rất nhiều đến
vấn đề rủi ro trong kinh doanh ngân hàng dới nhiều khía cạnh khác nhau. Có
những rủi ro khách quan do các hiện tợng thiên nhiên và xã hội diễn biến
phát triển phức tạp ngoài tầm kiểm soát của con ngời, khả năng dự tính, dự
báo của con ngời còn bị hạn chế, có những rủi ro chủ quan do sự bất cập của
con ngời, có những rủi ro do cơ chế, do đạo đức của cán bộ ngân hàng. Tuy
nhiên, không phải tất cả các loại rủi ro này đều đợc bảo hiểm. Chính vì vậy,
tổ chức BHTG đã quy định những rủi ro nào đợc bảo hiểm, những rủi ro nào
không đợc bảo hiểm.
a. Các rủi ro đợc bảo hiểm
Trong bảo hiểm tiền gửi các rủi ro sau đợc bảo hiểm:
chủ nợ đệ đơn lên toà án để có lệnh bắt buộc quỹ phải tuyên bố phá sản hay
thanh lý để trả nợ các chủ nợ cho rằng chỉ có cách này họ mới thu đợc nợ.
Lệnh của toà án cũng đợc áp dụng khi:
-Quỹ tín dụng không có phơng án hoà giải và có giải pháp tổ chức lại
hoạt động kinh doanh của quỹ theo yêu cầu của toà án.
-Quỹ tín dụng không tham gia hội nghị chủ nợ để trình bày các phơng
án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của quỹ tín
dụng.
-Trong thời hạn tổ chức lại kinh doanh, quỹ tín dụng vi phạm nghiêm
trọng những thoả thuận tại hội nghị của chủ nợ và các chủ nợ yêu cầu tuyên
bố phá sản.
-Hết thời hạn tổ chức lại kinh doanh mà quỹ tín dụng vẫn kinh doanh
khônh có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu toà án phải có tuyên bố phá sản
quỹ tín dụng.
b. Các rủi ro loại trừ
Những rủi ro loại trừ (không thuộc phạm vi bảo hiểm) là những rủi ro
gây ra sự phá sản, thanh lý hay giải thể một quỹ tín dụng trong các trờng
hợp:
Vi phạm nghiêm trọng các quy định về tiền tệ tín dụng, thanh toán
đã nêu trong pháp lệnh ngân hàng của quỹ tín dụng.
Quỹ tín dụng có điều lệ và quy chế hoạt động riêng nhng cũng phải
tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nớc. Nếu quỹ tín dụng vi phạm
nghiêm trọng các quy định về tiền tệ, tín dụng thanh toán của ngân hàng
dẫn đến phá sản thì bảo hiểm không bồi thờng.
Giải thể tự nguyện vì nguyên nhân
-Do cổ đông nhận thức thấy mục tiêu khi thành lập quỹ không đạt đợc.
-Do cổ đông muốn thu hồi lại vốn hoặc có nhu cầu cải tổ lại cơ cấu của
quỹ tín dụng.
hiểm và trả cho ngời bảo hiểm.
4. Các hình thức của BHTG
a. BHTG bắt buộc
Chính vì BHTG có vai trò quan trọng đặc biệt nên nó luôn là một bộ
phận trong chính sách quản lý vĩ mô của nhà nớc về tài chính tiền tệ của
mỗi quốc gia. ở hầu hết các nớc, việc tham gia BHTG của các TCTD là
bắt buộc theo pháp luật nh "luật BHTG ngân hàng của Canada", "Luật về
ngành tín dụng" của Đức, "Luật BHTG " của Nhật, "Luật DDO EF No 94-
6" của Pháp. . . Trong đó, luật quy định rất cụ thể buộc các ngân hàng và
các TCTD phải tham gia BHTG. Chẳng hạn, "Luật DDO EF No 94-6" của
Pháp thông qua ngày 08/08/1994 bắt buộc tất cả các TCTD đợc cấp giấy
phép hoạt động trên lãnh thổ của Pháp phải có nghĩa vụ tham gia vào hệ
thống BHTG. ở Việt Nam, tổ chức BHTG tuy mới đợc thành lập năm 2000
nhng nó cũng bắt buộc các ngân hàng và các TCTD phải tham gia.
b. BHTG tự nguyện
Ngoài hình thức BHTG ra, các TCTD và các ngân hàng còn tự lập cho
mình hệ thống bảo toàn tiền gửi nhằm tơng hỗ nghề nghiệp giữa các hội viên
ngân hàng. Đây cũng là một tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của ngời
gửi tiền tại các ngân hàng thơng mại, giữ cho hoạt động của hệ thống ngân
hàng luôn ổn định, và bảo vệ uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, đảm
bảo độ tin cậy của ngời gửi tiền vào các ngân hàng thơng mại. Quỹ của tổ
chức bảo toàn tiền gửi do các hội viên của hiệp hội ngân hàng tự nguyện
đóng góp. Chính vì vậy, việc tham gia tổ chức bảo toàn tiền gửi là không bắt
buộc mà mang tính tự nguyện.
Tóm lại, BHTG dù có tồn tại dới hình thức bắt buộc hay tự nguyện nó
đều có một mục tiêu là bảo đảm an toànvừa cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng, vừa cho ngời gửi tiền. Nó chỉ khác ở chỗ, ở hình thức BHTG thì
tiền gửi đợc bảo đảm trực tiếp, còn ở hình thức bảo toàn tiền gửi thì tiền gửi
lại đợc bảo đảm một cách gián tiếp.
ởng sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một số nớc trong
khu vực. Việt Nam là một trong số các nớc chịu ảnh hởng nhẹ của cuộc
khủng hoảng tiền tệ châu á. Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi ở các ngân hàng
thơng mại còn cao. Nguyên nhân do hệ thống tài chính- ngân hàng phát
triển không đồng bộ, còn lỏng lẻo trong quản lý ngân hàng cũng nh quản
lý vốn, cơ cấu đầu t cha hợp lý. Ngân hàng chi vay thế chấp bằng bất động
sản, khi thị trờng bất động sản Việt Nam suy giảm, nhiều doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, sản xuất kinh doanh không lờng hết đợc nhu cầu thị trờng
nên không tiêu thụ đợc hàng hoá. Doanh nghiệp trong nớc hiệu quả kinh
doanh thấp, khả năng tài chính và sự cạnh tranh yếu, việc mở rộng bảo
lãnh nhập hàng trả chậm, cho vay thanh toán đối ngoại tràn lan, khi doanh
nghiệp thua lỗ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thanh toán với nớc
ngoài. Rủi ro của khách hàng sẽ kéo theo sau là rủi ro của chính ngân
hàng. Vì vậy, rủi ro trong hoạt động tín dụng là điều dễ xảy ra hơn bất kỳ
lĩnh vực hoạt động kinh tế nào khác. Sự đổ vỡ trong hoạt động tín dụng sẽ
để lại những hậu quả mang tính dây chuyền và công phạt khôn lờng về
kinh tế, chính trị và xã hội. Nó liên quan đến lợi ích của nhà nớc và nhiều
tầng lớp dân c.
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, khi những tổ chức kinh doanh tiền
tệ, tín dụng ngoài quốc doanh nh các ngân hàng thơng mại cổ phần, các
HTX tín dụng, các quỹ tín dụng nhân dân mới bớc vào nghề thì mọi việc
còn quá sớm, niềm tin của khách hàng cha có là bao, trong khi đó d âm về
sự đổ vỡ hàng loạt HTX tín dụng trớc đây vẫn còn "ám ảnh" trong dân. Tr-
ớc tình hình đó, một vấn đề nghiêm túc đặt ra với nhà nớc và xã hội là tìm
những giải pháp hữu hiệu để đề phòng và ngăn chặn sự đổ bể, sự mất an
toàn của hệ thống ngân hàng, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng cho ngời
gửi tiền. Do đó, cách bảo toàn chọn vẹn, có hiệu quả nhất để đảm bảo cho
ngời gửi tiền là áp dụng biện pháp BHTG cho ngời gửi tiền đối với hệ
thống ngân hàng thơng mại và các TCTD.
nhiều hạn chế, đến cuối năm 1995 mới chỉ có 162 quỹ tín dụng tham gia
với sổ tiền bảo hiểm là 100 tỷ đồng, chiếm 33, 22% tiền gửi tại các quỹ tín
dụng nhân dân, và chỉ chiếm 0, 2% tổng số d tiền gửi tại các TCTD trong
cả nớc, cuối năm 1996 có 300 quỹ tham gia bảo hiểmvới số tiền bảo hiểm
hơn 854 tỷ đồng và cuối quý 1 năm 1997 có 370 quỹ tham gia với số tiền
bảo hiểm hơn 322 tỷ đồng. Hiện nay hiệp hội ngân hàng Việt Nam đang
chuẩn bị thành lập quỹ BHTG của hiệp hội. Nghiên cứu dự thảo Điều lệ
hoạt động quỹ BHTG của các TCTD Việt nam và quy chế hoạt động quỹ
bảo toàn tiền gửi của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, chúng ta thấy rằng:
-Quỹ BHTG là quỹ của các thành viên hiệp hội, có mục đích bảo vệ
an toàn cho các thành viên. Song quỹ là một tổ chức tơng hỗ, không có vốn
ban đầu, chỉ khi nào đi vào hoạt động các ngân hàng tham gia mới đóng lệ
phí nên nguồn vốn của qũy rất nhỏ bé, do đó nếu rủi ro lớn quỹ sẽ không
đủ vốn để thực hiện trách nhiệm đền bù của mình.
-Quỹ bảo toàn tiền gửi là một quỹ tơng hỗ nên việc đóng góp vốn lập
quỹ, đặc biệt là các khoản đong góp bất thờng sẽ bị ràng buộc bởi chế độ
tà chính của nhà nớc quy định.
-Quỹ bảo toàn tiền gửi của hiệp hội ngân hàng Việt Nam chỉ là quỹ
của các hội viên hiệp hội, do đó các chi nhánh nớc ngoài, các ngân hàng
liên doanh và các ngân hàng khác sẽ không đợc tham gia BHTG.
-Do đặc điểm phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam, hiện nay vốn
tiền gửi do 4 ngân hàng quốc doanh huy động đã chiếm khoảng 90% tổng
doanh số huy động trong toàn hiệp hội. Điều đó có nghĩa là quỹ bảo toàn
tiền gửi nếu đợc hình thành thì chủ yếu do 4 ngân hàng thơng mại quốc
doanh đóng góp, song nếu các ngân hàng quốc doanh có rủi ro thì quỹ sẽ
gặp khó khăn về vốn để đền bù, thập chí không thực hiện đợc vì doanh số
hoạt động của các ngân hàng quốc doanh rất lớn. Song, nếu các ngân hàng
khác gặp rủi ro thì quỹ sẽ thực hiện đền bù dễ dàng hơn. Đây chính là
điểm bất bình đẳng về lợi ích giữa các thành viên trong hiệp hội.
cha phát triển nh các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Nó vẫn trong thời gian thử
nghiệm và hoàn thiện dần cho phù hợp với điều kiện cũng nh hoàn cảnh
của đất nớc. Chính vì vậy, Chính phủ và ngân hàng nhà nớc cần coi hoạt
động BHTG là một mắt xích quan trọng trong chính sách tiền tệ quốc gia,
nó có vai trò đòn bẩy thu hút tiền gửi và đảm bảo tạo ra sân chơi bình đẳng
cho các ngân hàng thơng mại. Đồng thời phải có những quy định cụ thể về
các nội dung của BHTG.
2. Nội dung hoạt động nghiệp vụ BHTG áp dụng ở Việt Nam
a. Tổ chức kinh doanh BHTG
Tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính Nhà nớc, hoạt động dới sự
điều tiết của Thủ tớng Chính phủ, đợc nhà nớc cấp vốn điều lệ, hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí, có
t cách pháp nhân và đợc miễn nộp các loại thuế. Trong trờng hợp thiếu vốn
tạm thời, tổ chức BHTG phải báo cáo ngân hàng nhà nớc để ngân hàng nhà
nớc trình Thủ tớng Chính phủ xem xét cho phép tổ chức BHTG đợc vay từ
các TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ. Tuy nhiên, trong thời
gian đầu của bớc sơ khai thì ngân hàng nhà nớc có thể giúp đỡ BHTG nhng
về lâu dài ngân hàng nhà nớc không thể làm thay (vì đó là tác nghiệp cụ
thể của BHTG Việt Nam) không thuộc chức năng của ngân hàng nhà nớc.
b. Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí BHTG đợc điều chỉnh theo quyết định của Thủ tớng Chính phủ,
mức hiện hành là 0, 15%/ năm trên số d tiền gửi bình quân tại các tổ chức
tham gia BHTG, đợc nộp làm 4 lần trong năm tài chính. Có thể thấy rằng,
mức phí này áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng là cha hợp lý. Vì mức
độ rủi ro của mỗi loại hình tổ chức tín dụng có khác nhau, do mục đích và
tính chất hoạt động khác nhau, do trình độ quản trị, điều hành, kinh
nghiệm khác nhau. Ngân hàng thơng mại quốc doanh trung ơng với quy
mô huy động vốn của cá nhân có thể lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng, với
mức phí này thì phí bảo hiểm có thể lên đến con số rất lớn trong lúc mức
nợ của mình theo tỷ lệ tơng ứng. Thế thì dại gì họ gửi trên mức 30 triệu để
phải thấp thỏm lo âu!
d. Đối tợng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính nhà nớc đợc thành lập
nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngời gửi tiền và góp phần
duy trì sự ổn định của các TCTD, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh trong
hoạt động ngân hàng. Chính vì vậy, đối tợng tham gia BHTG là tất cả các
TCTD và các tổ chức không phải là TCTD nhng đợc phép thực hiện một số
hoạt động ngân hàng theo quy định của luật các TCTD bắt buộc phải tham
gia BHTG.
e. Đối tợng đợc bảo hiểm
Theo điều 3 của NĐ 89/1999/NĐ-CP quy định " tiền gửi đợc bảo
hiểm là đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG"
nh vậy là:
-Đối tợng chính đợc điều chỉnh của NĐ này là cá nhân. Vậy thì tiền
gửi là đồng Việt Nam của các pháp nhân thì giải quyết nh thế nào? Các
ngân hàng thơng mại thì có quan hệ với các pháp nhân rất nhiều và họ có
một khối lợng tiền gửi khổng lồ. Nhng nếu theo quy định trên thì không đ-
ợc BHTG. Đây còn là vấn đề bất hợp lý và không công bằng trớc pháp luật.
Điều đó tất yếu sẽ hạn chế pháp nhân gửi vốn vào TCTD.
-Chỉ BHTG là đồng Việt Nam. Nh vậy tiền gửi ngoại tệ không đợc
bảo hiểm. Trong lúc đó NĐ63/1988 NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý
ngoại hối hiện hành thì cho phép: tổ chức cá nhân có ngoại tệ tiền mặt hợp
pháp đợc bảo đảm quyền sử dụng ngoại tệ của mình.
Rõ ràng giữa NĐ 89/1999 NĐ-CP và NĐ 63/1988 có một nghịch lý!
Ngoại tệ không đợc bảo hiểm sẽ có tác động ngợc lại, không nhng không
khuyến khích tổ chức, cá nhân có ngoại tệ hợp pháp gửi, bán cho các
TCTD đợc phép kinh doanh ngoại hối hay cá nhân có ngoại tệ (không kể
nguồn gốc) gỉ tiền tiết kiệm vào ngân hàng, mà thậm chí còn tạo "sơ hở",
hợp với thực tế. Hơn nữa tính bắt buộc ở đây là đối với quỹ tín dụng nhân
dân nơi nhận tiền gửi. Họ phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn tiền gửi
cho khách hàng, chứ không phải bắt buộc ngời gửi tiền mua bảo hiểm; có
thể coi nh một "nguyên tắc" trong những "điều kiện cần và đủ" để quỹ tín
dụng nhân dân ra đời và hoạt động an toàn.
Trên thế giới ngay cả nớc tiên tiến, đã có nhiều kinh nghiệm trong
kinh doanh bảo hiểm nh Nhật, Pháp, Anh, Hà Lan. . cũng vẫn dùng hình
thức bảo hiểm bắt buộc với tiền gửi.
Nh vậy, việc dùng hình thức bảo hiểm bắt buộc hay tự nguyện trong
kinh doanh bảo hiểm tiền gửi là tuỳ thuộc điều kiện tình hình, đặc điểm,
trình độ tổ chức quản lý v. v. . của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức kinh doanh
tiền tệ tín dụng, không có một khuôn mẫu thống nhất cho mọi nớc.
3. Những điểm còn tồn tại thị trong thị trờng BHTG ở Việt Nam
Mặc dù BHTG có vai trò to lớn trong việc bảo vệ ngời gửi tiền và góp
phần làm sôi động thêm các hoạt động ngân hàng ở nớc ta. Tuy nhiên,
còn thấy một số điểm còn tồn tại sau:
Thứ nhất: đây là loại hình bảo hiểm, bảo hiểm bắt buộc và là tổ
chức bảo hiểm duy nhất, điều này sẽ nảy sinh sự bắt bình đẳng trong cơ
chế thị trờng và sự độc quyền.
Thứ hai: tỷ lệ phí bảo hiểm 0, 15% tính trên số tiền gửi bình quân
của các loại tiền gửi bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Theo nhiều ý
kiến (cả những ngời quan tâm và các TCTD) là cao và cha phù hợp với
tình hình thực tế, ảnh hởng đến hoạt động, đặc biệt trong trờng hợp các
TCTD vừa phải xử lý tồn tại cũ, vừa phải trích dự phòng rủi ro và nh vậy
sẽ ảnh hởng tới hoạt động thu chi tài chính và đời sống cán bộ, nhân viên
của TCTD. Đối với các tổ chức tín dụng nhà nớc hiện nay thì phí đóng
BHTG là lớn nhất, nhng việc bảo hiểm tiền gửi phải can thiệp thì hầu nh
ít xẩy ra do có những đặc thù riêng (năng lực huy động vốn thờng xuyên
dồi dào, do là ngân hàng của nhà nớc. . . ).