SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT QUỐC GIA NÓI CHUNG - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
LỚP NH10
Đề tài 1
SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ MỘT QUỐC GIA NÓI CHUNG
GIẢNG VIÊN : NGUYỄN TẤN HOÀNG
DANH SÁCH NHÓM:
1) Nguyễn Hữu Tùng
2) Phan Trường Vũ
3) Ngô Anh Khoa
4) Thới Mỹ Hạnh
5) Vũ Thị Ngọc
I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM:
1
1. Bản chất của bảo hiểm
Cơ chế hoạt động của bảo hiểm tạo ra một sự đóng góp của số đông
vào sự bất hạnh của số ít trên cơ sở quy tụ nhiều nguời có cùng rủi ro thành
cộng đồng nhằm phân tán hiệu quả tài chính của những vụ tổn thất. Như
vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan
hệ giữa các tổ chức bảo hiểm và nguời tham gia bảo hiểm mà là tổng thể các
mối quan hệ giữa những người tham gia trong cùng cộng đồng xoay quanh
việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm - một hình thức đặc biệt của các
khoản dự trữ bằng tiền.
Các mối quan hệ kinh tế phát sinh gắn với việc tạo lập và phân phối
quỹ bảo hiểm đuợc thể hiện ở hai mặt:
- Một là , chúng nảy sinh trong quá trình huy động phí bảo hiểm để
lập quỹ bảo hiểm. Nguồn thu hình thành quỹ bảo hiểm càng lớn
khi số luợng nguời tham gia bảo hiểm càng đông.
- Hai là, chúng nảy sinh trong quá trình huy động sử dụng quỹ bảo
hiểm. Quỹ bảo hiểm truớc hết đuợc sử dụng để bù đắp những tồn
thất cho nguời đuợc bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đuợc bảo hiểm

phải thích ứng với cơ chế thị truờng và phát huy vai trò ở mọi lĩnh vực khác
nhau.
Nhìn chung thì vai trò của bảo hiểm có thể đuợc xét ở hai khía cạnh :
kinh tế- xã hội và tài chính.
2.1. Khía cạnh kinh tế - xã hội:
Rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại các đối tuợng : của cải vật chất
do con nguời tạo ra và chính cả bản thân con ngưòi, làm gián đoạn quá trình
sinh hoạt của dân cư , ngưng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh
tế. Nói chung, nó làm gián đoạn và giảm hiệu quả và giảm hiệu qủa của quá
trình tái sản xuất xã hội.
Quỹ dự trữ bảo hiểm đuợc tạo lập truớc một cách có ý thức, khắc phục
hậu quả nói trên, bằng cách bù đắp các tổn thất phát sinh nhằm tái lập và
đảm bảo tính thuờng xuyên liên tục của các quá trình xã hội. Như vậy, trên
phạm vi rộng toàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai trò như một
công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động của mọi chủ thể
dân cư và kinh tế . Với vai trò đó, bảo hiểm khi thâm nhập sâu rộng vào mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội đã phát huy tác dụng vốn có của mình : thúc
đẩy ý thức đề phòng - hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội .
3
Bảo hiểm là môi truờng nghề nghiệp của một số luợng lớn lao động.
Lao động trong ngành bảo hiểm cùng với các ngành nghề khác tạo ra nhiều
giá trị gia tăng cho cả nền kinh tế , góp phần đáng kể vào tổng GDP của
quốc gia ( hầu hết các nuớc có nền kinh tế phát triển đều có tỷ trọng đóng
góp của bảo hiểm vào GDP khoảng 6 – 10%). Hoạt động bảo hiểm là một
trong những hoạt động có mối quan hệ với nhiều ngành nghề khác nhất.
Không những thế, ngày nay hoạt động bảo hiểm không chỉ huớng đến việc
phân phối lại về mặt gía trị mà còn huớng đến vai trò xã hội tích cực hơn,
trong việc chống lại những hậu quả bất hạnh của cuộc sống. Các chuơng
trình hỗ trợ của bào hiểm ngày càng phát triển và đa dạng, các hoạt động
mang tính chất cộng đồng thể hiện qua việc hỗ trợ tuyên truyền đề phòng

trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị truờng, đó là : tập trung, tích tụ vốn đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất được thuờng xuyên và liên tục , là một trong
những định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia.
II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM:
Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương
quang chung với sự phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nuớc, nhiều nhà
kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu
của bảo hiểm đối với nền kinh tế. Thực tế cho thấy, sự tồn tại của một thị
trường bảo hiểm mạnh là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh
tế thành công nào. Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương
tiện. Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử
dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư
vào các lĩnh vực khác. Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng
năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong
kinh doanh, trong cuôc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được
tăng cường.
1- Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất.
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và
cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo
hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của
các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục
khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho
người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người.
5
Mặc dù trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển cao,
nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều
cá nhân và gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong
gia đình, đặc biệt thành viên đó lại là người trụ cột bị chết hoặc bị thương tật
vĩnh viễn. Khi đó, gia đình phải chi phí mai táng, chôn cất, chi phí nằm viện,
thuốc men, chi phí phẫu thuật và bù đắp những khoản thu thường xuyên bị

tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ
tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi
ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, sự tham gia là
bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước
cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết
và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ,
nam - nữ, lao động phổ thông - lao động kỹ thuật, người khoẻ - người yếu
mà tất cả đều phải tham gia đóng góp vì mục đích chung. Mô hình này của
Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ
và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ
hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi
và vùng Caribê. BHXH dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản của hệ thống
An sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền
con người.
Có thể nói, qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề
của giới chủ và giới thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xã
hội, cùng với trình độ chuyên môn và nhận thức về BH của người lao động
ngày càng được nâng cao, cách thức chủ động khắc phục khi có những sự
kiện hoặc không may gặp những rủi ro xảy ra ngày càng hoàn thiện. Tuy
nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng như
những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất.
Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quá
trình phát triển: sự chia sẻ. Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách
quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải
tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH.
3- Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn
lớn để đầu tư vào lĩnh vực khác
Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh người ta luôn phải tính đến
những rủi ro có thể gặp phải, và luôn muốn chủ động trong tình uống xấu
nhất. Việc khắc phục rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một

thu nhập tuổi già của mình và khoản này chiếm 20% thu nhập hàng tháng
của họ.
Hơn nữa hoạt động đầu tư cũng chi phối chiến lược thiết kế sản phẩm và
tính phí bảo hiểm của công ty và đóng một vai trò nhất định trong quan hệ
với khách hàng .Lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư sẽ quyết định đến
các sản phẩm bảo hiểm của công ty. Nếu thu nhập của hoạt động đầu tư cao
8
sẽ giúp sản phẩm đưa ra hấp dẫn hơn đối với khách hàng về phí, về lãi đầu
tư…trong khi tỷ lệ lãi đầu tư thấp có thể làm cho các sản phẩm kém cạnh
tranh và có thể dẫn đến mất khách hàng.
Ngoài việc là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt
nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm thì bảo
hiểm còn góp phần chống lạm phát. Xét về mặt sản phẩm, tất cả sản phẩm
của BHNT đều có khả năng chống lại ảnh hưởng của lạm phát vì khi tính phí
bảo hiểm, công ty bảo hiểm đã áp dụng một tỷ lệ chiết khấu phí (lãi kỹ
thuật), phần lãi này sẽ bù đắp lại phần trượt giá. Khi tham gia BHNT, khách
hàng có thể yên tâm về giá trị đồng tiền vì khi tham gia bảo hiểm, số tiền
nộp phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (NTGBH) không phải là tiền
“chết” mà là tiền “đẻ” ra tiền. Số phí bảo hiểm mà NTGBH đóng được công
ty bảo hiểm đem đầu tư và lãi đầu tư được trả lại cho NTGBH dưới hình
thức chiết khấu phí (tính lãi cho phí bảo hiểm đóng ), ngoài ra còn dưói hình
thức lãi chia (bảo tức ). Thông thường, do thực hiện đa dạng hoá đầu tư nên
lãi suất đầu tư của các Cty BHNT thường cao hơn lãi suất tiết kiệm tiền gửi
Ngân Hàng (và cao hơn tỷ lệ lạm phát), như vậy NTGBH được hưởng lãi
suất dương từ số phí đóng, tức là bảo toàn và tăng được giá trị của khoản
tiền đóng phí bảo hiểm. Một điều cũng cần lưu ý là, khi tham gia bảo hiểm
và đóng phí định kỳ, không phải toàn bộ số phí đóng phải chịu ảnh hưởng
của lạm phát tương ứng với thời hạn bảo hiểm mà từng phần phí đóng sẽ
chịu ảnh hưởng trong những thời hạn khác nhau. Qua đó, chúng ta thấy vai
trò to lớn của BHNT trong việc kìm hãm lạm phát.

bảo hiểm Việt Nam nói chung và bản thân các công ty bảo hiểm trong nước
nói riêng cũng phải giải quyết những bài toán hết sức khó khăn:
1. Số lượng các DNBH được cấp phép hoạt động ngày một gia
tăng và biến động về nhân sự đặc biệt là nhân sự cao cấp giữa các
DNBH
Các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước nếu đủ điều kiện thao luật
định đều có quyền xin phép thành lập DNBH, trong đó có các DNBH nước
ngoài theo đúng cam kết WTO. Điều này gần như đương nhiên vì tiềm năng
và cơ hội phát triển của thị trường BH nhân thọ và phi nhân thọ còn đầy hứa
hẹn, tốc độ tăng trưởng của ngành BH tương đối hấp dẫn, BH còn được
dùng dự phòng nghiệp vụ BH vào đầu tư tài chính có khả năng sinh lời cao.
Tuy nhiên, việc có nhiều DNBH ra đời làm cho thị phần của các công ty bảo
hiểm bị chia sẻ. Miếng bánh thị phần tại thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện
10
đang được ba doanh nghiệp lớn là Prudential (40%), Bảo Việt (34%),
Manulife (10%) nắm giữ, (theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam), nhưng nhiều
doanh nghiệp “chiếu dưới” vẫn tự tin trong việc tìm cho mình một phần
đáng kể của chiếc bánh. Trong thời gian qua, một điều có thể nhận thấy, thị
phần bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng đang có sự thay
đổi khá rõ nét. Theo một ước tính sơ bộ của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam,
năm 2009 Prudential tiếp tục dẫn đầu thị trường về doanh thu phí bảo hiểm
khai thác mới với 31%, Bảo Việt đứng thứ hai với 28%, Manulife đứng thứ
ba với 10%. ACE Life và AIA Life hiện đang theo sát nhau ở vị trí thứ tư và
thứ năm với khoảng 9% dành cho mỗi công ty. Dai-ichi Life Việt Nam
chiếm khoảng 7%, Prevoir khoảng 2%. Ba công ty còn lại là Cathay Life,
Great Eastern và Korea Life chiếm dưới 4%.
Do thị trường bảo hiểm Việt Nam còn nhiều tiềm năng phát triển,
đồng thời khách hàng ngày càng có nhiều lựa chọn hơn, nên việc các công ty
bảo hiểm cũ bị mất thị phần về các công ty bảo hiểm mới gia nhập thị trường
là điều bình thường. Chẳng hạn khi Dai-ichi Life Việt Nam mua lại Bảo

- Lực lượng môi giới quá mỏng và phạm vi hoạt động còn hạn chế.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có xu hướng sử dụng lực lượng
bán hiện có hơn là đào tạo mới hoặc chuyển đổi hình thức kênh phân phối.
- Năng lực đáp ứng nhu cầu dịch vụ có chất lượng hoàn hảo của các doanh
nghiệp bảo hiểm chậm hơn tốc độ phát triển của thị trường nên chưa kịp
hoàn thiện và chuyển giao công nghệ cho đại lý.
- Do chưa kịp đầu tư cho lực lượng phân phối sản phẩm trước tình hình tăng
trưởng đột biến đội ngũ đại lý ở lĩnh vực phi nhân thọ không đáp ứng được
nhu cầu của thị trường.
Hệ quả là:
- Làm cho nhu cầu thị trường bị lệch hướng
- Làm thay đổi nhãn quan xã hội về một nghề nghiệp có nhiều đóng góp cho
nền kinh tế
- Những mục tiêu kinh tế xã hội của nhà nước trở nên kém hiệu quả.
Do đó đây sẽ là thách thức lớn đối với những người làm nhiệm vụ
phân phối sản phẩm bảo hiểm. Họ phải luôn thay đổi để thích nghi, luôn tự
hoàn thiện và trở nên chuyên nghiệp hơn trong suy nghĩ của khách hàng.
Không phải bất cứ ai cũng làm cho khách hàng cảm nhận được nhu cầu sử
dụng những tiện ích mà dịch vụ bảo hiểm có thể cung cấp. Việc này đòi hỏi
anh ta phải am hiểu hoàn cảnh và những mong muốn trong tương lai của
khách hàng mà anh ta muốn thuyết phục. Người đại lý bảo hiểm cần có
những kĩ năng riêng vượt trội so với người làm công việc phân phối sản
phẩm tiêu dùng khác. Nói một cách khác, đại lý bảo hiểm luôn phải đối mặt
với quy luật tự đào thải. Ngoài ra thách thức đối với người làm nhiệm vụ
phân phối bảo hiểm còn ở chỗ hành lang pháp lý bảo vệ người đại lý chưa
được mức độ có thể yên tâm hành nghề.

12
4. Đầu tư công nghệ thiếu đồng bộ, kém hiệu quả, trình độ nhân viên
còn yếu kém.

giữa các chi nhánh trong cùng một DNBH. Chính vì vậy, việc quan tâm
chăm sóc khách hàng cung cấp dịch vụ gia tăng bổ sung cho khách hàng
cũng bị hạn chế.
13
Ở Việt Nam hiện nay, 2 dòng sản phẩm đang có sự cạnh tranh về phí
gay gắt nhất phải kể đến là bảo hiểm xe cơ giới và tai nạn con người bởi vì
đây là 2 nghiệp vụ có số đông và chiếm phần lớn doanh thu của các doanh
nghiệp (trên 40%). Mức phí áp dụng cho bảo hiểm xe cơ giới và tai nạn cá
nhân tại Việt Nam giảm khoảng 30 - 40% và thấp hơn mức phí bình quân
của các nước trong khu vực khoảng 50%.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cảnh báo, hạ phí bảo hiểm thì dễ nhưng
tăng phí là việc vô cùng khó khăn, một doanh nghiệp bảo hiểm tăng phí đi
liền với giảm doanh thu, mất khách hàng, nếu đồng loạt tăng phí thì vi phạm
Luật Cạnh tranh.
Năm 2009, tổng số lỗ của toàn thị trường ngành Bảo hiểm là 264 tỷ
đồng, giảm 105,9 tỷ đồng so với năm 2008. 16 trong tổng số 27 doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang hoạt động trên thị trường hiện nay, đã lỗ
hoạt động kinh doanh bảo hiểm, 1 doanh nghiệp không đảm bảo khả năng
thanh toán theo quy định. Thậm chí, lĩnh vực bảo hiểm thân tàu biển năm
thứ 9 vẫn lỗ.
Tại hội nghị ngành bảo hiểm 2010 diễn ra vào cuối tháng 3 vừa qua,
bức tranh về cạnh tranh bảo hiểm đã được nhiều doanh nghiệp phác họa khá
đầy đủ và phong phú Đặc biệt trong lĩnh vực phi nhân thọ, do hoạt động
chưa chuyên nghiệp, chạy theo doanh thu nên một số doanh nghiệp cạnh
tranh bằng mọi cách để giành dịch vụ, không chú ý đánh giá rủi ro, tính phí
bảo hiểm và thu xếp tái bảo hiểm, nên đã lỗ từ hoạt động kinh doanh bảo
hiểm. Các doanh nghiệp lâm vào tình cảnh đó, được lãnh đạo Cục nêu tên
như: AAA, Bảo hiểm Hàng không, Bảo Minh, ABIC, Bảo hiểm Than -
Khoáng Sản, Liberty, Chartis, MSIG, Fubon, ACE và Groupama.
Những nghiệp vụ có doanh thu phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

quy định chưa phù hợp, bổ sung còn quy định còn thiếu hoặc chưa rõ ràng,
cụ thể:
1.1.1 Điều chỉnh những quy định chưa hợp lý và chưa rõ ràng
Cần nghiên cứu lại các quy định về thuế VAT. Mục tiêu phát triển của
ngành bảo hiểm không phải chỉ nhằm tăng doanh thu phí bảo hiểm, mà quan
trọng hơn là tăng tỉ lệ doanh thu phí bảo hiểm giữ lại trong nước, để đầu tư
15
trở lại nền kinh tế. Do đó, việc áp dụng thuế suất VAT 0% đối với việc tái
bảo hiểm trong nước cũng là một cách khuyến khích các công ty bảo hiểm
giữ lại phí bảo hiểm trong nước.
Vấn đề về chi phí quảng cáo cũng cần được cân nhắc. Có thể việc quy
định trần chi phí quảng cáo 10% trên tổng chi phí như áp dụng đối với các
ngành công nghiệp, dịch vụ khác là chưa hợp lý. Một công ty bảo hiểm với
kỹ năng đánh giá và quản lý rủi ro tốt thường có chi phí bồi thường thấp
hơn. Với trần chi phí quảng cáo 10% trên tổng chi phí, các công ty được
quản lý tốt sẽ bị kém lợi thế hơn do giới hạn chi phí quảng cáo của họ sẽ
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh khác.
Các quy định về chấm dứt hợp đồng và hợp đồng vô hiệu cần được rà
soát lại nhằm đảm bảo việc áp dụng các quy định được rõ ràng và chính
xác. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và hợp đồng
vô hiệu hoàn toàn khác nhau, do đó việc cung cấp sai thông tin để giao kết
hợp đồng bảo hiểm không thể dẫn đến hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng
hoặc hợp đồng vô hiệu.
1.1.2 Bổ sung các quy định còn thiếu
Yêu cầu trình độ, kinh nghiệm của lãnh đạo công ty bảo hiểm cần
được quy định rõ ràng. Cần phải có quy định cụ thể những vị trí nào cần đáp
ứng tối thiểu những yêu cầu gì về trình độ, kinh nghiệm.
Mặc dù việc chuẩn hoá các điều khoản và điều kiện của hợp đồng bảo
hiểm có thể gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường, nhưng việc chuẩn hoá
các thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng bảo hiểm và các tài liệu đi kèm là hết

bảo hiểm bởi các công ty bảo hiểm chịu trách nhiệm pháp lý về trách nhiệm
đã cam kết nhưng lại không có đủ năng lực để bảo hiểm những rủi ro này.
Nếu loại hình kinh doanh này phát triển nhiều, sự phát triển lành mạnh của
thị trường có thể sẽ bị ảnh hưởng.
Mọi quy định pháp lý về bảo hiểm bắt buộc nên được quy định rõ
ràng trong một số văn bản pháp luật nhất định. Cần có sự kết hợp giữa các
cơ quan chức năng khác nhau để đảm bảo hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt
động bảo hiểm của các ngành khác nhau như xây dựng, vận tải biển, cháy
nổ dễ hiểu hơn, rõ ràng hơn và việc thi hành luật được chặt chẽ hơn.
Vấn đề một công ty bảo hiểm rút lui khỏi thị trường hoặc trở nên mất
khả năng thanh toán cần được quy định chi tiết và cụ thể hơn. Các quy định
hiện hành có đề cập tới việc chuyển giao các hợp đồng bảo hiểm, nhưng
17
không đề cập cụ thể tới trường hợp một công ty bảo hiểm chủ động chấm
dứt hoạt động trên thị trường. Luật cũng liệt kê những biện pháp nhằm phục
hồi khả năng thanh toán của một công ty bảo hiểm, việc thành lập ban giám
sát nhằm kiểm soát các công ty mất khả năng thanh toán, nhưng chưa quy
định cụ thể các biện pháp này cần được thực hiện thế nào, ban giám sát được
thành lập và hoạt động ra sao. Luật cũng dẫn chiếu đến Luật Phá sản Doanh
nghiệp, nhưng công ty bảo hiểm không giống như bất kỳ công ty nào khác.
Quyền lợi của người mua bảo hiểm phải được ưu tiên bảo vệ. Áp dụng thủ
tục phá sản doanh nghiệp thông thường, thứ tự ưu tiên nhận thanh toán có
thể không đảm bảo được quyền lợi của người mua bảo hiểm. Do đó cần rà
soát kỹ các văn bản pháp lý có liên quản để đảm bảo các nguyên tắc của
Luật Phá sản Doanh nghiệp vẫn được tuân thủ, trong khi quyền lợi của
người mua bảo hiểm vẫn được bảo vệ tối đa.
Cần xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ cho các hoạt động điều tra tư
nhân và điều tra dân sự để các doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện chủ động
hơn về mặt thị trường. Các kết quả của hoạt động điều tra tư nhân và điều tra
dân sự cần phải được pháp chế hóa cụ thể để có giá trị pháp lý làm cơ sở cho

hiểm, việc đưa vào các sản phẩm mới, các thuật ngữ mới, các phương thức
kinh doanh mới, một mặt sẽ đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế, của
ngành và của người tiêu dùng, nhưng mặt khác cũng làm nảy sinh các biểu
hiện cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, sự mâu thuẫn giữa các
công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm.
Do đó, để có thể điều tiết thị trường một cách hiệu quả và bảo vệ
quyền lợi của các khách hàng thiếu kinh nghiệm, song song với việc tổ chức
các khoá đào tạo hay gửi cán bộ đi đào tạo ở trong nước, nước ngoài, các cơ
quan quản lý cần phải tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan
quản lý nhà nước ở các nước khác, tăng cường đối thoại với hiệp hội bảo
hiểm và với các doanh nghiệp bảo hiểm. Cho đến nay, công việc này đang
được thực hiện tương đối tốt và cần tiếp tục duy trì. Việc tuyển dụng các
nhân viên trước đây từng làm việc ở các công ty bảo hiểm nước ngoài vào
làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước cũng nên được khuyến khích.
Bên cạnh đó, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, ứng dụng côngnghệ thông tin vào
quản lý cần được chú trọng, nhằm đảm bảo việc cập nhật và xử lý kịp thời
các diễnbiến trên thị trường.
19
1.4 Xây dựng hệ thống thu thập, lưu trữ, xử lý, chia sẻ số liệu thống kê
bảo hiểm và cơ chếcung cấp thông tin cho các doanh nghiệp bảo hiểm
Khác với các ngành khác, ngành bảo hiểm hoạt động dựa trên số liệu
thống kê được thu thập trong mộtthời kỳ dài. Một mặt, ngành bảo hiểm với
lịch sử phát triển ngắn chưa thể xây dựng một cơ sở dữ liệuđầy đủ phục vụ
hoạt động của các công ty bảo hiểm và các cơ quan quản lý nhà nước. Mặt
khác, hoạtđộng thu thập số liệu thống kê tại Việt Nam chưa được thực hiện
tốt so với các quốc gia khác. Đồng thờicơ chế để các cơ quan quản lý nhà
nước cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp bảo hiểm cũngchưarõ ràng.
Do dó, đây là một đòi hỏi cấp bách của ngành bảo hiểm Việt Nam.
Tuy nhiên, việc xây dựng được hệthống này là hết sức khó, không chỉ từ góc
độ tài chính, mà còn từ góc độ mức độ tự nguyện của cácdoanh nghiệp tham

minh bạch thấp nên việc đầu tư cổ phiếu chưa thu hút được nhà đầu tư,
đặcbiệt các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, đa số các công ty bảo hiểm tập
trung vào trái phiếu Chính phủ,tiền gửi ngân hàng. Một số nghiên cứu khác
cho thấy, trong tương lai, tại Việt Nam, ngân hàng sẽ khôngcòn đủ sức đáp
ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, và thị trường vốn cần phải được cải
thiện nhằmđảm bảo đủ vốn cho sự phát triển của nền kinh tế.
Do đó, trong bối cảnh phát triển này, sự cải thiện của thị trường chứng
khoán, việc cải thiện các quy địnhpháp lý, nỗ lực của các công ty bảo hiểm
cần phải được tiến hành đồng thời nhằm dẫn vốn từ các côngty bảo hiểm tới
các nhà đầu tư thông qua thị trường chứng khoán, và mặt khác, biến thị
trường chứngkhoán thành nơi cung cấp các cơ hội đầu tư tốt cho các công ty
bảo hiểm.
1.6 Đào tạo nhân sự chất lượng cao phục vụ ngành bảo hiểm
Nguồn nhân lực hiện nay mới chỉ đáp ứng được nhu cầu của thị
trường ở mức độ trung bình. Phân tíchcho thấy vẫn còn khoảng cách tương
đối lớn giữa kiến thức sinh viên được học ở trường đại học vàcông việc thực
tế khi đi làm. Sẽ không thực tế khi yêu cầu các sinh viên mới tốt nghiệp có
thể đảmđương ngay các công việc, tuy nhiên nghiên cứu cho thấy chương
trình đào tạo tại các trường đại họcvẫn còn chưa bám sát nhu cầu của ngành,
vẫn còn nặng các môn học về bảo hiểm bắt buộc, trong khinhu cầu về kiến
thức về bảo hiểm thương mại lớn hơn rất nhiều.
21
Do đó, việc đào tạo nhân sự cho ngành bảo hiểm vẫn phải được cải
cách cơ bản từ các trường đại học.Chính Phủ (thông qua Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Tài chính) cần chỉ đạo các tổ chức đào tạo này chđộng tìm kiếm
các cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp bảo hiểm để sinh viên có nhiều cơ
hội thực hànhhơn, nội dung giảng dạy phù hợp hơn với nhu cầu của ngành.
Việc liên kết đào tạo với các tổ chức đàotạo bảo hiểm, hiệp hội bảo hiểm của
nước ngoài cũng cần được khuyên khích hơn nữa.
2. Các khuyến nghị đối với các công ty bảo hiểm

(chuẩn hoá các quy trình, tiết kiệm thời gian cho từng công việc ), bởi đây
lànhững cơ sở vững chắc cho sự phát triển trong tương lai. Tất nhiên, không
có doanh thu cao, khôngcông ty nào có thể đầu tư, kể cả để phát triển nguồn
nhân lực hay phục vụ những mục đích khác. Tuynhiên, các công ty cần tự
xác định cho mình một thế cân bằng để không bị kiệt sức khi bước vào một
giaiđoạn mới của cạnh tranh.
Dưới đây là một số khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện khả năng cạnh
tranh của các công ty bảo hiểm.
2.2 Xây dựng văn hoá phục vụ khách hàng
Các phân tích cho thấy nhiều công ty bảo hiểm trong nước chưa xây
dựng được văn hoá phục vụ kháchhàng, trong khi các công ty nước ngoài,
thừa hưởng văn hoá này từ công ty mẹ, đang phát triển nó rấtthành công tại
Việt Nam. Trong khi các công ty nước ngoài chuẩn hoá mọi quy trình công
việc, tạo điềukiện thuận lợi cho khách hàng khi có thắc măc, khi thanh toán
phí bảo hiểm, khi yêu cầu thông tin, khiyêu cầu bồi thường Ngược lại, các
công ty trong nước mặc dù hiểu tầm quan trọng của các quy trình này, lại
chưa có một chiến lược phù hợp và một kế hoạch hành động để thực hiện
nó. Các công ty nướcngoài yêu cầu nhân viên của mình làm theo những quy
trình cụ thể khi phục vụ khách hàng, còn cáccông ty trong nước lại phụ
thuộc vào sự năng động của các cá nhân nhân viên trong việc phục vụ
kháchhàng. Điều này cũng gây ra một số vấn đề, bởi không phải mọi nhân
viên nào đều năng động như nhau khi làm việc với khách hàng. Do đó, nếu
có một nhân viên nào đó không năng động, sẽ không có cơ chếđể buộc họ
phải tuân theo và việc chăm sóc khách hàng sẽ không được đảm bảo.
Do đó, các công ty trong nước cần nâng cấp hệ thống và chương trình
đào tạo của mình nhằm cung cấptốt hơn các dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Nhân viên bán hàng có thể hỗ trợ rất tốt khách hàng, nhưngnhư thế vẫn chưa
đủ. Các công ty cần phải đặt mình vào vị trí của khách hàng để đánh giá
phương thứcphục vụ khách hàng của mình nhằm xác định những khâu cần
23

đồng bởi phần lớn các dự án này được tàitrợ bởi vốn ngân sách, và chỉ các
công ty bảo hiểm trong nước được cung cấp các dịch vụ bảo hiểm chonhững
24
dự án này. Sau khi ký kết hợp đồng, các công ty bảo hiểm trong nước tái lại
cho các công ty táibảo hiểm ở nước ngoài và phần lớn doanh thu phí bảo
hiểm đều được tái ra nước ngoài. Các công ty bảo hiểm trong nước chỉ lưu
lại một phần phí nhỏ.
Khi các rào cản đối với các nhà cung cấp nước ngoài được xoá bỏ
theo yêu cầu của tự do hoá thì cáccông ty trong nước sẽ mất phân đoạn thị
trường này. Do đó, các công ty trong nước cần ngay lập tứchọc hỏi các kỹ
năng (thông qua đào tạo, tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài), thu thập số
liệu thống kê để chuẩn bị cho tương lai bởi những công việc này đòi hỏi rất
nhiều thời gian.
2.5 Xây dựng hệ thống thu thập, lưu trữ, xử lý số liệu thống kê
Mặc dù hoạt động thống kê chỉ có thể được tiến hành nếu có sự phối
hợp ở mọi cấp, từ Chính phủ,xuống ngành, xuống các công ty, và cần có một
tổ chức đứng ra điều phối hoạt động thu thập số liệu nàyở mọi cấp, các công
ty bảo hiểm cần tích cực trong hoạt động này bởi đây là vấn đề thiết yếu đối
với mọicông ty.
2.6 Ứng dụng công nghệ thông tin
Các công ty bảo hiểm trong nước bị tụt hậu rất xa so với các đối thủ
cạnh tranh nước ngoài trong lĩnhvực ứng dụng công nghệ thông tin. Cho tới
nay, chưa có một công ty bảo hiểm trong nước nào có phần mềm bảo hiểm
chuyên biệt mặc dù các công ty đều nhận thấy tầm quan trọng của yếu tố
này. Các công ty trong nước cần giải quyết vấn đề này ngay lập tức. Cần
phải có một chiến lược công nghệ thông tin rõ ràng nhằm thích ứng với
những thay đổi trong tương lai. Trong môi trường kinh doanh ngày nay,
công nghệ thông tin là xương sống của mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Công nghệ thông tin hỗ trợ giảmchi phí lao động, làm cho hoạt động hiệu
quả hơn và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status